Song Tử (chòm sao)

chòm sao Hoàng Đạo

Song Tử (hay Gemini) là một trong những chòm sao của Đai Hoàng Đạo và nằm ở bán cầu bắc. Nó là một trong 48 chòm sao được mô tả bởi nhà thiên văn học Ptolemy vào thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên, nó vẫn là một trong 88 chòm sao hiện đại ngày nay. Tên của nó là tiếng Latinh của twins (cặp song sinh), nó được gắn liền với cặp song sinh Castor và Pollux trong thần thoại Hy Lạp. Kí hiệu của nó là ♊︎ (kí tự Unicode: ♊).

Song Tử
Gemini
Chòm sao
Gemini
Viết tắtGem
Sở hữu cáchGeminorum
Phát âm/ˈɛmɪn/
genitive /ˌɛmɪˈnɒrəm/
Hình tượngthe Twins, Castor and Pollux
Xích kinh7h h
Xích vĩ+20°°
Vòng tròn phần tưNQ2
Diện tích514 độ vuông (thứ 30)
Sao chính8,17
Những sao
Bayer/Flamsteed
80
Sao với ngoại hành tinh8
Sao sáng hơn 3,00m4
Những sao trong vòng 10,00 pc (32,62 ly)4
Sao sáng nhấtPollux (β Gem) (1.15m)
Sao gần nhấtGliese 251[1]
(17.99 ly, 5.52 pc)
Thiên thể Messier1
Mưa sao băngGeminids
Rho Geminids
Giáp với
các chòm sao
Thiên Miêu
Ngự Phu
Kim Ngưu
Lạp Hộ
Kỳ Lân
Tiểu Khuyển
Cự Giải
Nhìn thấy ở vĩ độ giữa +90° và −60°.
Nhìn thấy rõ nhất lúc 21:00 (9 giờ tối) vào tháng tháng 2.

Vị tríSửa đổi

 
Chòm sao Song Tử có thể được nhìn thấy với mắt thường với các đường liên kết được thêm vào.
 
AFGL 5180 - Through the Clouds (Xuyên qua Đám mây).[2]
 
Một hoạt ảnh của chòm sao Song Tử (ở giữa), "cặp song sinh", cho thấy hai hình que song song giữa Song Tử gắn liền với thần thoại Castor và Polydeuces (cũng được biết là Pollux), được gọi chung là Dioscuri.[3][4]

Song Tử nằm giữa Kim Ngưu ở phía tây, với Cự Giải ở phía đông, với Ngự PhuThiên Miêu ở phía bắc, Kỳ LânTiểu Khuyển ở phía nam và Lạp Hộ ở phía đông nam. In classical antiquity, Cự Giải was the location of the Sun on the first day of summer (21 tháng 6). During the first century AD, axial precession shifted it into Gemini. Vào năm 1990, the location of the Sun on the first day of summer moved from Gemini into Taurus, where it will remain until the 27th century AD and then move into Bạch Dương. Mặt Trời sẽ di chuyển qua Song Tử từ 21 tháng 6 đến 20 tháng 7 đến 2062.[5]

Song Tử hiện diện nổi bật trên bầu trời vào mùa đông ở Bắc bán cầu và có thể nhìn thấy suốt đêm từ tháng 12 đến tháng 1. Cách dễ nhất để xác định vị trí của chòm sao là tìm hai ngôi sao sáng nhất của nó: CastorPollux về phía đông từ khoảnh sao hình chữ V quen thuộc (cụm sao mở Hyades) của Kim Ngưa và ba ngôi sao của Orion's Belt (Alnitak, AlnilamMintaka). Một cách khác là vẽ một đường thẳng từ cụm sao Tua Rua nằm ở Kim Ngưu và ngôi sao sáng nhất trong Sư Tử, Regulus. Khi làm như vậy, một đường thẳng tưởng tượng tương đối gần với Hoàng đạo được vẽ, một đường cắt Song Tử gần như ở điểm giữa của chòm sao, ngay bên dưới ngôi sao Castor và Pollux.

Khi Mặt Trăng di chuyển qua Song Tử, chuyển động của nó có thể dễ dàng được quan sát trong một đêm khi nó xuất hiện trước ở phía tây của Castor và Pollux, sau đó xếp thẳng hàng và cuối cùng xuất hiện ở phía đông của hai ngôi sao.

FeaturesSửa đổi

StarsSửa đổi

The constellation contains 85 stars of naked eye visibility.[6][7]

The brightest star in Gemini is Pollux, and the second-brightest is Castor. Castor's Bayer designation as "Alpha" arose because Johann Bayer did not carefully distinguish which of the two was the brighter when he assigned his eponymous designations in 1603.[8] Although the characters of myth are twins, the actual stars are physically very different from each other.

