Trận Midway là một trận hải chiến quan trọng trong thế chiến thứ hai tại chiến trường Thái Bình Dương, diễn ra ngày từ ngày 4 tháng 67 tháng 6 năm 1942. Hai bên tham chiến là hạm đội Nhật Bản và hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ với giao tranh giữa 4 tàu sân bay của Hạm đội Hàng không thứ Nhất và 3 tàu sân bay của Lực lượng tác chiến số 1617. Chỉ một tháng sau trận chiến biển Coral quyết định, hải quân Hoa Kỳ đã đánh bại một cuộc tấn công nữa của Hải quân Nhật Bản tại đảo san hô Midway, đánh dấu bước ngoặt trong chiến tranh Thái Bình Dương (1937–1945). Về những hệ quả ngắn hạn và dài hạn mà nó đem lại, nó là một trong những trận chiến hải quân quan trọng nhất ở vùng Thái Bình Dương, và có lẽ trong cả Chiến tranh thế giới thứ hai.

Trận chiến Midway
Một phần của Chiến tranh Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Các máy bay Hoa Kỳ đang bay tới "Mikuma" đang bốc cháy (Giữa).
Các máy bay ném bom bổ nhào Douglas SBD Dauntless của Hoa Kỳ tại Midway
Thời gian 4 tháng 67 tháng 6 năm 1942
Địa điểm Khu vực Đảo Midway
Kết quả Thắng lợi quan trọng của Hoa Kỳ [1]
Tham chiến
 Hoa Kỳ  Nhật Bản
Chỉ huy và lãnh đạo
Hoa Kỳ Chester W. Nimitz
Hoa Kỳ Frank J. Fletcher
Hoa Kỳ Raymond A. Spruance
Nhật Bản Isoroku Yamamoto
Nhật Bản Nobutake Kondō
Nhật Bản Chūichi Nagumo
Nhật Bản Tamon Yamaguchi 
Nhật Bản Ryusaku Yanagimoto 
Lực lượng
3 tàu sân bay cỡ lớn
8 tàu tuần dương
15 tàu khu trục
16 tàu ngầm
233 máy bay trên tàu sân bay
127 máy bay từ căn cứ mặt đất
4 tàu sân bay cỡ lớn
2 thiết giáp hạm
~15 tàu hỗ trợ
248 máy bay[2]
16 thủy phi cơ

Không tham gia trong trận đánh:
2 tàu sân bay hạng nhẹ
5 thiết giáp hạm
~41 tàu hỗ trợ
Thương vong và tổn thất
1 tàu sân bay
1 tàu khu trục đắm
147 máy bay
307 thiệt mạng[3]
4 tàu sân bay, 1 tuần dương hạm đắm
1 tuần dương hạm hư hại

248 máy bay bị phá hủy[4]
3.057 thiệt mạng[5]

Cuộc tấn công của người Nhật vào Midway, cũng gồm một cuộc tấn công thứ hai nữa vào các cứ điểm tại quần đảo AleutAlaska bởi một hạm đội nhỏ hơn, là một âm mưu của Hải quân Nhật Bản để nhử hạm đội tàu sân bay Mỹ vào một cái bẫy để tiêu diệt. Nhờ vậy tiêu diệt một cách có hiệu quả hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, và đảm bảo ưu thế hải quân của Nhật trên Thái Bình Dương ít nhất cho tới cuối năm 1943. Như vậy, việc chiếm Midway sẽ đẩy xa thêm vành đai bảo vệ ra khỏi hòn đảo Nhật Bản. Thành công của chiến dịch này được coi là bước chuẩn bị cho những chiến dịch kế tiếp ở FijiSamoa, cũng thúc đẩy chiến dịch đánh chiếm Hawaii. Nếu người Nhật thành công trong mục tiêu Midway, vùng phía đông bắc vành đai Thái Bình Dương sẽ là vùng không có nguy cơ đối với Hải quân Nhật Bản. Nhờ vậy, chiến dịch Midway, cũng như cuộc tấn công Trân Châu Cảng đã mở ra chiến tranh, không phải là một phần của chiến dịch chinh phục nước Mỹ mà là để chiếm lấy sức mạnh chiến lược ở Thái Bình Dương, để người Nhật có thể rảnh tay thành lập vùng bá chủ của họ, được gọi là khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á. Trong những hoàn cảnh tốt nhất, họ hy vọng rằng người Mỹ sẽ bắt buộc phải tìm giải pháp đàm phán để chấm dứt Chiến tranh Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, như những gì đã xảy ra, trận chiến là một thất bại nặng nề cho người Nhật. Với việc bẻ gãy cuộc tiến công của quân Nhật, Hoa Kỳ đã đạt được thắng lợi quan trọng cho cả cuộc chiến.[1]

Hoàn cảnh chiến lượcSửa đổi

Nhật Bản đã rất thành công trong việc nhanh chóng hoàn thành các mục tiêu chiến tranh ban đầu của họ, gồm cả việc chinh phục Philippines, chiếm MalaysiaSingapore, chiếm giữ các vùng tài nguyên phong phú ở Java, BorneoIndonesia. Hiểu theo nghĩa thông thường, mở đầu cho một giai đoạn các chiến dịch thứ hai được bắt đầu sớm vào tháng 1 năm 1942. Tuy nhiên, vì có những khác biệt về chiến lược giữa hải quân và quân đội của họ, cũng như cuộc đấu tranh nội bộ giữa Tổng hành dinh của Hải quân và Hạm đội Liên hợp của Đô đốc Yamamoto, việc thành lập một chiến lược hiệu quả đã bị cản trở, và chiến lược tiếp theo không được cung cấp tài chính cho tới tận tháng 4 năm 1942..[6] Lúc đó, Đô đốc Yamamoto đã thành công trong cuộc đấu tranh trong giới quan trường để đưa khái niệm tác chiến của ông vào thực thi – đó là những chiến dịch tiếp theo ở vùng Trung Thái Bình Dương – trước khi các đối thủ khác có hành động tác chiến. Chúng gồm cả các chiến dịch khác cả trực tiếp hay gián tiếp nhằm vào Australia, cũng như các chiến dịch nhằm vào Ấn Độ Dương. Tuy nhiên, cuối cùng, Yamamoto đã công khai đe dọa từ chức trừ khi ông được tiếp tục kế hoạch của mình.[7]

Lo ngại chiến lược ban đầu của Yamamoto là sự loại trừ các lực lượng tàu sân bay của Mỹ hiện đang còn ở đó.[nb 1] Sự lo ngại này càng tăng thêm khi quân đội Hoa Kỳ tiến hành chiến dịch "không kích Doolittle" ném bom vào Tokyo (18 tháng 4 năm 1942) bằng các máy bay B-25 xuất phát tàu sân bay USS Hornet nhằm gây ra một cú sốc tâm lý lớn cho người dân Nhật và cho thấy rằng quân đội Nhật Bản quá mong manh để ngăn chặn các đợt tấn công vào Nhật Bản, khiến người dân hoài nghi vì các nhà lãnh đạo Nhật Bản vì họ tuyên bố rắng đất nước Nhật sẽ không bị xâm phạm.[8][nb 2] Yamamoto cho rằng một chiến dịch nhắm vào căn cứ tàu sân bay chính ở Trân Châu Cảng sẽ khiến họ phải chiến đấu.[9] Tuy nhiên, vì lực lượng không quân trên bộ của Hoa Kỳ hiện đang đóng ở Hawaii, Yamamoto kết luận rằng không thể đánh trực tiếp vào cứ điểm quân sự mạnh mẽ của Hoa Kỳ. Thay vào đó, ông lựa chọn đảo san hô Midway, nằm ở phía cực tây bắc của dãy quần đảo Hawaii, khoảng 1.300 hải lý từ Oahu. Bản thân Midway không có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng trong kế hoạch lớn hơn của Nhật Bản, tuy nhiên, người Nhật cảm thấy rằng người Mỹ sẽ coi Midway là một tiền đồn mang tính sống còn đối với Trân Châu Cảng, và vì thế sẽ bảo vệ nó bằng mọi giá.[10]

Kế hoạchSửa đổi

Đế quốc Nhật BảnSửa đổi

 
Hình đảo san hô Midway, vài tháng trước trận đánh.

Tương tự như nhiều kế hoạch hải quân của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai, kế hoạch trận đánh của Đô đốc Yamamoto Isoroku rất phức tạp và khó hiểu. Tin rằng người Mỹ đã mất tinh thần vì phải chịu nhiều thất bại trước người Nhật trong vòng sáu tháng trước đó, Yamamoto cảm thấy rằng mánh khóe cần thiết phải nhử được những phần chính của hạm đội Hoa Kỳ vào trong một tình huống đặc biệt nguy hiểm. Hiểu theo nghĩa thường, ông chia các lực lượng của mình theo kiểu ở quy mô rộng nhất khiến cho chúng không bị người Mỹ phát hiện trước trận đánh có tính chất quyết định. Vì vậy, Yamamoto dàn các lực lượng tàu chiến và tuần dương hạm của mình và lực lượng tàu sân bay tấn công của Phó đô đốc Chuichi Nagumo thành một vệt dài hàng trăm dặm; kiểu này nhằm để đối đầu với các lực lượng bất kỳ nào của hạm đội Mỹ có ý định tới cứu trợ cho Midway, một khi các tàu sân bay của Nagumo đã tấn công làm cho chúng bị yếu đi.

