Thang Cổ Đại (tiếng Mãn: ᡨᠠᠩᡤᡡᡩᠠᡳ, âm Mãn: Tanggvdai, chữ Hán: 湯古代, bính âm: Tanggūdai, 24 tháng 12 năm 1585 - 3 tháng 11 năm 1640), Ái Tân Giác La, là Hoàng tử và nhà quân sự thời kỳ đầu nhà Thanh.

Thang Cổ Đại
汤古代
Trấn quốc Tướng quân
Thông tin chung
Chính thấtPhú Sát thị
Kế thấtQua Nhĩ Giai thị
Hậu duệTam đẳng Trấn quốc Tướng quân Niếp Khắc Tắc
Nhị đẳng Khác Cung Trấn quốc Tướng quân Mục Nhĩ Sát
Thụy hiệu
Phụ quốc Khắc Khiết công
Thân phụNỗ Nhĩ Cáp Xích
Thân mẫuThứ phi Nữu Hỗ Lộc thị
Sinh(1585-12-24)24 tháng 12, 1585
Năm Minh Vạn Lịch thứ 13, ngày 4 tháng 11
Mất3 tháng 11, 1640(1640-11-03) (54 tuổi)
Năm Sùng Đức thứ 5, ngày 20 tháng 9

Thân thếSửa đổi

Thang Cổ Đại sinh vào ngày 4 tháng 11 (âm lịch) năm Minh Vạn Lịch thứ 13 (1585). Ông con trai thứ tư của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, mẹ là Thứ phi Nữu Hỗ Lộc thị, con gái Bác Khắc Chiêm (博克瞻).

Sự nghiệpSửa đổi

Thang Cổ Đại phục vụ Hoàng Thái Cực, được thụ phong Cố Sơn Ngạch Chân (固山额真). Sau khi tấn công bốn thành Vĩnh Bình, Thang Cổ Đại cùng Đỗ Nhĩ Cách và Nạp Mục Thái trấn thủ Loan Châu. Năm Thiên Thong thứ 4 (1630), quân Minh tập kích Loan Châu, Nhị Bối lặc A Mẫn nhát gan không dám cứu viện, chỉ phái Ba Đô Lễ suất lĩnh mấy trăm người phá vòng vây, đêm hôm đó tiến vào Loan Châu. Sau đó, quân Minh dùng đại pháo phá hư tường thành, thành lâu bốc cháy và đám người Thang Cổ Đại buông tha thành trì, đến cậy nhờ Vĩnh Bình. Sau khi trở về, Hoàng Thái Cực định hỏi tội, Thang Cổ Đại chủ động đến thỉnh tội xin chết. Hoàng Thái Cực nói:

Sau khi luận tội, Thang Cổ Đại được miễn tội chết, nhưng bị bãi miễn Cố Sơn Ngạch Chân, tước đoạt ngưu lục, tịch thu gia sản.

Năm Thiên Thông thứ 8 (1634), thụ phong Tam đẳng Mai Lặc Chương Kinh (三等梅勒章京). Năm Sùng Đức thứ 4 (1639), phong làm Tam đẳng Trấn quốc Tướng quân.

Năm Sùng Đức thứ 5 (1640), ngày 20 tháng 9, Thang Cổ Đại qua đời vì bệnh, thuỵ hào "Khắc Khiết" (克洁).[1]

Trong những năm Thuận Trị, Thang Cổ Đại được truy phong Phụ quốc công.

Gia đìnhSửa đổi

Thê thiếpSửa đổi

  • Chính thất: Phú Sát thị, con gái Diệp Khắc Ba Yến (叶克巴晏).[2]
  • Kế thất: Qua Nhĩ Giai thị, con gái Duẫn Đạt Hỗ Tề (尹达祜齐).[2]
  • Thiếp:
    • Khoa Nhĩ Thấm Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị, con gái Tháp Phổ Tắc Lăng (塔普则楞).[2]
    • Nữu Hỗ Lộc thị, con gái Cáp Đương A (哈当阿).[2]
    • Diệp Hách Na Lạp thị, con gái Bản Thái (本泰).[2]

Hậu duệSửa đổi

  1. Tam đẳng Trấn quốc Tướng quân Niếp Khắc Tắc (聂克塞, 1601 - 1666), mẹ là Phú Sát thị. Tập tước Tam đẳng Phụng quốc Tướng quân từ Mục Nhĩ Sát. Có công theo Đa Đạc chiếm Ninh Viễn, theo Đa Nhĩ Cổn bình định Kinh sư, truy đổi Lý Tự Thành đến Khánh Đô, tiến Trấn quốc công. Sau bị hàng xuống Tam đẳng Phụng quốc Tướng quân.[3]
    • Đích thê: Nạp Lạt thị, con gái Tham Lĩnh Ba Hỉ Nạp Lạt (巴喜纳喇).
    • Kế thê: Nạp Lạt thị, con gái Thị Lang Khố Đạt Lý (库达里).
    • Trưởng tử: Ngạch Đằng (额滕), mất sớm.
  2. Nhị đẳng Khác Cung Trấn quốc Tướng quân Mục Nhĩ Sát (穆尔察, 1611 - 1649), mẹ là Qua Nhĩ Giai thị. Sơ phong Tam đẳng Trấn quốc Tướng quân, tập tước, tiến Nhị đẳng.[4]
    • Đích thê: Đổng Ngạc thị, con gái Trát Nhĩ Đại (扎尔岱).

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Thanh sử cảo, quyển 217”. 镇国克洁将军汤古代, 太祖第四子. 事太宗, 授固山额真. 取永平四城, 汤古代偕图尔格, 纳穆泰守滦州. 天聪四年, 明兵攻滦州急, 贝勒阿敏怯不敢援, 遣巴都礼率数百人突围进, 夜三鼓, 入滦州. 既, 明兵以炮坏城, 城楼火, 汤古代等弃城奔永平. 既还, 太宗廷诘之, 汤古代引罪请死. 太宗曰: "汝不能全师而归, 杀汝何益?" 下所司论罪, 免死, 罢固山额真, 夺所属人口, 籍其家. 八年, 授三等梅勒章京. 崇德四年, 封三等镇国将军. 五年, 卒. 
  2. ^ a ă â b c 愛新覺羅宗譜》乙冊,4351頁
  3. ^ “Thanh sử cảo, quyển 217”. 聂克塞, 袭穆尔察三等奉国将军. 从多铎略宁远, 从多尔衮定京师, 逐李自成至庆都, 皆有功, 累进镇国公. 坐事降三等镇国将军. 康熙四年, 卒. 无子, 爵除. 
  4. ^ “Thanh sử cảo, quyển 217”. 穆尔察, 初封三等奉国将军, 袭爵, 进二等. 卒, 谥恪恭 

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi