Sergio Ramos

Cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha

Sergio Ramos García (phát âm tiếng Tây Ban Nha[ˈseɾxjo ˈramoz ɣaɾˈθi.a]; sinh ngày 30 tháng 3 năm 1986) là một cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha. Anh thi đấu ở vị trí trung vệ cho câu lạc bộ Paris Saint-Germain tại Ligue 1Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha. Anh ấy chơi ở vị trí trung vệ cho Real Madrid trong 16 mùa giải, [3] nơi mà anh là đội trưởng trong sáu mùa giải. [4] [5] Ramos đã từng chơi ở vị trí hậu vệ phải trước đó trong sự nghiệp của mình. [6] Được biết đến với khả năng ghi bàn và kỹ năng lãnh đạo, anh được nhiều người coi là một trong những hậu vệ và đội trưởng vĩ đại nhất trong lịch sử thể thao. [7][8] [9] [10] [11] [12]

Sergio Ramos
Russia-Spain 2017 (6).jpg
Sergio Ramos trong màu áo Real Madrid năm 2019
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Sergio Ramos García[1]
Ngày sinh 30 tháng 3, 1986 (35 tuổi)[2]
Nơi sinh Camas, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,84 m (6 ft 0 in)[2]
Vị trí Trung vệ
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Paris Saint-Germain
Số áo 4
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1996–2003 Sevilla
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2003–2004 Sevilla B 26 (2)
2004–2005 Sevilla 50 (3)
2005–2021 Real Madrid 469 (72)
2021– Paris Saint-Germain 0 (0)
Đội tuyển quốc gia
2002 U-17 Tây Ban Nha 1 (0)
2004 U-19 Tây Ban Nha 6 (0)
2004 U-21 Tây Ban Nha 6 (0)
2005– Tây Ban Nha 180 (23)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải vô địch quốc gia và chính xác tính đến 13 tháng 3 năm 2021
‡ Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia và số bàn thắng chính xác tính đến 31 tháng 3 năm 2021

Sau khi nổi lên thông qua lò đào tạo trẻ của Sevilla và trải qua hai mùa giải với đội 1, Ramos chuyển đến Real Madrid vào mùa hè năm 2005. Kể từ đó, anh trở thành là trụ cột của Real Madrid, và đã giành được 22 danh hiệu lớn, bao gồm 5 chức vô địch La Liga và 4 danh hiệu UEFA Champions League, trở thành một trong những tay săn bàn hàng đầu của La Liga từ vị trí phòng ngự. Anh ấy đóng vai trò quan trọng trong việc giành bốn chức vô địch UEFA Champions League, và luôn lọt vào trong Đội hình tiêu biểu của các mùa giải đó. Anh cũng là người ghi bàn gỡ hòa quan trọng ở phút thứ 93 của Chung kết UEFA Champions League 2014. [13] [14]

Ramos đã được chọn vào đội hình FIFPro World XI mười một lần, một kỷ lục cho một hậu vệ, và nhiều thứ ba mọi thời đại. Anh ấy cũng đã được bầu chọn vào UEFA Team of the Year 9 lần, cũng là kỷ lục cho một hậu vệ và nhiều thứ ba trong lịch sử. Ngoài ra, Ramos đã đạt kỷ lục Hậu vệ xuất sắc nhất La Liga năm lần. Năm 2021, anh gia nhập Paris Saint-Germain theo dạng chuyển nhượng tự do.

Trên bình diện quốc tế, Ramos đã đại diện cho Đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha tại bốn kì World Cup và ba European Championships. Anh ấy đã giành được FIFA World Cup 2010UEFA European Championship vào các năm 2008 2012, được chọn vào đội hình All-Star Team vào năm 2010 và UEFA Euro Team of the Tournament vào năm 2012. Anh ấy đá trận đầu tiên cho Tây Ban Nha ở độ tuổi 18 tuổi và vào năm 2013, anh trở thành cầu thủ trẻ nhất của quốc gia có 100 lần khoác áo khoác áo đội tuyển. [15] Ramos hiện giữ kỷ lục là cầu thủ khoác áo nhiều nhất và là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ 8 mọi thời đại trong lịch sử của đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha . Anh cũng giữ kỷ lục ghi nhiều trận thắng quốc tế nhất cho Tây Ban Nha với 131 trận thắng. [16]

Sự nghiệp câu lạc bộSửa đổi

SevillaSửa đổi

Ramos bắt đầu sự nghiệp ở vị trí hậu vệ cánh phải, đây cũng là vị trí thường trụ của anh trong thời kỳ đầu của sự nghiệp cầu thủ. Sau 2 năm chơi bóng tại La Liga, với Sevilla, anh thể hiện được khả năng phòng thủ.

