Nguyễn Văn Cốc

Là Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Chánh Tổng thanh tra Quân đội; Tư lệnh Quân chủng không quân

Nguyễn Văn Cốc (sinh năm 1942), là Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Chánh Tổng thanh tra Quân đội; Tư lệnh Quân chủng không quân. Ông là một phi công huyền thoại của Việt Nam và là người duy nhất trên thế giới dùng MiG 21 bắn hạ 9 - 11 máy bay Mỹ[1] trên bầu trời Bắc Việt Nam (bao gồm 2 chiếc UAV trinh sát, 1 chiếc F-102, 3 chiếc F4 và 3 - 5 chiếc F-105)[2].

Anh hùng, phi công Nguyễn Văn Cốc trên khoang lái máy bay

Nguyễn Văn Cốc là phi công MiG-21 bắn rơi nhiều máy bay nhất của Việt Nam cũng như trên thế giới. Có một trùng hợp thú vị và là cha của ông tên là Nguyễn Văn Bảy, lại trùng tên với anh hùng Nguyễn Văn Bảy - phi công MiG-17 bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất của Việt Nam cũng như trên thế giới.

Cuộc đời và chiến côngSửa đổi

Ông sinh tháng 12 năm 1942[3], quê tại xã Bích Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Thân sinh của ông là liệt sỹ Nguyễn Văn Bảy, Chủ tịch Mặt trận Việt Minh huyện Việt Yên, Bắc Giang, bị quân Pháp giết chết vào năm 1947.

Năm 1961, khi đang học lớp 8, trường Ngô Sĩ Liên tại thị xã Bắc Giang, ông trúng tuyển kỳ thi chọn đào tạo phi công. Ông nhập ngũ và được đưa đi huấn luyện tại Trường dự khóa bay ở sân bay Cát Bi (Hải Phòng)[4]. Tháng 8 năm 1962, ông cùng đoàn huấn luyện phi công 120 người sang đào tạo tại Trường Không quân ở Liên Xô.

Tháng 11 năm 1964, ông là một trong 17 phi công MiG-17 trong tổng số 23 phi công tốt nghiệp khóa đào tạo[5]. Sau khi về nước, ông được phiên chế về Đại đội 1, Trung đoàn 921 (Đoàn Không quân Sao Đỏ). Nhưng không lâu sau, lại được chọn để đi học chuyển loại máy bay MiG-21 ở Liên Xô một năm. Ông được kết nạp Đảng Lao động Việt Nam năm 1966, khi đang học tại Liên Xô. Ông trở lại về đoàn Sao Đỏ vào đầu năm 1967.

Trong đội hình biên đội MiG-21 hai chiếc, ông được phân công ở vị trí số 2 với mục đích bảo vệ cho số 1 tiêu diệt đối phương. Ngày 30 tháng 4 năm 1967, ông xuất kích trong biên đội do phi công Nguyễn Ngọc Độ (cũng là một ace của Việt Nam) làm biên đội trưởng. Trận không chiến diễn ra với các máy bay F-105 Thunderchief trên bầu trời Hòa Bình, Sơn La. Gặp thời cơ thuận lợi, sau khi biên đội trưởng bắn hạ một F-105, ông cũng chớp thời cơ bắn hạ thêm một chiếc F-105 nữa. Cả hai chiếc MiG đều về an toàn. Đây là chiếc máy bay đầu tiên ông bắn hạ, mở đầu cho thành tích của người phi công trong các cuộc không chiến trên bầu trời Bắc Việt Nam.

Theo nguyên tắc chiến thuật phi đội hai chiếc của MiG-21, số 2 chỉ có nhiệm vụ yểm trợ, quan sát đối phương giúp cho số 1 vào công kích. Nguyễn Văn Cốc cải tiến chiến thuật, cùng tham gia tiêu diệt máy bay đối phương, do đó, hiệu suất phi đội tăng lên. Trước kia do chỉ có số 1 công kích, tối đa phi đội chỉ bắn hạ được 2 máy bay đối phương (vì MiG-21 chỉ mang được 2 tên lửa). Theo chiến thuật cải tiến, phi đội của ông cao điểm có thể bắn hạ được 3 máy bay đối phương. Để đạt được điều này, số 2 phải phán đoán và hành động chớp thời cơ rất nhanh. Do chiến thuật cải tiến này, ông được đồng đội đặt cho biệt danh là Chim cắt số 2.

 
Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi phi công Nguyễn Văn Cốc tại Đại hội Anh hùng-chiến sĩ thi đua Quân chủng Phòng không-Không quân năm 1969

Với sự sáng tạo chiến thuật trong không chiến, chỉ riêng trong năm 1967, ông đã bắn rơi 6 máy bay đối phương. Trong tổng số 9 chiếc, có 6 chiếc ông bắn hạ khi bay ở vị trí số 2. Từ đó, chiến thuật do ông sáng tạo được đưa vào nội dung huấn luyện và thực tiễn đã mang lại kết quả tốt, giúp không quân Việt Nam nâng cao hiệu suất chiến đấu trong một thời gian dài, khiến cho các phi công Mỹ cũng khâm phục.