Không may cho người Nhật, vì nhấn mạnh tới yếu tố bí mật và việc phân chia lực lượng của họ đồng nghĩa với việc không một lực lượng nào trong hạm đội của họ có thể giúp đỡ được nhau. Ví dụ, Nagumo không có được khả năng trinh sát từ các máy bay trinh sát do các tàu tuần dương và thiết giáp hạm, cũng như thiếu yểm trợ phòng không từ các tàu chiến thuộc các thê đội phía sau (gồm hai tàu sân bay hạng nhẹ, năm thiết giáp hạm, bốn tàu tuần dương hạng nặng và hai tàu tuần dương hạng nhẹ), và nó đã dẫn tới sự chôn vùi lực lượng tàu sân bay của Nagumo trong cuộc chiến.

Kế hoạch của Yamamoto cũng xác nhận thông tin tình báo cho rằng chiếc USS EnterpriseUSS Hornet, thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 16 là những chiếc tàu duy nhất đang hoạt động thuộc các lực lượng Thái Bình Dương của Mỹ ở thời điểm đó. USS Lexington đã bị đánh chìm và USS Yorktown bị hư hỏng nặng (và họ tin rằng nó đã chìm) tại trận biển Coral chỉ một tháng trước, và người Nhật tin rằng chiếc USS Saratoga đang được sửa chữa ở bờ biển phía tây nước Mỹ sau khi bị trúng ngư lôi làm hư hại.

Lực lượng tấn công tàu sân bay của Nhật gồm 248 máy bay trên bốn tàu sân bay (60 trên Akagi, 74 trên Kaga, 57 trên Hiryū và 57 trên Sōryū), cộng với 16 máy bay trinh sát của các thiết giáp hạm và tàu tuần dương. Máy bay tấn công chủ lực của tàu sân bay Nhật Bản là máy bay ném bom bổ nhào Aichi D3A1 "Val" và máy bay ném ngư lôi Nakajima B5N2 "Kate". Máy bay chiến đấu trên tàu sân bay là chiếc Mitsubishi A6M "Zero" có vận tốc nhanh và rất cơ động.

Tuy chiếm ưu thế về chất lượng máy bay nhưng Lực lượng tàu sân bay của Nhật lại ít hơn về số lượng máy bay (264 so với 360), và hạm đội Nhật có một số thiếu sót về phòng thủ: pháo phòng không của tàu chiến Nhật Bản và các hệ thống điều khiển hỏa lực liên quan có một số thiếu sót về thiết kế và cấu hình, làm hạn chế hiệu quả của chúng. Đội tuần tra không quân chiến đấu (CAP) của Nhật bao gồm quá ít máy bay tiêm kích, và hệ thống cảnh báo sớm của Nhật không đầy đủ (các tàu chiến Nhật khi đó đều không có radar). Các bộ liên lạc vô tuyến chất lượng kém của các máy bay tiêm kích Nhật cũng cản trở khả năng chỉ huy và kiểm soát hiệu quả của CAP. Các tàu chiến hộ tống của các tàu sân bay đã được triển khai như các tàu trinh sát ở vị trí xa, không phải là các tàu hộ tống phòng không chạy ở gần tàu sân bay, và chúng cũng không có nhiều pháo phòng không nên không thể phòng thủ hiệu quả khi tàu sân bay Nhật bị máy bay đối phương tấn công.

Hoa KỳSửa đổi

Ba tháng trước Trận Trân Châu Cảng, bộ phận trinh sát vô tuyến của Cơ quan Tình báo Hải quân Hoa Kỳ phát hiện người Nhật sử dụng một bộ mật mã mới, gọi là JN-25B. Tuy nhiên do tính chất cực kỳ phức tạp của JN-25B nên họ chưa giải được.[11]

Ngày 21 tháng 4 năm 1942, một nhóm mã thám mật danh Station Hypo thuộc Cơ quan Tình báo Hải quân Hoa Kỳ, bao gồm nhiều nhà ngôn ngữ học, toán học, dưới sự lãnh đạo của thiếu tá Hải quân Joseph Rochefort, làm việc trong một căn hầm bí mật nằm sâu dưới lòng đất đảo Hawaii đã giải được bộ mật mã. JN-25B sử dụng các bài thơ cổ từ thế kỷ thứ 10 ở Nhật làm bộ khung cho mật mã. Tiếp theo, họ pha trộn nó với một số ngôn ngữ địa phương - trong đó có những thổ ngữ không còn được nhiều người Nhật sử dụng. Tất cả đều biến thành những con số nhị phân mà nếu giải theo phương pháp toán học bình thường thì phải mất 18 tỉ lần mới có 1 lần giải được vì mỗi bản tin truyền đi lại có những chìa khóa giải mã khác nhau.[11]

Trong tất cả những bản tin thu được, nhóm Station Hypo đặc biệt chú ý đến một điện văn được ký bởi Đô đốc Yamamoto Isoroku, cha đẻ của cuộc tập kích Trân Châu Cảng. Kết quả giải mã bản điện văn cho thấy Yamamoto Isoroku ra lệnh điều 4 tàu sân bay với 248 Máy bay, 2 Thiết giáp hạm, 15 Tàu khu trục cùng 16 thủy phi cơ đến một địa điểm được gọi là AF.[11]  

Khi bản điện văn gửi về Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, Đô đốc Chester W. Nimitz, Tổng tư lệnh cùng các tướng lĩnh trong Bộ Chiến tranh Mỹ ở Washington đều cùng suy luận rằng AF có thể là một mục tiêu tại phía nam Thái Bình Dương, chẳng hạn như đảo Port Moresby, quần đảo Nouvelle-Calédonie hay Fiji, thậm chí là quần đảo Hawaii hoặc Bờ Tây Hoa Kỳ.[11]

Cũng có ý kiến cho rằng người Nhật đã biết phía Mỹ giải được bộ mật mã JN-25B nên họ tung hỏa mù nhằm đánh lạc hướng để thực hiện một đòn tấn công khác với mức độ ghê gớm hơn cuộc tập kích vào Trân Châu Cảng. Chưa hết, cấp trên của Đô đốc Nimitz, tại Washington là Đô đốc Ernest King, thông qua đơn vị mã thám OP-20-G của riêng mình, đã khẳng định AF là quần đảo Quần đảo Aleut.[11]

Tuy nhiên, Thiếu tá hải quân Joseph Rochefort lại không đồng ý với những suy luận ấy bởi lẽ với nhiều mục tiêu như vậy, Hải quân Hoa Kỳ không đủ khả năng để bảo vệ tất cả cùng một lúc. Để có thể thuyết phục cấp trên thay đổi quan điểm về hướng tấn công - cũng như có thể chặn đứng âm mưu của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, Joseph Rochefort phải chứng minh AF là gì.[11]

Ngày 6 tháng 5 năm 1942, trong quá trình theo dõi các tín hiệu vô tuyến được truyền đi từ Hải quân Đế quốc Nhật Bản, nhóm Station Hypo thu được một bản tin, phát đi từ một máy bay trinh sát lúc ấy đang bay gần Đảo Midway. Trong bản tin đã được mã hóa bằng bộ mã JN-25B, Thiếu tá Joseph Rochefort nhận ra rằng chữ AF được lặp lại 2 lần và điều này đã khiến ông nghi ngờ đảo Midway chính là AF. Để chắc chắn, Joseph Rochefort giăng một cái bẫy bằng cách ra lệnh cho Jasper Holmes, sĩ quan hải quân trong nhóm Station Hypo gửi một công điện về Trân Châu Cảng theo đường dây cáp ngầm dưới biển, nội dung cho biết nguồn nước ngọt dùng trong sinh hoạt ở đảo Midway đã bị hỏng, và tình hình thiếu nước đang bắt đầu diễn ra trầm trọng. Chỉ 3 tiếng đồng hồ sau, một bản tin từ Bộ Hải quân Nhật Bản đã được mã hóa JN-25B gửi hạm đội Nhật ở Thái Bình Dương: “AF đang gặp phải vấn đề khó khăn trong việc cung cấp nước ngọt. Lực lượng tấn công cần chú ý và lập sẵn kế hoạch về chuyện này”. Đây là cơ sở chính xác nhất để khẳng định AF chính là Đảo Midway.[11]

Chuẩn bị trận đánhSửa đổi

 
Hàng không mẫu hạm USS YorktownTrân Châu Cảng trước trận đánh.