Real MadridSửa đổi

Real Madrid ký hợp đồng với Ramos sau khi giao cho Sevilla 27 triệu Euro vào mùa hè năm 2005 [17]. Cuộc chuyển nhượng biến anh thành cầu thủ dưới 20 tuổi có giá đắt thứ 3 sau Wayne Rooney. Tại Real, anh được mặc áo số 4, số áo của huyền thoại Fernando Hierro một thời.

Ramos ghi bàn thắng đầu tiên tại Champions League trong trận Real Madrid gặp Olympiakos, mà Real đã bị đánh bại với tỉ số 2-1. Anh bắt đầu chơi ở vị trí trung vệ của Real, và còn được sử dụng như một tiền vệ phòng ngự, cánh phải ở một số trường hợp. Cho đến khi có sự xuất hiện của Christoph MetzelderPepe, Ramos chuyển sang cánh phải và giữ vững ở vị trí đó. Mùa giải 2006-07, anh đã có một màn trình diễn rất ấn tượng sau khi tạo cơ hội tốt cho Raúl ghi bàn vào lưới Barcelona tại Santiago Bernabéu, ngay phút thứ hai của trận đấu.

Ramos đã chứng tỏ khả năng ghi bàn của mình tại Madrid vào mùa giải sau với Real, khi ghi 20 bàn thắng trong màu áo Kền kền trắng. Vào một buổi trả lời phỏng vấn với Grada Blanca, anh tiết lộ rằng mình từng chơi ở vị trí tiền đạo khi còn nhỏ[18].

Vào 4 tháng 5 năm 2008, Ramos tạo cơ hội ghi bàn cho Gonzalo Higuain vào phút thứ 89, trong trận gặp Osasuna, đưa Real Madrid lên ngôi vô địch La Liga lần thứ 31.

Bàn thắng thứ 4 và thứ năm của mùa giải được Ramos ghi trong trận đấu cuối mùa với Levante mà Real đã thắng 5-2. Sergio Ramos từ đó đã có ý định chơi ở Real Madrid cho đến hết sự nghiệp.

Vào ngày 13 tháng 7 năm 2008, có tin rằng đội bóng Manchester United đã liên hệ với hậu vệ trẻ này. Anh phát biểu trên đài Radio Canal Sur: "Đó là một cơ hội tốt để đến với câu lạc bộ lớn mà tôi luôn hâm mộ, nhưng vào thời điểm này tôi không muốn bận tâm nhiều. Tôi có một hợp đồng dễ chịu với Madrid và tôi đang tập trung cho đội tuyển quốc gia. Khi World Cup 2010 kết thúc, tôi mới quyết định được." [19].

Ngày 17 tháng 6 năm 2021, CLB Real Madrid xác nhận Sergio Ramos đã chính thức nói lời chia tay với đội bóng sau 16 năm cống hiến.[20]

Paris Saint-GermainSửa đổi

Vào ngày 8 tháng 7 năm 2021, anh ký hợp đồng với Paris Saint-Germain cho đến ngày 24 tháng 6 năm 2023. Anh sẽ mang áo số 4 ở đội bóng mới như anh ấy đã mặc trong 16 năm của mình ở Real Madrid.[21]

Kỷ lục về kỷ luậtSửa đổi

Ramos giữ kỷ lục bị phạt thẻ đỏ nhiều nhất cho một cầu thủ Real Madrid (26 tính đến cuối năm 2019);[22][23] Tại La Liga anh đã bị đuổi ra khỏi sân 19 lần, vượt qua kỷ lục được Xavier AguadoPablo Alfaro giữ chung.[24]

Sự nghiệp cấp quốc tếSửa đổi

 
Sergio Ramos trong màu áo đội tuyển Tây Ban Nha tại UEFA Euro 2012.