α Gem (Castor) is a sextuple star system 52 light-years from Earth, which appears as a magnitude 1.6 blue-white star to the unaided eye. Two spectroscopic binaries are visible at magnitudes 1.9 and 3.0 with a period of 470 years. A wide-set red dwarf star is also a part of the system; this star is an Algol-type eclipsing binary star with a period of 19.5 hours; its minimum magnitude is 9.8 and its maximum magnitude is 9.3.

β Gem (Pollux) is an orange-hued giant star of magnitude 1.14, 34 light-years from Earth. Pollux has an extrasolar planet revolving around it, as do two other stars in Gemini, HD 50554, and HD 59686.

γ Gem (Alhena) is a blue-white hued star of magnitude 1.9, 105 light-years from Earth.

δ Gem (Wasat) is a long-period binary star 59 light-years from Earth. The primary is a white star of magnitude 3.5, and the secondary is an orange dwarf star of magnitude 8.2. The period is over 1000 years; it is divisible in medium amateur telescopes.

ε Gem (Mebsuta), a double star, includes a primary yellow supergiant of magnitude 3.1, nine hundred light-years from Earth. The optical companion, of magnitude 9.6, is visible in binoculars and small telescopes.[8]

ζ Gem (Mekbuda) is a double star, whose primary is a Cepheid variable star with a period of 10.2 days; its minimum magnitude is 4.2 and its maximum magnitude is 3.6. It is a yellow supergiant, 1,200 light-years from Earth, with a radius that is 60 times solar, making it approximately 220,000 times the size of the Sun. The companion, a magnitude 7.6 star, is visible in binoculars and small amateur telescopes.

η Gem (Propus) is a binary star with a variable component. 380 light-years away, it has a period of 500 years and is only divisible in large amateur telescopes. The primary is a semi-regular red giant with a period of 233 days; its minimum magnitude is 3.9 and its maximum magnitude is 3.1. The secondary is of magnitude 6.[8]

κ Gem is a binary star 143 light-years from Earth. The primary is a yellow giant of magnitude 3.6; the secondary is of magnitude 8. The two are only divisible in larger amateur instruments because of the discrepancy in brightness.

ν Gem is a double star divisible in binoculars and small amateur telescopes. The primary is a blue giant of magnitude 4.1, 550 light-years from Earth, and the secondary is of magnitude 8.

38 Gem, a binary star, is also divisible in small amateur telescopes, 84 light-years from Earth. The primary is a white star of magnitude 4.8 and the secondary is a yellow star of magnitude 7.8.[8]

U Gem is a dwarf nova type cataclysmic variable discovered by J. R. Hind in 1855.[9]

Mu Gem (Tejat) is the Bayer designation for a star in the northern constellation of Gemini. It has the traditional name Tejat Posterior, which means back foot, because it is the foot of Castor, one of the Gemini twins.

Deep-sky objectsSửa đổi

Deep sky objects
 
Messier 35 and NGC 2158
 
Medusa Nebula
 
NGC 2392
 
Medusa Nebula

M35 (NGC 2168) is a large, elongated open cluster of magnitude 5, discovered in the year 1745 by Swiss astronomer Philippe Loys de Chéseaux. It has an area of approximately 0.2 square degrees, the same size as the full moon. Its high magnitude means that M35 is visible to the unaided eye under dark skies; under brighter skies it is discernible in binoculars. The 200 stars of M35 are arranged in chains that curve throughout the cluster; it is 2800 light-years from Earth. Another open cluster in Gemini is NGC 2158. Visible in large amateur telescopes and very rich, it is more than 12,000 light-years from Earth.[8]

NGC 2392 is a planetary nebula with an overall magnitude of 9.2, located 4,000 light-years from Earth.[10] In a small amateur telescope, its 10th magnitude central star is visible, along with its blue-green elliptical disk. It is said to resemble the head of a person wearing a parka.[8]

Tinh vân Medusa là một tinh vân ngoại hành tinh cách Trái Đất khoảng 1,500 năm ánh sáng. Geminga là một sao neutron cách Trái Đất khoảng 550 năm ánh sáng. Các vật thể khác bao gồm NGC 2129, NGC 2158, NGC 2266, NGC 2331, NGC 2355NGC 2355.

Mưa sao băngSửa đổi

Geminids là trận mưa sao băng sáng nhất đạt đỉnh vào ngày 13-14 tháng 12. It has a maximum rate of approximately 100 meteors per hour, making it one of the richest meteor showers.[8] The Epsilon Geminids peak between October 18 and October 29 and have only been recently confirmed. They overlap with the Orionids, which make the Epsilon Geminids difficult to detect visually. Epsilon Geminid meteors have a higher velocity than Orionids.[11]