Sau khi đã xác định AF chính là đảo Midway, Đô đốc Chester W. Nimitz bố trí lực lượng của mình gồm 3 tàu sân bay với 233 máy bay, 15 tàu khu trục, 8 tàu tuần dương, 16 tàu ngầm cùng 127 máy bay sẵn sàng cất cánh từ sân bay trên đảo Midway.[11] Để có thể tập hợp đầy đủ lực lượng cho cuộc chiến đấu sắp tới, Nimitz gọi trở lại các lực lượng của vị tướng hậu phương là Đô Đốc Frank Jack Fletcher từ vùng tây nam Thái Bình Dương. Chiếc Yorktown vốn đã bị hư hại nặng trong trận biển Coral, nhưng xưởng hải quân Trân Châu Cảng đã gắng sửa chữa nó để đưa vào phục vụ. Trong vòng 72 giờ, chiếc Yorktown được biến từ tình trạng hỏng hoàn toàn thành một chiếc tàu sân bay (nếu có thể nói như vậy) hoạt động được. Đường băng trên boong của nó được chữa tạm, các bộ phận rầm trong bị bỏ đi và được thay thế, và nhiều phi đội mới (được chuyển từ chiếc tàu sân bay Saratoga sang) được đưa lên boong. Đô đốc Nimitz hoàn toàn không cần tới chiếc tàu sân bay thứ ba đang hoàn thành để đưa vào lực lượng của mình, những việc sửa chữa thậm chí còn tiếp tục khi chiếc Yorktown đã xuất kích. Chỉ ba ngày sau khi được đưa vào ụ tàu ở Trân Châu Cảng, chiếc tàu này đã lại có thể hoạt động, và đoàn thủy thủ của nó tấu lên bài "California, Here I Come".

Trong lúc ấy, vì đã tham gia vào trận biển Coral, chiếc tàu sân bay Nhật Zuikaku đang đậu ở cảng Kure (gần Hiroshima), chờ đợi một phi đội máy bay mới để thay thế những chiếc đã bị phá huỷ, trong khi chiếc tàu Shokaku bị hư hại nặng còn đang phải đợi trong ụ khô để được sửa chữa thêm những hư hỏng trong trận chiến. Dù có thể lấy máy bay từ hai chiếc tàu đó để tái trang bị cho chiếc Zuikaku với một tập hợp máy bay mới, người Nhật không hề cố gắng đưa nó vào trận chiến sắp tới.

Những sắp xếp trinh sát chiến lược của người Nhật trước trận chiến cũng rất lộn xộn. Một nhóm cảnh giới gồm các tàu ngầm Nhật đến vị trí muộn, giúp cho những chiếc tàu sân bay Mỹ đến được địa điểm tập kết ở phía đông bắc Midway (được gọi là "Point Luck") mà không bị phát hiện. Một nỗ lực nhằm sử dụng các thủy phi cơ trinh sát bốn động cơ để do thám Trân Châu Cảng trước trận đánh (và nhờ thế phát hiện được sự vắng mặt của những chiếc tàu sân bay Mỹ), được gọi là "Chiến dịch K", cũng bị bỏ ngang khi những tàu ngầm Nhật vốn được giao trách nhiệm tái cung cấp xăng dầu cho những chiếc máy bay trinh sát phát hiện ra rằng điểm cấp xăng – cho đến lúc ấy là vùng vịnh trống trải French Frigate Shoals – đã bị các tàu chiến Mỹ chiếm đóng. Vì vậy, Nhật Bản mất đi mọi tin tình báo liên quan tới các hoạt động của các tàu sân bay Mỹ ngay trước trận đánh. Tình báo radio của Nhật cũng nhận thấy một sự gia tăng hoạt động của cả tàu ngầm và trao đổi thông tin của Mỹ. Thông tin này đã được báo tới cả Nagumo và Yamamoto trước trận đánh. Tuy nhiên, các kế hoạch tác chiến của Nhật không được thay đổi trước những dấu hiệu đó. Trái lại, Nimitz biết rất rõ vị trí của Nagumo nhờ vào ưu thế tình báo của mình.

Về mặt kỹ thuật, mỗi bên đều có ưu thế và nhược điểm so với đối thủ:

  • Mỹ có nhiều máy bay hơn (360 so với 264), tuy nhiên máy bay chiến đấu Nhật khi đó có tính năng cao hơn.
  • Phi công Nhật có trình độ cao hơn, giàu kinh nghiệm hơn phi công Mỹ, tuy nhiên máy bay Mỹ được trang bị radio tốt hơn nên việc phối hợp chiến thuật dễ dàng hơn.
  • Mỹ có ít tàu chiến hơn, ít tàu sân bay hơn (3 tàu so với 4 tàu của Nhật), tuy nhiên tàu chiến Mỹ được trang bị radar để phát hiện đối phương từ xa, đây là thiết bị mà tàu chiến Nhật khi đó chưa có.

Trận chiếnSửa đổi

Những cuộc tấn công không quân đầu tiênSửa đổi

 
Nhật Bản tấn công Midway lúc 06:20 ngày 4 tháng 6.

Khi bốn tàu sân bay Nhật cách Midway 240 dặm về hướng tây bắc, Phó Đô đốc Chuichi Nagumo tung ra những cuộc tấn công không quân đầu tiên vào 04:30 ngày 4 tháng 6. Trong vòng 15 phút tất cả bốn tàu sân bay đã phóng 108 chiếc máy bay lên trên không. Cùng lúc đó người Nhật cho 7 chiếc máy bay rẽ đi tìm kiếm hạm đội Mỹ (1 chiếc xuất phát từ tuần dương hạm Tone bị chậm 30 phút do trục trặc), và phóng lên các máy bay tuần tra chiến đấu (CAP). Những sắp xếp trinh sát của Nhật không tốt với quá ít máy bay để bao quát những một khu vực rộng lớn, và hoạt động trong điều kiện thời tiết xấu ở phía đông bắc và phía đông lực lượng tấn công.

Tại Midway, ra-đa Mỹ thu được đợt đầu tiên các máy bay Nhật đang đến vào khoảng 5:50. Còi báo động không kích rú lên và các phi cơ cất cánh trong hỗn loạn. Trong khi 6 máy bay phóng ngư lôi Avenger của Hải quân và 4 chiếc Marauder của Lục quân, cũng trang bị ngư lôi, bay theo hướng bắc về phía các tàu sân bay địch, 25 phi công chiến đấu cơ thuộc Thủy quân Lục chiến lái những chiếc Brewster Buffalo và Grumman Wildcats bay về hướng tây bắc. Trong vòng vài phút họ đã chạm trán với máy bay Nhật. Họ giàn đội hình chiến đấu, nhưng họ có quân số ít hơn và kém tối tân hơn các chiếc Zero. 15 máy bay của Thủy quân Lục chiến bị bắn rơi và các máy bay Nhật thẳng tiến về mục tiêu mà không bị cản trở.

Lúc 06:20, các máy bay Nhật ném bom và phá hoại nặng nề căn cứ quân sự của Mỹ ở Midway, phá hủy nhiều máy bay Mỹ đang đậu trên sân bay. Các phi công chiến đấu ở căn cứ Midway đa phần sử dụng những chiếc máy bay đã lỗi thời Brewster F2A (tên của người Anh là Buffalo), để bảo vệ Midway. Lực lượng phòng không Mỹ bắn trả dày đặc, một chiếc Zero và một chiếc Aichi D3A đã bị hỏa lực phòng không bắn rơi, và thêm bốn chiếc D3A khác bị hư hại. Chỉ huy tấn công người Nhật nhận thấy rằng những máy bay chiến đấu trên đảo đã xuất kích, ra hiệu cho Nagumo cần tung ra thêm một đợt tấn công nữa nhằm vô hiệu hóa khả năng phòng vệ của hòn đảo và những khả năng tấn công của nó trước khi lực lượng đổ bộ (tiến hành độc lập từ phía tây nam) có thể đổ quân vào ngày 7 tháng 6.

Vì đã cất cánh trước lúc người Nhật tấn công, những máy bay ném bom tầm xa của Mỹ ở Midway đã thực hiện nhiều cuộc tấn công vào hạm đội tàu sân bay Nhật. Lúc 07:00, 6 chiếc TBF Avenger và 4 chiếc B-26 Marauder được trang bị ngư lôi thực hiện cuộc tấn công. Những chiếc Avenger nhắm vào Hiryū trong khi những chiếc Marauder tấn công Akagi. Có tất cả 30 máy bay Zero làm nhiệm vụ tuần tra chiến đấu vào lúc này, trong đó có 11 chiếc của Akagi, tất cả đã lao vào tấn công các máy bay Mỹ, bắn rơi 5 chiếc TBF Avenger và 2 chiếc B-26. Hỏa lực phòng không từ các tàu khu trục, tuần dương và tàu chiến Kirishima bắn rơi thêm hai chiếc nữa. Tuy nhiên, một chiếc Zero của Akagi đã bị hỏa lực tự vệ của những chiếc B-26 bắn rơi. Ba máy bay B-26 kịp phóng ngư lôi vào tàu sân bay Akagi, chiếc kỳ hạm xoay hướng và các ngư lôi đi trượt mục tiêu. Một chiếc đã càn quét Akagi bằng súng máy sau khi thả ngư lôi, làm hai thủy thủ thiệt mạng. Một chiếc khác, có thể có ý định tự sát, hoặc không điều khiển được do hư hại trong chiến đấu hoặc phi công mất khả năng lái, đã suýt đâm vào cầu tàu của Akagi nơi đô đốc Nagumo đang đứng trước khi đâm sầm xuống biển.