Vào năm 2004, Ramos là một trong những cầu thủ nổi bật của đội U21 Tây Ban Nha, chơi 6 trận quốc tế. Cho đến 26 tháng 3 năm 2005, năm 19 tuổi, tại Salamanca, anh trở thành cầu thủ trẻ nhất chơi cho đội tuyển Tây Ban Nha trong 55 năm trở lại, ở trận gặp Trung Quốc. Một ít lâu sau kỷ lục này đã bị phá vỡ bởi Cesc Fàbregas.

Anh đã ghi dấu ấn trong sự nghiệp quốc tế của mình trong trận gặp Serbia và Montenegro, một trận đấu vòng loại của World Cup 2006. Ramos được gọi vào đội tham dự World Cup 2006 vào 15 tháng 5 năm 2006, Bởi vì Míchel Salgado vắng mặt, anh trở thành lựa chọn tốt nhất ở vị trí hậu vệ cánh phải.

Tại Euro 2008, anh là một cầu thủ nổi bật của đội tuyển, cùng với những cầu thủ trẻ khác, đã đưa Tây Ban Nha lần thứ 2 lên ngôi vô địch châu Âu sau khi đánh bại Đức 1-0.

Vào ngày 27 tháng 5 năm 2018 (giờ Việt Nam), Sergio Ramos đã có tình huống khóa tay cầu thủ LiverpoolMohamed Salah trong trận chung kết UEFA Champions League 2018 và buộc cầu thủ đó phải rời sân vì chấn thương vai. Các bác sĩ ở Liverpool xác nhận thủ môn Karius bị chấn thương vùng đầu sau pha giật cùi chỏ của anh trong trận đấu tại Kiev. Không loại trừ đây có thể là nguyên nhân khiến anh thi đấu thiếu tập trung và liên tục mắc sai lầm trong hiệp hai. Bác sĩ Ross Zafonte ở Boston, Mỹ cho biết: "Sau buổi kiểm tra toàn diện, chúng tôi xác nhận Karius phải thi đấu với chấn thương vùng đầu vào ngày 26/5. Cậu ấy có triệu chứng rối loạn thị giác gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chơi bóng".[25]

Thống kêSửa đổi

Tính đến 16 tháng 3 năm 2021[26][27]
Câu lạc bộ Giải đấu Mùa giải La Liga Cup1 Châu Âu Khác2 Tổng cộng
Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Sevilla La Liga 2003–04 7 0 0 0 0 0 0 0 7 0
2004–05 31 2 5 0 5 1 0 0 41 3
2005–06 1 0 0 0 0 0 0 0 1 0
Tổng cộng 39 2 5 0 5 1 0 0 49 3
Real Madrid 2005–06 33 4 6 1 7 1 0 0 46 9
2006–07 33 5 3 0 6 1 0 0 42 6
2007–08 33 5 5 1 7 0 0 0 45 10
2008–09 32 4 2 1 8 1 0 0 42 9
2009–10 33 4 0 0 7 0 0 0 40 6
2010–11 31 3 7 1 8 0 0 0 46 6
2011–12 34 3 6 0 11 1 0 0 51 6
2012–13 26 4 5 0 9 1 0 0 40 5
2013–14 32 4 8 0 11 3 0 0 51 4
2014–15 27 4 4 1 8 0 3 2 42 3
2015–16 23 2 0 0 10 1 33 3
2016–17 28 7 3 1 11 1 2 1 44 3
2017–18 26 4 1 0 11 1 4 0 42 3
2018–19 28 6 6 3 5 0 3 2 42 11
2019–20 35 11 2 0 5 2 2 0 44 13
2020–21 15 2 0 0 4 2 1 0 20 4
Tổng cộng 469 72 48 7 128 15 25 7 670 101
Tổng cộng sự nghiệp 534 76 53 7 134 16 25 7 746 106

1 Bao gồm Supercopa de España.
2 Bao gồm UEFA Super CupFIFA Club World Cup.

Đội tuyển quốc giaSửa đổi

Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2021[28]
Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
2005 7 2
2006 13 0
2007 10 2
2008 15 0
2009 11 0
2010 16 1
2011 10 1
2012 16 2
2013 17 1
2014 9 1
2015 6 0
2016 9 0
2017 9 3
2018 13 4
2019 9 4
2020 8 2
2021 2 0
Tổng cộng 180 23

Bàn thắng quốc tếSửa đổi

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 13 tháng 10 năm 2005 Sân vận động Olimpico, San Marino, San Marino   San Marino 0–3 0–6 Vòng loại World Cup 2006
2. 0–4 0–6
3. 13 tháng 10 năm 2007 Sân vận động Atletion, Aarhus, Đan Mạch   Đan Mạch 0–2 1–3 Vòng loại Euro 2008
4. 17 tháng 11 năm 2007 Sân vận động Santiago Bernabéu, Madrid, Tây Ban Nha   Thụy Điển 3–0 5–0
5. 3 tháng 3 năm 2010 Stade de France, Saint-Denis, Pháp   Pháp 0–2 0–2 Giao hữu
6. 6 tháng 9 năm 2011 Sân vận động Las Gaunas, Logroño, Tây Ban Nha   Liechtenstein 4–0 6–0 Vòng loại Euro 2012
7. 16 tháng 10 năm 2012 Sân vận động Vicente Calderón, Madrid, Tây Ban Nha   Pháp 1–0 1–1 Vòng loại World Cup 2014
8. 14 tháng 11 năm 2012 Sân vận động Rommel Fernández, Panama City, Panama   Panama 4–0 5–1 Giao hữu
9. 22 tháng 3 năm 2013 Sân vận động El Molinón, Gijón, Tây Ban Nha   Phần Lan 1–0 1–1 Vòng loại World Cup 2014
10. 8 tháng 9 năm 2014 Sân vận động Ciutat de València, Valencia, Tây Ban Nha   Bắc Macedonia 5–1 Vòng loại Euro 2016
11. 5 tháng 9 năm 2017 Sân vận động Rheinpark, Vaduz, Liechtenstein   Liechtenstein 8–0 Vòng loại World Cup 2018
12. 14 tháng 11 năm 2017 Sân vận động Krestovsky, Saint Petersburg, Nga   Nga 2–0 (p) 3–3 Giao hữu
13. 3–2 (p)
14. 11 tháng 9 năm 2018 Sân vận động Manuel Martínez Valero, Elche, Tây Ban Nha   Croatia 5–0 6–0 UEFA Nations League 2018–19
15. 11 tháng 10 năm 2018 Sân vận động Thiên niên kỷ, Cardiff, Wales   Wales 2–0 4–1 Giao hữu
16. 15 tháng 10 năm 2018 Sân vận động Benito Villamarín, Sevilla, Tây Ban Nha   Anh 2–3 2–3 UEFA Nations League 2018–19
17. 16 tháng 11 năm 2018 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia   Croatia 2–2 (p)
18. 23 tháng 3 năm 2019 Sân vận động Mestalla, Valencia, Tây Ban Nha   Na Uy 2–1 (p) 2–1 Vòng loại Euro 2020
19. 8 tháng 6 năm 2019 Tórsvøllur, Tórshavn, Quần đảo Faroe   Quần đảo Faroe 1–0 4–1
20. 10 tháng 6 năm 2019 Sân vận động Santiago Bernabéu, Madrid, Tây Ban Nha   Thụy Điển 3–0
21. 5 tháng 9 năm 2019 Arena Națională, Bucharest, România   România 2–1
22. 6 tháng 9 năm 2020 Sân vận động Alfredo Di Stéfano, Madrid, Tây Ban Nha   Ukraina 4–0 UEFA Nations League 2020–21
23. 2–0

Danh hiệuSửa đổi

Câu lạc bộSửa đổi

Real MadridSửa đổi

Quốc tếSửa đổi

U-19 Tây Ban NhaSửa đổi

  • Giải vô địch bóng đá U-19 châu Âu: 2004

Tây Ban NhaSửa đổi

Cá nhânSửa đổi

  • Giải thưởng Antonio Puerta [29]
  • ESM Team of the Year: 2007-08
  • ESM Team of the Month: tháng 4.2007; tháng 5.2007, tháng 9.2007, tháng 10.2007, tháng 11.2007, tháng 12.2007, tháng 1.2008
  • UEFA Team of the Year: 2008, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018, 2020
  • FIFPro World XI: 2008, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018, 2020

