Thảo luận:Nhà Hồ

Thêm thảo luận
Thảo luận hiện tại

Phần đóng góp của 58.187.19.163Sửa đổi

"...giết vua nhà Trần để chiếm ngôi, gây nên bất bình và chia rẽ sâu sắc trong dân chúng, cũng như thực hiện các chính sách bất hợp lý (dời đô, dùng tiền giấy, thậm chí cả chính sách hạn chế nô dịch... mà các nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng chủ yếu phục vụ cho lợi ích chiến tranh)." -> xin cho biết nhà nghiên cứu nào, đưa ra ý kiến ở đâu, lý luận và chứng thực thế nào. Tôi thấy phê bình một chiều thái quá kiểu đó không có sức thuyết phục. Nguyễn Thanh Quang 16:50, ngày 25 tháng 11 năm 2005 (UTC)

Thắc mắcSửa đổi

Cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy 1 quan 2 tiền giấy. có nghĩa gì? Nguyễn Hữu Dng 17:42, ngày 30 tháng 12 năm 2005 (UTC)

Hồ Hán ThươngSửa đổi

Hồ Hán Thương có quan hệ gì với Hồ Quý Ly (con, em, cháu)? Tại sao Quý Ly lại nhường ngôi cho Hán Thương chưa đầy 1 năm sau khi giành ngôi? Nguyễn Hữu Dng 20:49, ngày 30 tháng 12 năm 2005 (UTC)

Hồ Hán Thương là con trai thứ hai của Hồ Quý Ly. Có thể là do sức ép của nhà Minh khi họ cho rằng Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần là tội "khi quân" nhằm lấy cớ để đem quân sang "hỏi tội" (thực chất là xâm chiếm) nên Hồ Quý Ly mới nghĩ ra kế này để đối phó với họ do mẹ Hồ Hán Thương là Huy Ninh công chúa, con gái của Trần Minh Tông. ĐVSKTT viết ...sai sứ sang báo nhà Minh, nói rằng họ Trần đã tuyệt tự, Hán Thương là cháu ngoại Minh Tông, tạm trông coi việc nước. Vương Ngân Hà 00:41, ngày 31 tháng 12 năm 2005 (UTC)

Đời Nhà HồSửa đổi

Trong loạt bài Lịch sử Việt Nam có ghi là: Nhà Hồ (1400 - 1406). Theo tôi phải sửa thành (1400 - 1407) mới đúng chứ. Great Student of Hippocrates 12:42, ngày 25 tháng 5 năm 2006 (UTC) Ông Hồ Hán Thương trì vì từ 1401-1407. Thời đại nhà Hồ đến năm 1407.

Thành lậpSửa đổi

Bài này khá đầy đủ nội dung phần trị vì và chống Minh của nhà Hồ, tiếc rằng chưa đề cập tới phần đầu: lịch sử thành lập. Vì vậy nội dung về việc thành lập nhà Hồ cần được bổ sung.--Trungda 09:54, 1 tháng 11 2006 (UTC)

Hịch kể tội của nhà MinhSửa đổi

Ngày 9 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 4 [19/11/1406]

Ngày hôm nay bọn chinh thảo An-Nam Hữu Phó-Tướng-quân Tân-Thành-hầu Trương Phụ điều quân xuất phát từ Bằng-Tường, vượt quan ải Pha-Lũy hướng vào An-Nam tế cáo sông núi nước này:

“Giặc họ Lê giết vua, bạo ngược với dân, tội lớn như biển.”

Rồi sai Đô-đốc Đồng-tri Hàn Quan đóng quân tại quan ải; đôn đốc quan binh các xứ tại tỉnh Quảng-Tây vận lương, sửa đường, chặt cây làm cầu. Lệnh du binh trinh sát, sai bọn Ưng Dương Dương Tướng-quân Đô-đốc Thiêm-sự Lữ Nghị mang đạo quân tiền tiêu đến Ải-Lưu. Chỗ này lực lượng giặc hơn 3 vạn tên, dựa vào núi đóng trại, đào hào đắp lũy; chúng bắn tên độc, lăn đá, chặt cây cố thủ. Lữ Nghị đốc quân tiến công, dùng thuẫn che xông lên, chém 40 thủ cấp, bắt sống hơn 60 tên, số còn lại bỏ chạy. Đại quân vượt ải, rồi cho binh chiếm giữ. Trương Phụ lãnh ý Thiên-tử, truyền hịch cho quan lại và quân dân An-Nam như sau:

“An-Nam kề cận Trung-Quốc, từ khi Hoàng-khảo Thái-tổ Hoàng-đế lãnh mệnh trời thống nhất đất nước, Vương nước này là Trần Nhật Khuê [1] qui thuận trước tiên, được phong tước ban ân, đời đời truyền cho con cháu. Rồi nghịch tặc cha con Lê Quí Ly làm đại thần phụ chính, chuyên quyền phản phúc, giết chúa soán ngôi. Quí Ly đổi tên họ là Hồ Nhất Nguyên, con Lê Thương đổi là Hồ Đê; mạo kết hôn nhân với họ Trần để thừa cơ gây uy phúc, giết chúa hãm hại suốt cả nhà; lăng loàn tàn bạo khắp nước, đến thảo mộc cầm thú cũng không được yên, trời đất quỉ thần đều chung lòng giận dữ.