 
Hiryu đang bị tấn công bằng máy bay ném bom B-17 Flying Fortress

Nagumo, theo đúng chiến thuật thường lệ của tàu sân bay Nhật lúc ấy, vẫn giữ một nửa lực lượng của mình để dự phòng. Chúng gồm hai phi đội, một bao gồm những máy bay chống tàu ngầm và máy bay thả ngư lôi. Một đội được trang bị các ngư lôi để tấn công tàu nếu như phát hiện được vị trí của các tàu chiến Mỹ. Như một kết quả của những cuộc tấn công vào Midway, cũng như sự đề nghị quan tâm tới nhu cầu tung ra một cuộc tấn công mới của những chỉ huy, Đô đốc Nagumo ra lệnh các máy bay dự trữ của ông lắp đặt bom thông thường để tấn công các mục tiêu mặt đất lúc 07:15. Việc tái trang bị vũ khí mất 30 phút, lúc 07:40 một máy bay trinh sát từ tuần dương hạm Tone ra tín hiệu thấy một lực lượng hải quân khá lớn của Mỹ ở phía đông. Nagumo nhanh chóng thu hồi lệnh tái trang bị vũ khí, và yêu cầu máy bay trinh sát xác định rõ vị trí lực lượng tấn công Mỹ.

Lúc ấy Nagumo đang ở tình thế lúng túng. Đô đốc hậu quân Tamon Yamaguchi, chỉ huy Sư đoàn tàu sân bay số 2 (HiryuSoryu), đánh tín hiệu cho Nagumo rằng ông nên ra lệnh tấn công ngay với các lực lượng sẵn có trong tay. Nagumo có lẽ có một cơ hội để tung ra một cuộc tấn công ngay lập tức từ một số hay toàn bộ lực lượng dự trữ của ông để tấn công các tàu Mỹ. Nhưng ông phải hành động nhanh chóng, vì lực lượng tấn công Midway của ông sẽ quay lại ngay lập tức. Chúng đã cạn nhiên liệu, một số còn bị hư hại, và cần phải hạ cánh nhanh chóng. Việc bố trí xuất kích cho các máy bay của ông mất ít nhất 30-45 phút. Hơn nữa vì phải xuất kích ngay ông sẽ khiến một số máy bay dự trữ phải lâm trận mà không được lắp vũ khí thích hợp (khi đó chúng đang mang bom nổ mảnh chứ không phải ngư lôi và bom xuyên thép chống tàu chiến). Học thuyết tàu sân bay của Nhật thường thích lập thành một đội tấn công đầy đủ, và vì thiếu một sự xác định chắc chắn lực lượng Mỹ có các tàu sân bay hay không, phản ứng của Nagumo rất cẩn trọng. Hơn nữa, việc phát hiện nhiều máy bay tấn công của Mỹ đang tiến tới lúc 07:53 càng buộc Nagumo phải đưa ra quyết định nhanh chóng. Cuối cùng, Nagumo đã đưa ra một quyết định tai họa là chờ lực lượng tấn công ban đầu của ông hạ cánh, sau đó mới tung ra lực lượng dự bị tấn công (lúc ấy chúng sẽ được trang bị vũ khí thích hợp).

May mắn đã bỏ rơi người Nhật trong trận đánh. Chiếc máy bay trinh sát phát hiện ra hạm đội Mỹ chính là chiếc xuất phát từ tuần dương hạm Tone, chiếc trinh sát duy nhất bị trục trặc 30 phút trên dàn phóng. Nếu nó cất cánh đúng giờ, nó chắc hẳn đã phát hiện người Mỹ sớm hơn 30 phút, trước khi các máy bay phóng ngư lôi Nhật được hạ xuống để nạp bom, và giờ này máy bay Nhật đã có thể xuất kích để tấn công các tàu sân bay Mỹ (Enterprise, Hornet và Yorktown). Và thế là thời cơ sinh tử đã mất trong lúc các phi hành đoàn Nhật một lần nữa trải qua công việc gay go là tháo bom để gắn ngư lôi vào máy bay.

Những cuộc tấn công vào hạm đội Nhật BảnSửa đổi

 
Các máy bay VT-6 TBD trên mẫu hạm "USS Enterprise" trong trận Midway.

Cùng lúc, người Mỹ đã phóng không lực hải quân của họ tấn công hải quân Nhật Bản. Đô Đốc Fletcher, chỉ huy toàn cục từ tàu sân bay Yorktown với các báo cáo do thám từ sáng sớm hôm đó, ra lệnh cho Spruance tấn công Nhật vào lúc thích hợp nhất. Spruance bắt đầu cuộc tấn công lúc 07:00. Fletcher sau khi kết thúc các cuộc do thám cẩn thận cũng cho lực lượng của mình tấn công vào 08:00. Tuy vậy có một số điểm, kế hoạch tác chiến của Mỹ không hợp lý bằng đối thủ của họ. Các phi đội của Mỹ tấn công không đồng nhất. Điều này giảm bớt hiệu quả của các đợt tấn công và đẩy thương vong của Mỹ lên cao.

Lúc 7:47, 16 máy bay Mỹ xuất hiện từ xa. Đó là những máy bay ném bom bổ nhào SBD Dauntless của Thủy quân Lục chiến đã rời Midway vài phút sau tiếng còi báo động không kích và hướng về phía các tàu sân bay. Chỉ huy của họ, Thiếu tá Lofton Henderson, ra lệnh tấn công bằng cách đánh bom kiểu bay lướt, vì các phi công còn non nớt của họ không rành về kỹ thuật đánh bom kiểu bổ nhào. Họ sà xuống tấn công tàu Hiryu. 9 chiếc Zero đang bay tuần tra trên không đã tấn công những máy bay của Henderson, bắn rơi 6 chiếc nhưng những chiếc còn lại đã kịp thả bom và trở về Midway. Nhưng tất cả bom đều trượt, tàu Hiryu vẫn vô sự.

Vào lúc 8:09, từ trên cao 6.000 mét, 12 Pháo đài bay B-17 thả bom. Đã rời Midway trước hừng đông để tấn công đoàn tàu vận tải, họ lại tìm thấy tàu sân bay Nhật. Các phi hành đoàn B-17 đánh điện báo tin là đã ném trúng 4 quả; nhưng thật ra họ ném trượt tất cả.

Vào lúc 8:30, đợt không kích tiếp theo từ Midway: 11 chiếc Vought SB2U Vindicator thuộc Liên đội VMSB-241 đã tấn công thiết giáp hạm Haruna. Sáu chiếc Vindicator đã bị bắn rơi, và Haruna thoát được mà không bị thiệt hại.

Mặc dù mọi đợt không kích của Mỹ chỉ gây ra những thiệt hại không đáng kể, chúng cũng đủ gây bối rối cho lực lượng tàu sân bay Nhật vì Nagumo đang nỗ lực chuẩn bị một đòn đánh trả sau khi nhận được báo cáo lúc 08 giờ 20 phút về việc phát hiện lực lượng tàu sân bay Hoa Kỳ ở hướng Đông Bắc.

Không lực hải quân Mỹ giáp chiến hạm đội Nhật lúc 09:20 với Phi đội máy bay ném ngư lôi số 8 (VT-8) gồm 15 máy bay ném bom bổ nhào TBD Devastator thuộc Liên đội VT-8 của tàu sân bay Hornet do John C. Waldron dẫn đầu tấn công mà không có máy bay tiêm kích yểm trợ. Khi đó đang có 21 chiếc tiêm kích Zero của Nhật đang bay tuần tra bảo vệ hạm đội và chúng nhanh chóng lao vào tấn công máy bay Mỹ. VT-8 đã bị bắn rơi toàn bộ, chỉ có 1 máy bay kịp ném ngư lôi nhưng trượt, 29/30 phi công tử trận.

Theo sau ít lâu (lúc 09:40) là VT-6 gồm 14 chiếc Devastator, xuất phát từ tàu sân bay Enterprise do Eugene E. Lindsey dẫn đầu. VT-6 cũng bị tiêu diệt gần hết với 10/14 chiếc bị bắn rơi, 9 ngư lôi được thả nhưng không gây được thiệt hại gì cho đối phương. Không lực bảo vệ hạm đội Nhật khi đó gồm 29 máy bay Zero đang bay tuần tra quanh hạm đội, đã chiếm ưu thế. Hỏa lực tự vệ của những chiếc Devastator chỉ bắn rơi được một chiếc Zero.

Sự xuất hiện của VT-3, xuất phát từ tàu sân bay Yorktown, gồm 12 máy bay ném ngư lôi (lúc 10:00) đã nhanh chóng kéo các lực lượng tiêm kích đánh chặn của Nhật về phía Đông Nam. VT-3 đã tấn công tàu sân bay Hiryu nhưng đều không đánh trúng mục tiêu, và 6 trong số 12 chiếc máy bay của VT-3 bị bắn rơi.

Tuy vậy, với sự hy sinh của 3 phi đội, một cách gián tiếp người Mỹ đạt được hai hệ quả quan trọng. Thứ nhất, họ giữ Nhật bên ngoài thế cân bằng, ngăn cản họ do thám phát hiện được mục tiêu của mình để tấn công. Thứ hai, VT-8, VT-6 và VT-3 đã kéo các lực lượng tiêm kích phòng thủ của Nhật ra khỏi vị trí bảo vệ.

