Nguyễn Văn Khương

Sĩ quan Bộ binh cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Nguyễn Văn Khương (1924-1970), nguyên là một sĩ quan Bộ binh cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Sĩ Quan Trừ bị do Quốc gia Việt Nam được sự hỗ trợ và cố vấn của Quân đội Pháp mở ra để đào tạo sĩ quan người Việt ở Nam phần. Ông đã phục vụ trong đơn vị Bộ binh bắt đầu từ chức vụ Trung đội trưởng cho đến Tham mưu trưởng Sư đoàn. Năm 1968, ông được chuyển nhiệm vụ sang lĩnh vực Hành chính Quân sự. Năm 1970, khi đang là Đại tá Tỉnh trưởng một tỉnh ở miền Tây Nam phần, ông bị tử trận được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng.

Nguyễn Văn Khương
Chức vụ
Tỉnh trưởng tỉnh Phong Dinh
Nhiệm kỳ3/1968 – 7/1970
Cấp bậc-Trung tá (11/1965)
-Đại tá (3/1968)
-Chuẩn tướng (truy thăng tháng 7/1970)
Tiền nhiệm-Trung tá Nguyễn Bá Hoa
Kế nhiệm-Đại tá Lê Văn Hưng
Vị tríVùng 4 chiến thuật
Chỉ huy trưởng Yếu khu Thị xã Cần Thơ
Nhiệm kỳ11/1965 – 3/1968
Cấp bậc-Trung tá (11/1965)
Vị tríTiểu khu Phong Dinh
(Vùng 4 chiến thuật)
ARVN 21st Infantry Division SSI.svg
Tham mưu trưởng Sư đoàn 21 Bộ binh
Nhiệm kỳ2/1964 – 11/1965
Cấp bậc-Thiếu tá (2/1964)
Vị tríVùng 4 chiến thuật
Tư lệnh Sư đoàn-Đại tá Cao Hảo Hớn
-Đại tá Đặng Văn Quang
Trưởng phòng 4 Sư đoàn 21 Bộ binh
Nhiệm kỳ1/1960 – 2/1964
Cấp bậc-Đại úy (1/1960)
Vị tríVùng 4 chiến thuật
Tư lệnh Sư đoàn-Đại tá Trần Thiện Khiêm
Phụ tá Trưởng phòng 4
Đệ Nhất Quân khu
(tiền thân Vùng 3 chiến thuật)
Nhiệm kỳ10/1955 – 1/1960
Cấp bậc-Trung úy (10/1955)
Vị tríKhu vực Nam phần
Trưởng phòng-Thiếu tá Khưu Ngọc Tước
Thông tin chung
Quốc tịch Việt Nam Cộng hòa
SinhTháng 10 năm 1924
Vĩnh Long, Việt Nam
Mất19 tháng 7 năm 1970 (46 tuổi)
Cần Thơ, Việt Nam
Nguyên nhân mấtTử trận
Nghề nghiệpQuân nhân
Dân tộcKinh
VợPhạm Thị Thôi
Gia quyếnPhạm Thành Gia (anh vợ)
Nguyễn Văn Bia (em)
ChaNguyễn Văn Cẩm
Con cái5 người con (2 trai, 3 gái):
Nguyễn Thị Ngọc Bích
Nguyễn Văn Tuấn
Nguyễn Thị Bích Thủy
Nguyễn Văn Phong
Nguyễn Thị Thanh Loan
Học vấnTú tài bán phần
Học trường-Trường Trung học Phổ thông tại Cần Thơ
-Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức
Quê quánNam Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1952-1970
Cấp bậcUS-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vịARVN 21st Infantry Division SSI.svg Sư đoàn 21 Bộ binh
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Officer BAR.png B.quốc H.chương IV

Tiểu sử & Binh nghiệpSửa đổi

Ông sinh vào tháng 10 năm 1924, trong một gia đình điền chủ tại Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, miền tây Nam phần Việt Nam. Năm 1945, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Cần Thơ với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Năm 1949, ông được tuyển dụng làm thư ký trong Sở Hầm mỏ ở Sài Gòn của Chính quyền Bảo hộ Pháp.

Quân đội Quốc gia Việt NamSửa đổi

Cuối tháng 9 năm 1952, thi hành động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 44/101.883. Được theo học khóa 2 Phụng Sự tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1952. Ngày 1 tháng 4 năm 1953 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông được chuyển đến phục vụ tại Tiểu khu Mỹ Tho.

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Cuối tháng 10 năm 1955, sau khi nền Đệ nhất Cộng hòa ra đời, chuyển sang phục vụ cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Trung úy và được cử làm Phụ tá Trưởng phòng 4 của Đệ nhất Quân khu Nam Việt do Thiếu tá Khưu Ngọc Tước[1] làm Trưởng phòng.

Đầu năm 1960, ông được thăng cấp Đại úy, chuyển ra đơn vị tác chiến, ông được cử giữ chức vụ Trưởng phòng 4 của Sư đoàn 21 Bộ binh do Đại tá Trần Thiện Khiêm làm Tư lệnh.

Đầu tháng 2 năm 1964, sau cuộc Chỉnh lý nội bộ các tướng lãnh trong Hội đông Quân nhân Cách mạng để giành quyền lãnh đạo của tướng Nguyễn Khánh, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 21, lần lượt dưới quyền 2 Tư lệnh Sư đoàn: Đại tá Cao Hảo Hớn (11/1963-6/1964), Đại tá Đặng Văn Quang (6/1964-3/1965). Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1965, ông được đặc cách thăng cấp Trung tá được cử giữ chức Chỉ huy trưởng Yếu khu Trà Nóc tại Thị xã Cần Thơ.

Thượng tuần tháng 3 năm 1968, ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Phong Dinh (nay là Tp Cần Thơ) thay thế Trung tá Phạm Bá Hoa.[2] Ngay sau khi nhậm chức Tỉnh trưởng Phong Dinh, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Tử trậnSửa đổi

Sáng ngày 19 tháng 7 năm 1970, ông tử trận do trúng đạn B40 của địch quân phục kích tại Rạch Gói, Tầm Vu khi đang ngồi trên xe Jeep trên đường đến khánh thành ngôi trường Tiểu học tại một xã thuộc tỉnh Phong Dinh. Hưởng dương 46 tuổi.

Ông được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng và truy tặng đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương.

Tang lễ được tổ chức theo Lễ nghi Quân cách của một tướng lãnh. An táng tại Nghĩa trang Gia tộc ở Long Hồ, Vĩnh Long (nay thuộc phường 4, Tp Vĩnh Long).

Sau khi ông tử trận, Đại tá Lê Văn Hưng được bổ nhiệm thay thế ông làm tỉnh trưởng Phong Dinh.

Gia đìnhSửa đổi

Ông bà có năm người con gồm: 2 trai, 3 gái:
Nguyễn Thị Ngọc Bích, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Thị Bích Thủy, Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Thị Thanh Loan.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Thiếu tá Khưu Ngọc Tước tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Thủ Đức.
  2. ^ Trung tá Phạm Bá Hoa sinh năm 1930 tại Sóc Trăng, tốt nghiệp khóa 5 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Sau cùng là Đại tá Tham mưu trưởng Tổng cục Tiếp vận.
  3. ^ Trung tá Nguyễn Văn Bia sinh năm 1933 tại Vĩnh Long, tốt nghiệp khóa 10 Võ bị Đà Lạt. Sĩ quan Hành chánh Tài chánh.
  4. ^ Trung tá Phạm Thành Gia sinh năm 1931 tại Bạc Liêu, tốt nghiệp khóa 5 Võ bị Đà Lạt. Nguyên Chánh sự vụ Sở Nội dịch Phủ Tổng thống, giải ngũ năm 1973.

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.