Lúc Hoàng-thượng mới lên ngôi, vốn rộng lòng quyến luyến kẻ xa xôi. Cha con giặc họ Lê bèn rắp mưu gian, sai sứ đến triều đình tâu rằng: Con cháu họ Trần đã hết, y là cháu [ngoại], xin tạm quyền việc nước.

Triều đình vốn cả tin, cho là có lòng thành, nên chấp nhận. Rồi người cháu của Vương An-Nam bị bách bức, chạy trốn sang Lão-Qua, đến kinh sư tố cáo tội ác. Lúc đầu triều đình chưa tin, sau đó cho Sứ-thần An-Nam gặp, viên sứ không quên chủ cũ, lại biết được sự sai trái gian dối của giặc, cảm động vui buồn lẫn lộn, tìm cách an ủi chủ. Thiên-tử bèn ban tỷ thư [2], định hưng binh thảo phạt. Cha con giặc họ Lê biết quốc chúa hiện còn, lại lo thiên binh sắp tru phạt, nên sai Sứ xin tha tội, và gian dối xin đón về nước để tôn lên làm vua.

Triều đình vẫn tin và không nghi, bỏ qua tội cũ, khen là biết đổi mới; rồi chấp nhận lời xin, sai Sứ-giả mang 5000 quân hộ tống trở về nước. Nhưng cha con nhà họ Lê rắp mưu gây họa, dùng quân mai phục chống lại Thiên binh, cản trở Thiên-sứ, bắt giết cháu của viên Quốc-vương xưa. Sứ-thần về tâu, Thiên-tử hết sức giận dữ, bèn sai tướng mang 80 vạn quân tiễu trừ nghịch tặc. Phàm đạo quân trừ bạo, cần kê rõ ràng mọi tội lỗi:

Cha con Lê Quí Ly hai lần giết Quốc-vương An-Nam để chiếm nước này, đó là tội thứ nhất.

Chúng giết sạch con cháu nhà Trần, tội thứ hai.

Không tuân theo lịch Chính Sóc của triều đình, tiếm gọi tên nước Đại-Ngu, xưng càn tôn hiệu kỷ nguyên là Nguyên Thánh; tội thứ ba.

Xem người trong nước như cừu thù, đặt hình pháp tàn bạo giết kẻ vô tội, vơ vét thuế má, trưng thu phiền hà; bóc lột không ngừng khiến dân đói khổ, hoặc chết vùi nơi ngòi rãnh, hoặc bỏ trốn nơi tha phương; tội thứ tư.

Chúng vốn họ Lê, bội phản tổ tông đổi sang họ khác; tội thứ năm.

Lấy cớ bà con với họ Trần, xưng tạm quyền quốc sự để lừa dối triều đình; tội thứ sáu.

Nghe tin cháu Quốc-vương cũ tại kinh sư, giả dối xin đem về nước để tôn lên làm vua. Triều đình bỏ qua lỗi cũ, chấp nhận lời xin; rồi lập mưu gian, chống cự Thiên binh, cản trở Thiên sứ; tội thứ bảy.

Cháu Quốc-vương An-Nam bị bức bách trốn tránh, trải qua nguy hiểm trăm phần chết một phần sống; được Hoàng-thượng thương xót tư cấp và cho hộ tống về nước. Cha con giặc họ Lê không biết cảm động hối hận, bèn dẫn dụ để giết. Việc làm nghịch với trời, hủy diệt đạo lý; tội thứ tám.

Châu Ninh-Viễn [3] đời đời triều cống Trung-Quốc. Giặc họ Lê cậy mạnh chiếm 7 trại; rồi cai trị dân chúng, giết cả nam lẫn nữ; tội thứ chín.

Giết rể của Thổ-quan Đèo Cát Hãn là Đèo Mãnh Mạn; bắt con gái y để dễ bề sai khiến, đòi nạp tiền, phục dịch trăm thứ; tội thứ mười.

Uy hiếp bức bách Thổ-quan phục dịch, phát binh bắt bớ di dân khiến họ sợ phải bỏ trốn; tội thứ mười một.

Xâm chiếm đất thuộc phủ Tư-Minh, Lộc châu, Tây-Bình châu, trại Vĩnh-Bình. Triều đình sai sứ đòi lại, thì dùng lời lẽ chống chế, chỉ trả lại không đến hai hoặc ba phần mười; tội thứ mười hai.