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “FIFA World Cup South Africa 2010: List of players” (PDF). FIFA. ngày 4 tháng 6 năm 2010. tr. 29. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2013.
  2. ^ a b “Sergio Ramos”. Real Madrid C.F. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2017.
  3. ^ Gastelum, Andrew. “Sergio Ramos sẽ rời Real Madrid sau 16 mùa giải”. Sports Illustrated (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2021.
  4. ^ “Selección de España: Las cinco vidas de Sergio Ramos”. Marca.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). 5 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2021.
  5. ^ “Busquets y Jordi Alba se quedan el brazalete de Sergio Ramos”. AS.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). 25 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2021.
  6. ^ “14 năm của Sergio Ramos”. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2018.
  7. ^ tháng 1 năm 2021. “Xếp hạng! 10 trung vệ xuất sắc nhất thế giới”. Fourfourtwo.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2021.
  8. ^ Harmer, Alfie Potts (26 tháng 12 năm 2019). “7 Trung vệ xuất sắc nhất thập kỷ”. HITC (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2021.
  9. ^ Subramanian, Vishal (4 tháng 2 năm 2020). “10 hậu vệ hàng đầu của thập kỷ trước (2010-2019)”. www.sportskeeda.com (bằng tiếng en -us). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  10. ^ “Sergio Ramos Được mệnh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thứ 13 của Real Madrid mọi thời đại, Top 50 được xếp hạng”. www.sportbible.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2021.
  11. ^ “Kroos: Sergio Ramos là đội trưởng xuất sắc nhất mà tôi từng có trong sự nghiệp”. marca.com (bằng tiếng Anh). Truy cập 15 tháng 11 năm 2021.
  12. ^ “Zidane nói rằng rất vinh dự khi được làm việc cùng "đội trưởng vĩ đại" Ramos”. as.com (bằng tiếng Anh). Truy cập 15 tháng 11 năm 2021.
  13. ^ “Sergio Ramos là hậu vệ xuất sắc nhất thế giới, nói trên France Football”. AS.com. 30 tháng 10 năm 2016.
  14. ^ “Sergio Ramos là hậu vệ tích cực ghi bàn nhiều nhất ở La Liga”. Real Madrid CF. 5 Tháng Năm 2014. Truy cập 14 Tháng Năm 2014.
  15. ^ “Ramos: centenario, capitán y goleador” [Ramos: Trận thứ 100, đội trưởng và cầu thủ ghi bàn]. Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Tây Ban Nha. 22 tháng 3 năm 2013. Truy cập 23 tháng 3 năm 2013.
  16. ^ “Sergio Ramos García”. eu-football.info. Truy cập 17 tháng 11 năm 2020.
  17. ^ FootballDatabase.com. “FootballDatabase - Club Rankings and Statistics”. footballdatabase.com.
  18. ^ “Real Madrid C.F. Web Oficial - Real Madrid C.F. Official Web Site”. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2008.
  19. ^ “Ramos welcomes United interest”. Sky Sports.
  20. ^ “Ramos rời Real Madrid sau 16 mùa giải”.
  21. ^ “Sergio Ramos gia nhập PSG”.
  22. ^ “Real Madrid, profondo rosso Sergio Ramos: già 18 espulsioni” [Real Madrid, profoundly red Sergio Ramos, 18 expulsions already] (bằng tiếng Ý). Tutto Mercato. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2014.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  23. ^ “Sergio Ramos and his 24 Real Madrid red cards: a retrospective”. The Guardian. ngày 2 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018.
  24. ^ “Sergio Ramos' red card record makes grim reading”. Diario AS. ngày 3 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018.
  25. ^ Thủ môn Karius bị rối loạn thị giác sau cú giật cùi chỏ của Ramos, bongda24h.vn 5.6.2018
  26. ^ “Sergio Ramos”. Soccerway. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2014.
  27. ^ Bản mẫu:ESPNsoccernet
  28. ^ “Sergio Ramos”. European Football. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2015.
  29. ^ [1]

Liên kết ngoàiSửa đổi