Đúng lúc VT-3 đang thu hút sự chú ý của Hạm đội Nhật, hai đơn vị riêng rẽ máy bay ném bom bổ nhào của Mỹ đã tình cờ tiếp cận Hạm đội Nhật từ hướng Đông Bắc và Tây Nam. Nhóm 1 là Liên đội VB-6 gồm 31 máy bay ném bom bổ nhào SBD Dauntless – được dẫn dắt bởi Trung tá Clarence W. McClusky, cất cánh từ tàu sân bay Enterprise. Lúc 9:55 A.M, ông trông thấy làn nước rẽ trắng xóa phía sau chiếc khu trục Nhật đang chạy thẳng về hướng đông bắc, ông hi vọng nó đang tập họp với tàu sân bay Nhật nên bay theo. Ông tiếp tục giữ lộ trình trong 20 phút nữa, vẫn không tìm thấy gì. Nhiên liệu đang cạn dần đến mức nguy hiểm nhưng ông vẫn quyết định tiếp tục bay thêm vài phút nữa.

 
Ảnh chụp nhóm phi công thuộc Liên đội máy bay ném bom bổ nhào VB-6 thuộc Enterprise đã đánh chìm Kaga và Akagi: Thiếu úy John Q. Roberts (đứng, bìa trái), bị hỏa lực phòng không của Kaga bắn rơi và thiệt mạng; Thiếu úy James C. Dexter (đứng, thứ ba từ bên phải), có thể đã ném quả bom làm thiệt mạng toàn bộ sĩ quan cao cấp của Kaga trên cầu tàu.[12]

Lúc đó là 10:20, tất cả máy bay phóng ngư lôi Nhật đã trở lại trên sàn bay, cùng với các máy bay hộ tống đã tiếp nhiên liệu. Bốn tàu sân bay quay theo chiều gió chuẩn bị cho máy bay lên. Trong vòng 15 phút nữa toàn bộ máy bay sẽ ở trên không. Ngay đúng lúc đó, 31 máy bay ném bom bổ nhào SBD Dauntless xuất hiện từ hướng tây nam do McClusky chỉ huy. Đơn vị của McClusky với may mắn và sự quyết đoán đã tiếp cận được vị trí thuận lợi bên trên để tấn công Hạm đội Nhật. Các máy bay tấn công của Nhật chất đầy vũ khí và xăng trên boong các tàu sân bay trở thành mục tiêu của các phi đội Mỹ. Lúc ấy trên các hàng không mẫu hạm Nhật đang là lúc tiếp nhiên liệu. Đây chính là thời điểm các tàu sân bay dễ bị nguy hiểm nhất.

Vào lúc 10:22, các máy bay từ tàu sân bay Enterprise tấn công tàu sân bay KagaAkagi. 31 chiếc SBD Dauntless thuộc Liên đội VB-6 lao vào tấn công Kaga, đánh trúng nó một quả bom 1.000 pound (450 kg) và ít nhất ba quả bom 500 pound (230 kg). Chỉ có 1 chiếc SBD bị pháo phòng không Nhật bắn rơi.

Vào phút cuối cùng, một tốp ba máy bay ném bom do chỉ huy phi đội Richard Best dẫn đầu, suy luận rằng Kaga đã bị hư hại nặng, đã tách khỏi đội hình VB-6 và đồng loạt bổ nhào xuống Akagi. Lúc khoảng 10 giờ 26 phút, họ đánh trúng mục tiêu một quả bom 1.000 pound (450 kg) và suýt trúng hai quả khác.

Cả Akagi và Kaga bị trúng bom và bốc cháy dữ dội. Một lúc sau, phi đội 17 chiếc máy bay ném bom bổ nhào SBD Dauntless từ tàu Yorktown do Leslie chỉ huy đã nhận ra khói bốc lên từ chân trời nên quay về hướng tây bắc. Qua đám mây họ trông thấy tàu Hiryu và Soryu, họ liền đẩy tốc độ bổ nhào xuống tấn công chiếc Soryu. Họ đã đánh trúng 3 quả bom vào chiếc Soryu, khiến nó bốc cháy dữ dội.

Như vậy, trong khoảng 6 phút, hai phi đội bổ nhào đã làm cho ba tàu sân bay Nhật bốc cháy. Akagi chỉ trúng một quả bom nhưng điều tai hại là sàn tàu của nó đang chứa đầy bom và ngư lôi, Soryu trúng ba quả, Kaga trúng bốn hay nhiều hơn, các thủy thủ nói rằng họ không thể đếm chính xác. Các tàu sân bay Nhật bị trúng bom đúng lúc chúng đang ở tình trạng dễ tổn thương nhất, đó là khi các tàu này đang chất đầy vũ khí trong khoang chứa máy bay và tiếp đầy xăng lên các máy bay nhằm chuẩn bị cho cuộc không kích nhắm vào các tàu sân bay Mỹ. Do đó khi trúng bom, các đám cháy đã bùng phát do xăng máy bay chảy tràn trên sàn chứa máy bay, kích nổ hàng loạt những quả bom và ngư lôi đang trải khắp sàn tàu, khiến việc chữa cháy và kiểm soát thiệt hại là không thể thực hiện được. Cả ba tàu bị loại khỏi vòng chiến và sau đó thì chìm hẳn.

Những cuộc phản công của Nhật BảnSửa đổi

 
USS Yorktown bị đánh trúng bởi một ngư lôi phóng từ trên không

Hiryu, lúc bấy giờ là hàng không mẫu hạm còn sống sót duy nhất của Nhật, không để phí thời gian trong việc phản công. Lúc 10:40 sáng, 6 chiến đấu cơ và 18 máy bay ném bom bổ nhào đã rời tàu Hiryu để tấn công tàu sân bay địch.

Đợt tấn công đầu tiên của các máy bay ném bom bổ nhào đã đánh trúng 3 quả bom, gây thiệt hại nặng cho Yorktown. 13 máy bay ném bom bổ nhào của Nhật Bản và 3 máy bay tiêm kích hộ tống đã bị mất trong cuộc tấn công này.

Tuy nhiên Yorktown được sửa chữa lại rất nhanh đến nỗi đợt tấn công thứ hai gồm 6 chiếc Zero và 10 máy bay ném ngư lôi B5N cứ lầm tưởng nó là một mẫu hạm còn nguyên vẹn. 10 máy bay phóng ngư lôi Nakajima B5N xông đến Yorktown, đánh trúng 2 ngư lôi. 5 máy bay ném ngư lôi và hai máy bay Zero đã bị Mỹ bắn hạ trong cuộc tấn công này.

Tin tức về hai cuộc tấn công, với các báo cáo nhầm lẫn rằng mỗi cuộc tấn công đã đánh chìm một tàu sân bay Mỹ, đã cải thiện đáng kể tinh thần của Nhật Bản. Một số máy bay còn sống sót đã hạ cánh trên tàu Hiryū. Mặc dù tổn thất nặng nề và Nhật chỉ còn 41 máy bay trên chiếc Hiryu, đô đốc Yamaguchi tin rằng họ còn đủ máy bay để thực hiện một cuộc tấn công chống lại tàu sân bay duy nhất còn lại của Mỹ. Tuy nhiên đô đốc Nagumo từ chối tung ra cuộc tấn công thứ 3 và ra lệnh toàn hạm đội rút lui về phía Tây. Thực ra, cả hai đợt tấn công đều đánh vào tàu Yorktown của Hoa Kỳ, và nó vẫn chưa chìm. Tuy nó không thể tham dự vào trận chiến được nữa nhưng Lực lượng Đặc nhiệm 16 thoát được mà không bị sứt mẻ. Yorktown sau cùng bị chìm vì trúng ngư lôi từ tàu ngầm Nhật trong lúc được cứu hộ vào ngày 7 tháng 6. Loạt ngư lôi đó cũng đánh chìm USS Hammann, là khu trục hạm được lệnh ở lại trợ giúp cho Yorktown.

Khi các máy bay thám thính của Hoa Kỳ tìm thấy Hiryu của Nhật sau đó thì đến chiều cùng ngày, 42 máy bay ném bom bổ nhào từ EnterpriseHornet của Hoa Kỳ tung ra một đòn tấn công cuối cùng vào xế tối chống mẫu hạm cuối cùng của Nhật. Mặc dù Hiryū được bảo vệ bởi một lớp phòng thủ mạnh gồm 13 máy bay chiến đấu Zero, cuộc tấn công của Mỹ đã thành công: bốn quả bom (có thể là năm) đánh trúng Hiryū, khiến nó bốc cháy dữ dội và mất khả năng chiến đấu. Lực lượng Mỹ bị bắn rơi 3 máy bay trong cuộc tấn công này.

Khi màn đêm rơi xuống, cả hai cùng kiểm tra thiệt hại và hoạch định hành động kế tiếp. Đô đốc Spruance lúc này làm tư lệnh chiến thuật các lực lượng Hoa Kỳ khi Đô đốc Fletcher bắt buộc phải bỏ lại chiếc Yorktown. Spruance biết rằng ông phải đạt được một chiến thắng oanh liệt nhất nhưng ông vẫn không biết chắc được thực lực của Nhật còn trong tay, và quyết định phòng vệ đảo và cả các mẫu hạm của ông. Cuối cùng, ông quyết định bỏ phía đông chiều tối hôm đó vì sợ đâm đầu vào một trận đánh ban đêm với lực lượng nổi hùng hậu hơn của Nhật có thể vẫn còn trong vùng. Trong những giờ đầu tiên của buổi sáng, ông quay về phía tây để sẵn sàng bảo vệ Midway nếu một cuộc tấn công khởi sự vào buổi sáng.

