Ngụy Quốc Phu nhân Hạ Lan thị

Ngụy Quốc phu nhân Hạ Lan thị (chữ Hán: 魏国夫人賀蘭氏, ? - tháng 9, 666), biệt danh Quốc Xu (國姝)[1], là cháu gái gọi Võ Tắc Thiên bằng , mẹ là Hàn Quốc phu nhân Võ Thuận, chị ruột của Võ Tắc Thiên. Các sách Đường thư cùng Tư trị thông giám ghi lại, mẹ con Hạ Lan thị là tình nhân của Đường Cao Tông.

Về sau, Hạ Lan thị qua đời đột ngột, người ta tin rằng bà bị chính dì mình đầu độc chết.

Cuộc đờiSửa đổi

Hạ Lan thị người Lạc Dương, Hà Nam. Sử sách không nói rõ tên thật của Hạ Lan thị, cái tên Mẫn Nguyệt (賀蘭敏月) là hư cấu từ một số phim truyền hình hiện đại. Theo phả hệ gia tộc họ Võ, Hạ Lan thị là cháu ngoại của Ứng quốc công Võ Sĩ Hoạch và Vinh quốc phu nhân Dương thị. Cha bà là Hạ Lan An Thạch (賀蘭安石), mẹ bà là Hàn Quốc phu nhân Võ Thuận, chị gái Võ Tắc Thiên. Bà có một người anh trai là Hạ Lan Mẫn Chi (賀蘭敏之).

Khi Võ Chiêu nghi được sách lập làm hoàng hậu, gia tộc Võ thị cũng được vinh hiển, chị Võ hậu là Võ Thuận được phong làm "Hàn Quốc phu nhân" (韓國夫人). Võ thị cùng con gái Hạ Lan thị vì duyên cố thân thích với hoàng hậu mà được tự do xuất nhập hậu cung, mà Hạ Lan thị nổi tiếng có nhan sắc[note 1], từ đó cả hai mẹ con đều được Cao Tông sủng hạnh qua, đãi ngộ như một cặp mẹ con tình nhân của nhà vua[1][2].

Năm Càn Phong nguyên niên (666), tháng 9, hai người anh họ của Võ hậu là Võ Duy Lương (武惟良) và Võ Hoài Vận (武懷運) bị giết vì tội giết hại Ngụy Quốc phu nhân. Từ nhỏ, hai người này luôn bất kính với mẹ Võ hậu là Dương phu nhân, Võ hậu từ đó sinh hận. Khi ấy Hạ Lan thị được sủng, Cao Tông ban phong hiệu "Ngụy Quốc phu nhân", lại còn muốn đem thị vào nội đình và ban cho tước như một phi tần. Võ hậu khuyên mãi, việc bèn tạm thôi, nhưng từ đó Võ hậu cũng sinh ý chán ghét cháu gái trong lòng. Vào lúc Duy Lương cùng Hoài Vận tiến kinh dâng đồ ăn trong dịp phong thiện Thái Sơn, Võ hậu liền muốn bắn mũi tên hai đích, bèn bí mật bỏ độc vào và ban cho Hạ Lan thị ăn, khiến thị bị trúng độc mà chết. Sau đó, Võ hậu quy tội cho Duy Lương, Hoài Vận và xử tử bọn họ[2][3].

Sau khi chết, Hạ Lan thị được chôn cùng ở Thuận lăng (顺陵), lăng tẩm của Dương phu nhân.

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Nguyên văn "Quốc Xu" (國姝).

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a b Âu Dương Tu, quyển 76: 韓國出入禁中,一女國姝,帝皆寵之。
  2. ^ a b Tư Mã Quang, quyển 201: 韓國夫人及其女以后故出入禁中,皆得幸於上。韓國尋卒,其女賜號魏國夫人。上欲以魏國為內職,心難后,未決,后惡之。會惟良、懷運與諸州刺史詣泰山朝覲,從至京師,惟良等獻食。后密置毒醢中,使魏國食之,暴卒,因歸罪於惟良、懷運,丁未,誅之,改其姓為蝮式。懷運兄懷亮早卒,其妻善氏尤不禮於榮國,坐惟良等沒入掖庭,榮國令後以他事束棘鞭之,肉盡見骨而死。
  3. ^ Âu Dương Tu, quyển 76: 韓國卒,女封魏國夫人,欲以備嬪職,難於后,未決。后內忌甚,會封泰山,惟良、懷運以嶽牧來集,從還京師,后毒殺魏國,歸罪惟良等,盡殺之,氏曰「蝮」,以韓國子敏之奉士〓祀。
Tài liệu tham khảo
  • Lưu Hu. Cựu Đường thư.
  • Âu Dương Tu. Tân Đường thư.
  • Tư Mã Quang. Tư trị thông giám.