Sau khi trả đất, lại sai đồ đảng đến cướp giết mệnh quan của triều đình tại châu Tây-Bình, cùng mưu cướp phá tại tỉnh Quảng-Tây; tội thứ mười ba.

Trong lúc Quốc-vương Chiêm-Thành là Chiêm Bà đang lo việc tang cha, bèn mang quân đến đánh các đất Cách-Liệt, châu cũ của Chiêm-Thành; tội thứ mười bốn.

Đánh 4 châu của Chiêm-Thành tại Bản-Đạt-Lang Bạch-Hắc, cướp bắt dân chúng và súc vật; tội thứ mười lăm.

Lại mang quân đến Chiêm-Thành, bắt hơn 100 con voi, cùng chiếm các đất Chiêm-Sa, Ly-Nha; tội thứ mười sáu.

Chiêm-Thành đã là Phiên-thần của Trung-Quốc, nhận ấn chương phẩm phục của triều đình. Giặc họ Lê lại tự chế ấn mạ vàng bạc, cửu chương, phẩm phục, dây đeo ngọc để ép ban cho; tội thứ mười bảy.

Quốc-vương Chiêm-Thành chỉ tôn kính nhà Minh, không tôn trọng An-Nam. Vì lý do này nên một năm hai lần, mang binh đến đánh; tội thứ mười tám.

Thiên-sứ sai Sứ Chiêm-Thành cùng đi. Giặc họ Lê dùng binh cướp tại Thị-Côn-Nại [Thị-Nại]; tội thứ mười chín.

Triều cống Trung-Quốc không dùng Bồi-thần. Sai những tội nhân giả mạo làm quan chức đi sứ, thái độ khinh mạn bất kính; tội thứ hai mươi.

Đó là những tội lớn, kỳ dư không cần nói thêm; chỉ riêng cha con nhà họ Lê không theo đạo quân thần đã là tội tày trời, xét về lý không thể dung được. Dân trong nước lâm vào cảnh hà khắc, độc hại chất chứa từ năm này đến năm khác, tình cảnh thực đáng thương xót. Thiên binh đến để cứu dân bị khốn khổ, khôi phục con cháu họ Trần, nên đã nghiêm sức các tướng sĩ mảy may cũng không được xâm phạm; những nơi đi qua mọi người nên yên ổn như thường, chớ nên nghi ngờ sợ hãi. Những kẻ bị uy hiếp ra làm quan vẫn được giữ yên chức vụ, không bị bắt tội. Nếu cùng với kẻ ác hợp mưu; nay biết lỗi lầm, sửa theo điều thuận, được chấp thuận cho đổi mới và vẫn giữ quan chức như cũ. Những người tại nước khác đến kinh doanh buôn bán tại An-Nam, hoặc bị câu lưu, hãy đến cửa quan tự trình bày để được hộ tống trở về nước; những kẻ muốn lưu lại buôn bán, cũng được chấp thuận. Nếu vì dân nước này làm phúc, bắt sống được cha con giặc họ Lê đem đến cửa quân sẽ được ban tước hậu thưởng. Kẻ dám hôn mê bất tuân, theo ác cự mệnh, Thiên binh một lần hươi qua lên, quét sạch không để sót. Đợi ngày cha con Hồ Quí Ly bị bắt, sẽ hội họp bách quan, tướng lại, kỳ lão trong nước tuyển cầu con cháu nhà Trần, nối lại Vương tước, rửa sạch mối oan khiên vùi xuống đất, cởi bỏ sự đàn áp hành hạ trong nước, trên xứng với lòng nhân của Hoàng-thượng, dưới đáp ứng được nguyện vọng của các ngươi. [4]

[1]Vua Trần Dụ Tông. [2]Tỷ thư: Thư của vua có đóng dấu ấn tỷ. [3]Theo Đại Việt sử ký toàn thư, châu Ninh-Viễn tức Mường-Lễ. Tù-trưởng là Đèo Cát Hãn sau này hàng vua Lê Thái Tổ, nên Mường-Lễ được đổi là châu Phục-Lễ, nay thuộc tỉnh Lai-Châu. [4]Minh thực lục, quyển 60, trang 866.

Thành nhà Hồ hay nhà Hồ?Sửa đổi

Tôi thấy bài viết này đọc cứ như viết về nhà Hồ vậy? Tại sao các nội dung chính như vị trí địa lý, giá trị nổi bật về kiến trúc của thành hay quy hoạch xây dựng bảo tồn lại không được viết vao bài nhỉ? Nên xóa bớt nội dung nhất là mục kinh tế xã hội đi để tránh rườm rà,dài dòng cho bài viếtKien1980v (thảo luận) 00:37, ngày 4 tháng 10 năm 2009 (UTC)

Quay lại trang “Nhà Hồ”.