Về phần mình, Yamamoto lúc đầu quyết định tiếp tục nỗ lực và đưa các lực lượng nổi còn lại của mình tìm kiếm các mẫu hạm của Hoa Kỳ về hướng đông. Ngay lập tức, một lực lượng tuần dương hạm tấn công được đưa đến pháo kích vào đảo đêm đó. Dần dần khi đêm xuống nhưng không thấy bóng dáng người Mỹ đâu, lúc 02:30 Yamamoto ra lệnh cho các lượng của ông rút về hướng tây.

Trong khi rút lui với một hàng các phương tiện quá gần nhau vào ban đêm, lực lượng pháo hạm Nhật chịu đựng một cuộc thử lửa. Sự xuất hiện của tàu ngầm Hoa Kỳ Tambor bắt buộc các tuần dương hạm trong đội hình phải nhanh chóng tách ra. Tuần dương hạm Nhật Mogami đã không đổi hướng kịp thời và đâm vào chiếc Mikuma[13]. Hai ngày sau, đầu tiên là máy bay từ Midway, rồi từ các mẫu hạm của Đô đốc Spruance tung ra đòn tấn công nhắm vào lực lượng đang rút lui của Nhật. Mikuma cuối cùng bị đánh đắm trong khi Mogami chống cự các máy bay ném bom thành công và chạy thoát về căn cứ Nhật.

Kết cụcSửa đổi

 
Một hình ảnh hiếm về một hàng không mẫu hạm Nhật đang chìm, trong ảnh này là Hiryu.

Sau khi ghi được chiến thắng rõ ràng, lực lượng Hoa Kỳ rút lui.

Vào thời điểm trận chiến kết thúc, 3.057 người Nhật đã chết. Thương vong trên bốn tàu sân bay là: Akagi - 267; Kaga - 811; Hiryū - 392; Soryū - 711; tổng cộng 2.181. Tàu tuần dương hạng nặng Mikuma bị chìm - 700 chết và Mogami bị hư hỏng nặng - 92 chết. Ngoài ra, khu trục hạm Arashio bị ném bom - 35 chết, khu trục hạm Asashio bị máy bay bắn phá - 21 chết. Số người chết trên các tàu khác: tàu tuần dương Chikuma (3) và Tone (2), tàu khu trục Tanikaze (11), Arashi (1), Kazagumo (1) và tàu chở dầu Akebono Maru (10).

Việc Nhật Bản mất 4 hàng không mẫu hạm (Kaga, Akagi, Soryu, và Hiryu) cùng một số lớn các tổ lái được huấn luyện kỹ lưỡng đã chặn đứng sự bành trướng của họ trên vùng Thái Bình Dương. Nhật chỉ còn 2 hàng không mẫu hạm cỡ lớn là ZuikakuShokaku có thể huy động cho các hoạt động tấn công, cùng 2 hàng không mẫu hạm lớn khác đang chạy thử máy. Các mẫu hạm còn lại là Ryūjō, JunyoHiyo đều là mẫu hạm nhẹ với đường băng nhỏ, chúng không có khả năng tác chiến mạnh như các hàng không mẫu hạm cỡ lớn. Thất bại nặng nề của người Nhật xảy ra sau nửa năm khai chiến với Hoa Kỳ. Khoảng thời gian này là gần như chính xác với dự đoán của Đô đốc Yamamoto Isoroku về quãng thời gian nước Nhật có ưu thế trước khi người Mỹ giành quyền chủ động.

Một nguyên nhân quan trọng khiến Nhật thất bại trong trận này là do thiếu sót về công nghệ: các tàu chiến Nhật khi đó còn chưa được trang bị ra-đa nên không phát hiện được máy bay Mỹ từ xa. Việc quan sát bằng ống nhòm chỉ có thể phát hiện máy bay địch ở cự ly 10–20 km, lúc đó thì chỉ còn 2 phút để triển khai đánh chặn. Do vậy, khi bị máy bay Mỹ tấn công liên tiếp từ nhiều phía, hạm đội Nhật lâm vào thế bị động, đến đợt tấn công thứ 4 thì chỉ huy Nhật đã không kịp điều động tiêm kích đánh chặn máy bay địch, khiến 3 tàu sân bay Nhật bị tấn công dễ dàng do không có máy bay tiêm kích bảo vệ.

Trong trận đánh nào bên chiến thắng cũng cần có yếu tố may mắn. Ở Midway, hàng loạt các may mắn ngẫu nhiên đã giúp Mỹ chống lại người Nhật: phi đội ném bom Mỹ tình cờ tìm thấy hạm đội Nhật đúng lúc họ sắp hết nhiên liệu và định quay về, đúng lúc các tiêm kích Nhật đang bận đối phó với 1 phi đội Mỹ khác, và cũng đúng lúc các tàu sân bay Nhật dễ bị tổn thương nhất (khi đó các máy bay Nhật đang nạp nhiên liệu và thay vũ khí để chuẩn bị xuất kích trong 15 phút nữa, nên chỉ cần trúng 1 quả bom cũng đủ gây ra kích nổ dây chuyền phá hủy cả con tàu). Chỉ trong 15 phút định mệnh đó, 3 sự may mắn đã liên tiếp đến với phi đội Mỹ. Nếu không có 3 may mắn liên tiếp này, phi đội Mỹ sẽ không thể đánh trúng (hoặc đánh trúng nhưng chỉ gây hư hại nặng chứ không thể làm chìm) tới 3 tàu sân bay cỡ lớn của Nhật.

Một sự xui xẻo khác cho Nhật diễn ra vào trước đó: việc máy bay trinh sát trên tàu tuần dương Tone bị trục trặc cũng đã làm chậm đòn tấn công của Nhật mất 30 phút, nếu không có sự vận xui này thì các tàu sân bay Nhật đã kịp tung ra đòn tấn công trước khi máy bay Mỹ làm gì được họ.

Trong chiến tranh có thời điểm dành cho sự thận trọng, có thời điểm dành cho sự táo bạo. Đô đốc Yamamoto lập kế hoạch chiến dịch Midway quá bất cẩn khi bố trí các lực lượng Nhật cách xa nhau, trong khi Đô đốc Nagumo lại thi triển nó quá thận trọng. Đô đốc Nagumo đã quyết định chờ các máy bay tấn công đảo Midway quay trở về rồi mới tấn công hạm đội Mỹ, nếu ông ta nghe theo đề nghị của đô đốc Yamaguchi (ra lệnh tung máy bay tấn công ngay khi nhận được thông báo về vị trí của hạm đội Mỹ) thì với hơn 150 máy bay được tung ra, quân Nhật sẽ gây cho hạm đội Mỹ những thiệt hại nặng hơn rất nhiều, thậm chí 150 máy bay đó hoàn toàn có đủ khả năng tiêu diệt cả 3 tàu sân bay Mỹ cùng nhiều tàu khu trục hộ tống, và khi đó Nhật Bản mới là bên chiến thắng. Vậy là chỉ vì 1 mệnh lệnh do dự của Nagumo mà quân Nhật đang từ thế thắng lại chuyển sang thua.

Với việc Nhật Bản bị mất 4 tàu sân bay cỡ lớn, Hải quân Hoa Kỳ giờ đã cân bằng lực lượng với đối phương trong phương diện về hàng không mẫu hạm và đang vươn móng vuốt của nó về phía trước, Hoa Kỳ bắt đầu có thể vào thế công kích lần đầu tiên trong cuộc chiến. Sau đó không lâu Hoa Kỳ xâm chiếm Guadalcanal, mở đầu cuộc chiến quần thảo hao mòn tại Quần đảo Solomon và cuối cùng đã đánh tan hải quân và các đơn vị không quân thiện chiến của Nhật vào cuối năm 1944.

Ảnh hưởng của trận chiếnSửa đổi

Đánh giá ảnh hưởng của cuộc chiến đòi hỏi phân tích thật cẩn trọng. Mặc dù trận Midway thường được gọi là một thắng lợi quyết định của Hoa Kỳ,[1] "bước ngoặt của chiến trường Thái Bình Dương", nhưng rõ ràng là Hoa Kỳ chưa thể thắng cuộc chiến Thái Bình Dương trong vòng một đêm. Hải quân Nhật Bản tiếp tục chiến đấu gan lì, và phải mất nhiều tháng trước khi Hoa Kỳ xoay trở từ trạng thái cân bằng hải lực sang trạng thái chiếm ưu thế. Cho dù không có sự khác biệt to lớn về lực lượng giữa hai bên tham chiến, đặt giả thiết là Hoa Kỳ đã thua trận chiến này, Nhật Bản cuối cùng vẫn sẽ thua Hoa Kỳ trên mặt trận Thái Bình Dương. Như thế, Midway không phải là trận chiến "quyết định" trong cùng ý nghĩa như trận Salamis hay trận Trafalgar. Tuy nhiên, chiến thắng ở Midway đưa Hoa Kỳ vào thế chủ động, gây thiệt hại nặng cho lực lượng Nhật khiến nó không thể hồi phục lại được và rút ngắn chiến cuộc tại Thái Bình Dương.