Tên gọiSửa đổi

Theo thần thoại Hy Lạp chòm sao mang hình ảnh hai vị anh hùng, hai anh em cùng mẹ (Leda) nhưng khác cha. Castor ứng với sao Castor và Polydeukes/Pollux ứng với sao Pollux. Castor là con của Tyndareus còn Pollux là con của Zeus, chúa tể trong tất cả mười hai vị thần trên đỉnh Olympus. Đó là hai đứa trẻ trung hậu, rất dũng cảm và cùng nhau nổi danh khi lập được nhiều chiến công hiển hách trong cuộc hành trình của nhóm thủy thủ tàu Argo vĩ đại, và trong biết bao cuộc phiêu lưu khác. Bất kể khi nào, hai anh em luôn luôn tìm cách giúp đỡ lẫn nhau. Trong một trận đánh, Castor bị tử trận sau một vết thương rất đau đớn. Trong nỗi buồn vô hạn, Pollux đã cố gắng tự sát theo anh. Nhưng do Pollux được thừa hưởng dòng máu của Zeus vua cha, nên là một chiến binh bất tử. Khi không còn cách nào nữa, cậu bé thốt lên lời khóc: "Hãy để con chết thay Castor, thưa cha!". Zeus thương tiếc vô cùng, đã đồng ý cho họ thay phiên nhau mỗi người được sống một ngày và đưa họ cùng bay lên bầu trời. Hai anh em hóa thành chòm sao Gemini, mỗi một ngày một người sẽ được sống trên thiên đàng và là ngôi sao được tỏa sáng, ngôi sao còn lại không sáng vì người kia lúc ấy đang ở trần gian. Cũng kể từ đó chòm sao Song Sinh được coi là biểu tượng cho tình bạn, tình anh em. Đó chính là lý do người ta đặt tên Pollux và Castor là 2 ngôi sao sáng nhất trên của chòm sao này, tượng trưng cho 2 người anh hùng.

Đặc điểmSửa đổi

Chòm sao Song Tử là địa điểm may mắn trên thiên cầu cho việc phát hiện các hành tinh mới. William Herschel tìm ra Sao Thiên Vương vào năm 1781 gần sao Eta (η) Geminorum. Cũng trong chòm sao này Clyde William Tombaugh tìm ra Sao Diêm Vương vào năm 1930 gần sao Đelta (δ) Geminorum.

Tuy mang ký hiệu Alpha (α) Geminorum, sao Castor là sao sáng thứ hai trong chòm sao Song Tử, sau sao Pollux, ký hiệu Beta (β) Geminorum. Castor là sao đôi, có thể quan sát các sao thành phần bằng kính viễn vọng cỡ nhỏ, các sao thành phần cách nhau khoảng ba giây cung.

Sao Eta (η) Geminorum là sao biến đổi có thể nhìn bằng mắt thường, với cấp sao biểu kiến từ 3,2 đến 3,9 m và chu kỳ hơn tám tháng.

Gần ranh giới với chòm sao Kim Ngưu có thể tìm thấy cụm sao mở M35 bằng ống nhòm, bên cạnh nó (khoảng cách biểu kiến) là cụm sao mở NGC 2158, nhìn qua kính viễn vọng nhỏ chỉ là một vết sáng mờ. Thực tế NGC 2158 cách Trái Đất 16000 ly, xa hơn M35 năm lần.

Tuy chòm sao chỉ đứng thứ 30 về diện tích, Song Tử có tới 70 sao có thể quan sát bằng mắt thường ứng (cấp sao biểu kiến nhỏ hơn 6m). Chòm sao Song Tử còn dễ nhận ra trên bầu trời đêm nhờ các chòm sao nổi bật nằm kề là Tiểu KhuyểnLạp Hộ.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “ARI Data Base For Nearby Stars”. Astronomisches Rechen-Institut Heidelberg. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012.
  2. ^ “Through the Clouds”. esahubble.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2021.
  3. ^ “K12.mi.us”. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2012.
  4. ^ Constellation drawings (often but not always) following "The Stars - A new way to see them", H.A. Rey, 1952–1980, ISBN 0-395-24830-2.
  5. ^ https://www.livescience.com/4667-astrological-sign.html
  6. ^ Elijah H. Burritt - The geography of the heavens and class book of astronomy: Accompanied by a celestial atlas Huntington, 1840 Retrieved 2012-06-25
  7. ^ E Colbert Astronomy without a telescope: being a guide-book to the visible heavens, with all necessary maps and illustrations George & C.W. Sherwood, 1869 Retrieved 2012-06-27
  8. ^ a b c d e f g Ridpath & Tirion 2017, tr. 152-154.
  9. ^ “U Geminorum”. AAVSO. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2012.
  10. ^ Levy 2005, tr. 126.
  11. ^ Jenniskens, Peter (tháng 9 năm 2012). “Mapping Meteoroid Orbits: New Meteor Showers Discovered”. Sky & Telescope: 22.

Nguồn sáchSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

  1. A Spring Sky Over Hirsau Abbey
  2. The Eskimo Nebula from Hubble
  3. The Medusa Nebula
  4. Open Star Clusters M35 and NGC 2158
  5. NGC 2266: Old Cluster in the NGC