Mở trình đơn chính

Võ Thuận (chữ Hán: 武順, sinh mất không rõ), biểu tự Minh Tắc (明則), thông gọi Hàn Quốc phu nhân (韓國夫人), được biết đến là chị gái ruột của Võ Tắc Thiên.

Võ Thuận
武順
Thông tin chung
Phối ngẫuHạ Lan An Thạch
Hậu duệHạ Lan Mẫn Chi
Ngụy Quốc Phu nhân
Tước hiệu[Hàn Quốc phu nhân;
韓國夫人]
Thụy hiệuTrịnh Quốc phu nhân
(鄭國夫人)
Thân phụVõ Sĩ Hoạch
Thân mẫuDương thị
Sinh625
Mấttrước 665

Theo Tư trị thông giám cùng Cựu Đường thư, bà là tình nhân của Đường Cao Tông Lý Trị, và chính bà là mẹ đẻ của Chương Hoài Thái tử Lý Hiền chứ không phải Võ hậu[1].

Cuộc đờiSửa đổi

Cũng như Võ Tắc Thiên, Võ Thuận xuất thân từ gia tộc họ Võ có nguồn gốc từ vùng Văn ThủyTinh Châu, nhưng sinh ra ở huyện Thọ Dương, Thái Nguyên[2], bà được sinh ra khoảng năm Võ Đức thứ 6 (623). Cha là khai quốc công thần Đường triều Võ Sĩ Hoạch, mẹ là Vinh Quốc phu nhân Dương thị, Võ Thuận và Võ Tắc Thiên là chị em cùng cha cùng mẹ.

Võ Thuận ban đầu kết hôn với Hạ Lan An Thạch (賀蘭安石), sinh ra một nam một nữ, con trai là Hạ Lan Mẫn Chi (賀蘭敏之), con gái là Hạ Lan thị (賀蘭氏). Về sau An Thạch mất, Võ Thuận trở thành góa phụ, sau được phong Hàn Quốc phu nhân (韓國夫人).

Không có nhiều ghi chép về bà, Cựu Đường thư từng ghi nhận có tin đồn bà chính là mẹ sinh của Chương Hoài Thái tử Lý Hiền, người sau này kế vị Thái tử sau khi con cả của Võ Tắc Thiên là Lý Hoằng mất[3]. Con gái của bà với chồng trước là Hạ Lan thị vào cung thăm mẹ, cũng được Cao Tông để ý và sủng hạnh.

Bia mộ của bà lập năm Càn Phong thứ 3 (668), nhưng theo 《Tân Đường thư - Cao Tông Tắc Thiên Thuận Thánh hoàng hậu Võ thị truyện》 ghi lại:“Hàn Quốc chết, con gái phong Ngụy Quốc phu nhân, tính đem vào nội đình nhưng Hậu (chỉ Võ hậu) không cho, việc bèn thôi. Hậu bên trong rất đố kỵ. Khi hội phong Thái Sơn, (Võ) Duy Lương và (Võ) Hoài Vận tới, tùy Đế-Hậu về kinh sư, Hậu độc giết Ngụy Quốc, rồi đổ cho Duy Lương và Hoài Vận”. Như vậy có thể thấy Hàn Quốc phu nhân chết trước con gái[4]. Bên cạnh đó, Ngụy Quốc phu nhân mất sau năm Lân Đức thứ 2 (665), tháng 10, khi Đường Cao Tông phong thiện Thái Sơn, như vậy tức là Hàn Quốc phu nhân Võ Thuận phải mất trước thời gian này.

Sau khi Võ Thuận mất, Đường Cao Tông truy tặng là Trịnh Quốc phu nhân (鄭國夫人).

Sau khi mấtSửa đổi

Sau khi Hàn Quốc qua đời, Hạ Lan thị được phong Ngụy Quốc phu nhân (魏国夫人). Có sách ghi nàng được Đường Cao Tông sủng hạnh vì giống mẹ. Về sau chết đột ngột, tin đồn là do Võ hậu đầu độc[5].

Còn Hạ Lan Mẫn Chi (贺兰敏之), con trai Hàn Quốc được kế tập tước Chu quốc công (周國公). Mẫn Chi biết em gái mình bị Võ hậu giết hại nên tìm kế trả thù, việc này không qua khỏi mắt Võ hậu. Năm 671, Võ hậu lấy cớ Mẫn Chi không chấp hành đúng nghi lễ lúc để tang Vinh Quốc phu nhân và thông gian với con gái họ Vương, người đã được Võ hậu chọn làm phi cho Thái tử Lý Hoằng, Hạ Lan Mẫn Chi bị ép phải tự tử.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Tân Đường thư liệt truyện: Đệ lục tam tông chư tử
  2. ^ 唐司列少常伯李安期撰,前戎卫兵曹参军殷仲容八分书。夫人名顺,字(缺一字)则,太原寿阳人。武后之姊,司卫卿贺兰安石之妻。封韩国夫人,追赠郑国,碑以乾封三年立。
  3. ^ 《旧唐书卷八十六 列传第三十六高宗中宗诸子》:时正议大夫明崇俨以符劾之术为则天所任使,密称“英王状类太宗”。又宫人潜议云“贤是后姊韩国夫人所生”,贤亦自疑惧。则天又尝为贤撰《少阳政范》及《孝子传》以赐之,仍数作书以责让贤,贤逾不自安。
  4. ^ 《新唐书高宗则天顺圣皇后武氏传》:始,士彟娶相里氏,生子元庆、元爽。又娶杨氏,生三女:伯嫁贺兰越石,蚤寡,封韩国夫人;仲即后;季嫁郭孝慎,前死。杨以后故,宠日盛,徙封荣国。始,兄子惟良、怀运与元庆等遇杨及后礼薄,后衔不置。及是,元庆为宗正少卿,元爽少府少监,惟良司卫少卿,怀运淄州刺史。它日,夫人置酒,酣,谓惟良曰:“若等记畴日事乎?今谓何?”对曰:“幸以功臣子位朝廷,晚缘戚属进,忧而不荣也。”夫人怒,讽后伪为退让,请惟良等外迁,无示天下私。繇是,惟良为始州刺史;元庆,龙州;元爽,濠州,俄坐事死振州。元庆至州,忧死。韩国出入禁中,一女国姝,帝皆宠之。韩国卒,女封魏国夫人,欲以备嫔职,难於后,未决。后内忌甚,会封泰山,惟良、怀运以岳牧来集,从还京师,后毒杀魏国,归罪惟良等,尽杀之,氏曰“蝮”,以韩国子敏之奉士祀。初,魏国卒,敏之入吊,帝为恸,敏之哭不对。后曰:“儿疑我!”恶之。俄贬死。
  5. ^ Tân Đường thư liệt truyện: Đệ nhất hậu phi thượng
  • Cựu Đường thư
  • Tập cổ lục mục Đường Trịnh Quốc phu nhân Võ thị bi - 《集古录目唐郑国夫人武氏碑》