Chỉ hai tháng sau trận Midway, nhận ra sự bất ổn của phía Nhật, người Mỹ tấn công Guadalcanal; nếu không có thắng lợi ở Midway, người Mỹ không thể sớm tấn công như thế hoặc có thì cũng không thành công như đã đạt được ở Guadalcanal. Bảo đảm được tuyến hậu cần đi tới Úc và Ấn Độ Dương trong thời gian đó, cùng với việc tiêu hao lực lượng Nhật trong chiến dịch Guadalcanal, đã có những ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình chiến tranh. Tác động của việc này đến rút ngắn thời gian cuộc chiến thì vẫn còn bàn cãi, mặc dù lực lượng tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương đã khiến nền kinh tế Nhật Bản đi đến chỗ đình trệ vào tháng 1 năm 1945.

Trong khi trận Midway chưa chứng tỏ là không quân của Hải quân Nhật hoàn toàn bị tiêu diệt, nó lại là một đòn chí tử. Chương trình huấn luyện phi công của Nhật trước chiến tranh đào tạo ra các phi công với phẩm chất rất cao nhưng với số lượng ít. Nhóm nhỏ các phi công tài giỏi này là những chiến binh dày dạn trong chiến đấu. Tại Midway, Nhật Bản mất nhiều các phi công thiện chiến chỉ trong một ngày mà chương trình huấn luyện phải đào tạo trong một năm. Trong các trận chiến sau này quanh Guadalcanal vào cuối năm 1942 như trận Đông Solomonstrận Santa Cruz không quân của Hải quân Nhật không gượng dậy được bởi bị tiêu hao phi công, cho dù tổn thất của hai bên là khá tương đương. Các nhà hoạch định chiến lược của Nhật đã sai lầm trong dự đoán một cuộc chiến tranh lâu dài và không ngừng nghỉ. Kết quả là nước Nhật đã không bổ sung, bù đắp đủ cho những thiệt hại về tàu bè, phi công và thủy thủ. Mặc dù chương trình huấn luyện của Nhật trong chiến tranh có đào tạo thêm phi công nhưng họ không được huấn luyện thích đáng khi chiến tranh kéo dài, và sự mất cân đối này trở nên tồi tệ hơn khi các máy bay chiến đấu thế hệ sau của Hoa Kỳ tỏ rõ ưu việt trước máy bay của Nhật Bản. Khoảng giữa năm 1943, những thiệt hại ở Midway và quần đảo Solomons đã làm kiệt quệ lực lượng không quân của hạm đội Nhật. Tệ hơn nữa, thói quen của quân đội Nhật là vẫn giữ các phi công điêu luyện ở lại chiến đấu đã làm suy yếu năng lực huấn luyện đội ngũ phi công mới. Trái lại, Hải quân Mỹ điều các phi công xuất sắc của họ trở về các căn cứ huấn luyện để truyền thụ, nhân rộng các kỹ năng đánh bại người Nhật

Sự hủy hoại 4 hàng không mẫu hạm cỡ lớn của hạm đội Nhật Bản là một tổn thất không thể thay thế được. Nước Nhật đã không thể bổ sung đủ 4 chiếc khác mãi cho đến cuối năm 1944[14]. Sau trận chiến, Shōkaku và Zuikaku là những tàu sân bay lớn duy nhất của lực lượng tấn công Trân Châu Cảng ban đầu vẫn còn hoạt động. Trong số 18 tàu sân bay được chế tạo của Nhật Bản kể từ tháng 12/1941 cho tới đầu năm 1945, tàu Taihō được đưa vào hoạt động đầu năm 1944, và tàu Shinano hoạt động vào cuối năm 1944, sẽ là 2 tàu sân bay duy nhất có cùng khả năng và kích thước với Shōkaku và Zuikaku; Ryūjō và Zuihō là những tàu sân bay hạng nhẹ, trong khi Jun'yō và Hiyou, mặc dù được phân loại kỹ thuật là tàu sân bay cỡ lớn nhưng thực ra chúng nhỏ hơn và mang được ít máy bay hơn so với Shokaku. Trong cùng giai đoạn đó, Hải quân Hoa Kỳ đã đưa vào phục vụ 20 tàu sân bay cỡ lớn và khoảng 90 tàu sân bay hạng nhẹ/tàu sân bay hộ tống. Như vậy, trận Midway đã gây thiệt hại lâu dài cho lực lượng tấn công của Hải quân Nhật Bản, và rút ngắn khoảng thời gian mà lực lượng hải quân Nhật có thể chiến đấu trong những điều kiện có lợi. Việc mất năng lực chiến đấu ở giai đoạn sống còn này là một tai họa cho Đế quốc Nhật Bản. Họ đã có thể tiến hành những chiến dịch quy mô hơn và có lẽ là thành công hơn, để chống lại những chiến dịch phản công của Hoa Kỳ.

 
Tàu tuần dương Mikuma ngay trước khi chìm.

Tầm quan trọng của trận Midway cũng có thể được đánh giá bằng cách nghiên cứu ngược lại thực tế, với giả định rằng các mẫu hạm của Hoa Kỳ bị tiêu diệt, dù đây chỉ là chuyện giả thiết. Bằng phân tích thì thấy rõ là sự bại trận của Hoa Kỳ tại Midway sẽ có thể kéo dài cuộc chiến tại Thái Bình Dương. Nó làm chậm sự khởi đầu của chiến cuộc hao mòn toàn diện mà cần thiết như cách duy nhất để đem cường quốc công nghiệp hóa hiện đại như Nhật Bản phải chịu quỳ dưới chân mình[cần dẫn nguồn]. Với chỉ 2 hàng không mẫu hạm còn khả năng chiến đấu (chiếc SaratogaWasp), nước Mỹ buộc phải ở thế phòng ngự chiến lược cho đến cuối năm 1942. Hải quân Nhật với đội tàu sân bay còn đủ 12 chiếc (gồm 8 chiếc cỡ lớn và 4 chiếc cỡ nhỏ), có thể tiếp tục tiến đến New Hebrides (sát Úc) và cắt đứt liên hệ của Hoa Kỳ với Úc, đồng thời hoàn tất việc xâm chiếm New Guinea. Hơn thế nữa, một thất bại nặng nề ở Midway có thể dẫn đến việc cách chức những tướng lĩnh quan trọng như Nimitz và Spruance. Các chiến dịch tấn công trên Thái Bình Dương sẽ bị trì hoãn đến cuối năm 1943, khi các mẫu hạm thế hệ EssexIndependence có mặt với số lượng thích đáng. Với giả định này, việc đánh bại Nhật sẽ phải kéo dài hơn, ít nhất là thêm 1 năm.

Cũng giả thiết như thế, nếu Hoa Kỳ thua trận, việc phân phối lại những nguồn nhân lực và vật chất cho hải và không quân Hoa Kỳ có thể bị trì hoãn trong các cuộc hành quân đổ bộ tại Bắc Phi, Địa Trung Hải, và có thể là Normandy. Một cuộc chiến lâu hơn ở Thái Bình Dương cũng nêu lên câu hỏi về vai trò của Liên Xô trong việc buộc Nhật đầu hàng: nếu quân Mỹ không thể đánh bại Nhật vào tháng 8/1945 thì chiến dịch Mãn Châu của Liên Xô sẽ dẫn tới kết cục là Hồng quân giải phóng toàn bộ vùng Đông Bắc Á khỏi tay Nhật, thậm chí Liên Xô còn có thể đánh tiếp xuống phía nam để kiểm soát toàn bộ miền đông Trung Quốc (khi đó đang bị Nhật chiếm đóng), và không rõ liệu quân Liên Xô có cùng quân Mỹ đổ bộ và kiểm soát một nửa nước Nhật (giống như thực tế đã xảy ra ở nước Đức và bán đảo Triều Tiên) hay không.

Khám pháSửa đổi

Vào ngày 19 tháng 5 năm 1998, Robert Ballard và một nhóm các nhà khoa học và cựu binh Midway (có cả sự tham gia của một số người Nhật) đã thành công trong việc định vị và chụp ảnh Yorktown. Chiếc tàu trông còn khá nguyên vẹn; còn nhiều thiết bị ban đầu, và thậm chí lớp sơn nguyên thủy của tàu vẫn còn nhìn rõ.

Các bộ phimSửa đổi

Năm Tên phim Thông tin
1942 Battle of Midway Bộ phim đầu tiên nói về cuộc chiến được đạo diễn lừng danh là John Ford quay. Ông đã ghi lại được thước phim màu sống động của trận chiến thật
1976 Midway Do Jack Smight đạo diễn, mô tả các sự kiện xảy ra khá trung thực (ngoại trừ các cảnh lãng mạn vớ vẩn, sự hiện diện của các máy bay F4U Corsair mà lúc đó chưa từng hoạt động trong trận chiến đó và việc thăng chức Rochefort lên sĩ quan Tình báo Hạm đội).
2019 Midway Do Roland Emmerich đạo diễn, được sản xuất bởi AGC Studios với kinh phí xấp xỉ 100 triệu USD. Nguồn vốn đến từ nhiều đơn vị khác nhau. Trong đó, CAA Media FinanceBona Film Group(Trung Quốc) đã đóng góp khoảng 60 triệu USD. Phim có sự tham gia diễn xuất của Patrick Wilson, Woody Harrelson, Mandy Moore, Ed SkreinNick Jonas.[15]

Tham khảoSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Trên thực tế, tàu ngầm của Mỹ có thể gây nguy hiểm cho những nỗ lực của Nhật Bản. Blair, Silent Victory passim; Parillo, Japanese Merchant Marine.
  2. ^ Rõ ràng, vì nhận định của IJN ASW không chính xác, người Nhật không hề biết đến hiện diện của tàu ngầm Mỹ ngoài khơi, bắt đầu với chiếc Gudgeon của Joe Grenfell xuất hiện khoảng ba tuần sau trận Trân Châu Cảng. Blair, Silent Victory, p.110; Parillo, Japanese Merchant Marine; Peattie & Evans, Kaigun.

Trích dẫnSửa đổi

  1. ^ a ă â Theodore Ropp, War in the Modern World, trang 369
  2. ^ Parshall & Tully, trang. 90-91
  3. ^ “The Battle of Midway”. Office of Naval Intelligence. 
  4. ^ Parshall and Tully, Shattered Sword, trang.524.
  5. ^ Parshall & Tully 2005, tr. 114, 365, 377–380, 476
  6. ^ Prange, Miracle at Midway, các trang.13–15, 21–23; Willmott, The Barrier and the Javelin, các trang. 39–49; Parshall and Tully, Shattered Sword, các trang. 22–38.
  7. ^ Parshall and Tully, Shattered Sword, trang. 33; Prange, Miracle at Midway, trang. 23
  8. ^ Prange, Miracle at Midway, các trang. 22–26.
  9. ^ Parshall & Tully, Shattered Sword, các trang. 31–32.
  10. ^ Willmott, Barrier and the Javelin, các trang. 66–67; Parshall and Tully, Shattered Sword, các trang. 33–34.
  11. ^ a ă â b c d đ e “Vì sao người Mỹ thắng trận Midway?”. 
  12. ^ Cressman 1990, tr. 103
  13. ^ "Mikuma" (Tuần dương hạm, 1934-1942).
  14. ^ Mẫu hạm Shinano hạ thủy ngày 19 tháng 11 năm 1944 là chiếc thứ tư của Nhật hoàn thành trong Thế chiến sau các mẫu hạm Taihō, UnryūAmagi.
  15. ^ “Phim về chiến tranh Mỹ - Nhật bất ngờ lên ngôi đầu phòng vé”. 

Thư mụcSửa đổi

  • Barde, Robert E. "Midway: Tarnished Victory", Military Affairs, v. 47, no. 4 (December 1983)
  • Bergerud, Eric M. (2000). Fire in the Sky: The Air War in the South Pacific. Boulder, Colorado: Westview Press. tr. 752. ISBN 978-0-8133-2985-7. 
  • Bicheno, Hugh. Midway. Luân Đôn: Orion Publishing Group, 2001 (reprints Cassell 2001 edition)
  • Blair Jr., Clay (1975). Silent Victory: The U.S. Submarine War Against Japan. Philadelphia: J.B. Lippincott. tr. 1072. 
  • Buell, Thomas B. (1987). The Quiet Warrior: a Biography of Admiral Raymond A. Spruance. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. tr. 518. ISBN 0-87021-562-0. 
  • Cressman, Robert J.; et.al. (1990). "A Glorious page in our history", Adm. Chester Nimitz, 1942: the Battle of Midway, 4–6 June 1942. Missoula, Mont.: Pictorial Histories Pub. Co. ISBN 0-929521-40-4. 
  • Dull, Paul S. (1978). A Battle History of the Imperial Japanese Navy (1941–1945). US Naval Institute Press. 
  • Evans, David; Peattie, Mark R. (1997). Kaigun: Strategy, Tactics, and Technology in the Imperial Japanese Navy, 1887–1941. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-192-7. 
  • Fuchida, Mitsuo; Masatake Okumiya (1955). Midway: The Battle that Doomed Japan, the Japanese Navy's Story. Annapolis, Maryland: United States Naval Institute Press. ISBN 0-87021-372-5.  A Japanese account; numerous assertions in this work have been challenged by more recent sources.
  • Stephan, John J. (1984). Hawaii Under the Rising Sun: Japan's Plans for Conquest after Pearl Harbor. Honolulu: University of Hawaii Press. ISBN 0-8248-2550-0. 
  • Bix, Herbert P. (2001). Hirohito and the Making of Modern Japan. New York: Perennial / HarperCollinsPublishers. ISBN 0-06-019314-X. 
  • Holmes, W. (1979). Double-Edged Secrets: U.S. Naval Intelligence Operations in the Pacific During World War II (Bluejacket Books). Naval Institute Press. ISBN 1-55750-324-9. 
  • Hakim, Joy (1995). A History of Us: War, Peace and all that Jazz. New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-509514-6. 
  • Layton, Rear Admiral Edwin T. (1985). And I Was There: Pearl Harbor and Midway, Konecky and Konecky.
  • Lord, Walter (1967). Incredible Victory. Burford. ISBN 1-58080-059-9.  Focuses primarily on the human experience of the battle.
  • Lundstrom, John B. (2005 (new edition)). The First Team: Pacific Naval Air Combat from Pearl Harbor to Midway. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-471-X.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  • Parillo, Mark. Japanese Merchant Marine in World War II. Annapolis, Maryland: United States Naval Institute Press, 1993.
  • Parshall, Jonathan; Tully, Anthony (2005). Shattered Sword: The Untold Story of the Battle of Midway. Dulles, Virginia: Potomac Books. ISBN 1-57488-923-0.  Uses recently translated Japanese sources.
  • Peattie, Mark R.. Sunburst: The Rise of Japanese Naval Air Power, 1909–1941. US Naval Institute Press. tr. 392. ISBN 1-59114-664-X. 
  • Potter, E. B. and Nimitz, Chester W. (1960). Sea Power. Prentice-Hall. 
  • Prange, Gordon W.; Goldstein, Donald M., and Dillon, Katherine V. (1982). Miracle at Midway. McGraw-Hill. ISBN 0-07-050672-8.  The standard academic history of the battle based on massive research into American and Japanese sources.
  • Scrivner, Charles L. (1987). TBM/TBF Avenger in Action. Carrollton, Texas: Squadron/Signal Publications, Inc. 1987. ISBN 0-89747-197-0 Page 8: Photos of VT-8 TBF-1s, including sole survivor of VT-8's attack against Japanese carrier fleet.
  • Smith, Michael (2000). The Emperor's Codes: Bletchley Park and the breaking of Japan's secret ciphers, Bantam Press, ISBN 0-593-04642-0. Chapter 11: "Midway: The battle that turned the tide"
  • Willmott, H.P. (1983). The Barrier and the Javelin: Japanese and Allied Strategies, February to June 1942. United States Naval Institute Press. tr. 616. ISBN 1-59114-949-5.  Broad-scale history of the naval war with detailed accounts of order of battle and dispositions.

Đọc thêmSửa đổi

  • Lord Walter. Incredible Victory. New York: Harper & Row, 1967. ISBN 1-58080-059-9 (1998 Burford paperback edition). While treating many questions of historical fact, Lord (as in his other narrative-history works) focuses primarily on the human experience of the battle as recounted by survivors.
  • Prange Gordon W., Donald M. Goldstein, Katherine V. Dillon. Miracle at Midway. New York: McGraw-Hill, 1982. ISBN 0-07-050672-8. The comprehensive gold-standard academic history of the battle.
  • Ballard, Robert D., and Rick Archbold. Return to Midway: The quest to find Yorktown and the other lost ships from the pivotal battle of the Pacific War. Toronto: Madison Press Books. ISBN 0-7922-7500-4.
  • Hanson Victor D. Carnage and Culture: Landmark Battles in the Rise of Western Power. New York: Doubleday. ISBN 0-385-50052-1.
  • Kahn David. The Codebreakers, The Comprehensive History of Secret Communication from Ancient Times to the Internet. New York: Scribner. ISBN 0-684-83130-9. Significant section on Midway.
  • Cook Theodore F. Jr. "Our Midway disaster", trong Robert Cowley (chủ biên), What if? Luân Đôn: Macmillan, 2000. ISBN 0-333-75183-3.
  • Fuchida Mitsuo và Masatake Okumiya. Midway: The Battle that Doomed Japan, the Japanese Navy's Story. Annapolis, MD: Nhà in Viện Hải quân Hoa Kỳ, 1955. ISBN 0-87021-372-5. One of the earliest accounts of the battle from the Japanese side, used as a source by many Western histories. More recent historical research has shown, however, that Fuchida's account of the battle and of the tactical errors committed by the Japanese is colored by hindsight and is sometimes inaccurate and self-serving.
  • Wilmott H.P. The Barrier and the Javelin. Annapolis, MD: Nhà in Viện Hải quân Hoa Kỳ, 1983.
  • Parshall, Jonathan, and Anthony Tully. Shattered Sword: The Untold Story of the Battle of Midway. Dulles, VA: Potomac Books, 2005. ISBN 1-57488-923-0. Working primarily from the Japanese point of view, incorporating recent historical discoveries which have not previously appeared outside Japan, and relying more heavily on documentation (fleet action records and the like) than on individual accounts, this book challenges some of the assumptions prevalent in most Western histories of the battle.
  • Theodore Ropp, War in the Modern World, JHU Press, 31-05-2000. ISBN 0-8018-6445-3.

Liên kết ngoàiSửa đổi