Ngày 18 tháng 6 năm 1969, ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam, với thành tích bắn hạ 9 máy bay Mỹ chỉ trong 2 năm. Trên chiếc MiG-21 PF, số máy bay ông bắn hạ được phía Việt Nam công bố gồm 11 chiếc, trong đó có 3 F-4, 5 F-105, 1 chiếc F-102 và 2 máy bay trinh sát không người lái. Phía Mỹ thì thừa nhận số máy bay bị ông bắn hạ gồm 9 chiếc, trong đó có 2 F-4D, 1 F-4B, 2 F-105F, 1 F-105D, 1 F-102A và 2 chiếc UAV trinh sát. Trong toàn bộ các cuộc không chiến trên bầu trời Bắc Việt Nam, ông có số bắn hạ máy bay cao nhất của cả Việt Nam và Mỹ. Ngoài ra, ông còn hỗ trợ đồng đội bắn hạ thêm 9 máy bay nữa. Khi đó, ông mới vừa 27 tuổi, hàm Đại úy Không quân.

Ông từng phải nhảy dù hai lần. Một lần vào ngày 2 tháng 1 năm 1967, trong chiến dịch Bolo, ông bị bắn rơi khi vừa cất cánh do thiếu kinh nghiệm và chưa kịp phản ứng trước đối phương (trong trận này, phía Việt Nam bị bắn hạ 6/8 MiG-21 khi chưa kịp phát hiện đối phương. Cả sáu phi công kịp thời nhảy dù an toàn. Phía Mỹ không mất một chiếc nào) [cần dẫn nguồn]. Một lần khác ông phải bắt buộc nhảy dù sau khi máy bay hết dầu lúc không chiến. Tháng 8 năm 1970, ông là Đại đội phó Đại đội 1, Trung đoàn Không quân 921.

Sau năm 1970, ông được yêu cầu chuyển sang làm công tác huấn luyện cho các phi công mới. Điều này cũng phù hợp với quy hoạch phát triển đội ngũ các phi công xuất sắc (flying ace) của không quân Việt Nam. Cùng thời gian này, phi công MiG-17 Nguyễn Văn Bảy (còn gọi là Bảy A), cũng được chuyển sang làm công tác huấn luyện.

Làm lãnh đạo trong Quân độiSửa đổi

Ông công tác liên tục trong Binh chủng Không quân. Tháng 9 năm 1972, ông được cử đi học sĩ quan chỉ huy không quân tại Học viện Không quân Gagarin (Liên Xô). Năm 1976, ông tốt nghiệp, về nước tiếp tục công tác trong Quân chủng Không quân vừa được thành lập:

  • Tháng 10 năm 1977, ông được giao làm Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371, Quân chủng Không quân.
  • Tháng 3 năm 1978, ông được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 921.
  • Tháng 8 năm 1979, ông là Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371.
  • Tháng 8 năm 1981, ông được chuyển làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370. Một năm sau, tháng 8 năm 1982, ông được chuyển về lại Sư đoàn Không quân 371 với chức vụ Sư đoàn trưởng.
  • Tháng 5 năm 1988, ông được bổ nhiệm làm Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân.
  • tháng 8 năm 1990, là Phó tư lệnh Quân chủng Không quân, hàm Thiếu tướng.
  • Tháng 6 năm 1996, ông giữ chức Tư lệnh Quân chủng Không quân.
  • Tháng 12 năm 1997, ông được bổ nhiệm làm Phó Tổng Thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Từ tháng 10 năm 1998 đến năm 2002, Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng, hàm Trung tướng (từ 1999).
  • Năm 2003, ông được nghỉ hưu.

Lịch sử thụ phong quân hàmSửa đổi

Năm thụ phong 1990 1999
Quân hàm    
Cấp bậc Thiếu tướng Trung tướng

Phần thưởng cao quýSửa đổi

Ông được nhà nước Việt Nam tuyên dương:

Đời tưSửa đổi

Năm 1966, ông làm quen với bà Đới Thu Hương, diễn viên của Đoàn văn công Quân chủng Phòng không - Không quân, đến năm 1974, ông bà làm đám cưới. Trước nghỉ hưu, bà Hương là Thượng tá, Giám đốc Thư viện Quân chủng Phòng không không quân. Ông bà có với nhau 2 người con. một con trai và một con gái. Năm 2004, khi về nghỉ hưu hơn một năm, ông bị chấn thương cột sống do bị trơn trượt ngã cầu thang.

Chú thíchSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi