Mở trình đơn chính

Văn Bàn là một huyện miền núi nằm về phía đông nam tỉnh Lào Cai, vùng Đông Bắc Việt Nam [1][2].

Văn Bàn

Huyện
Hành chính
TỉnhLào Cai
Huyện lỵthị trấn Khánh Yên
Phân chia hành chính1 thị trấn, 22 xã
Địa lý
Diện tích1.424 km2
Dân số
Tổng cộng87.317 người
Thành thị6.175 người
Nông thôn81.142 người
Mật độ61 người/km²
Khác

Mục lục

Vị trí và ranh giới địa lýSửa đổi

Tọa độ địa lý của huyện là từ 21°57′ đến 22°17′ vĩ độ Bắc và 103°57′ đến 104°30′ kinh độ Đông.

Văn Bàn phía đông giáp với huyện Bảo Yên, phía tây giáp với tỉnh Lai Châu, phía nam và Đông Nam giáp với tỉnh Yên Bái, phía bắc giáp với huyện Bảo ThắngSa Pa.

Điều kiện tự nhiênSửa đổi

Toàn huyện rộng 1435 km². Địa hình phức tạp nằm giữa hai dãy núi lớn là dãy núi Hoàng Liên Sơn ở phía tây Bắc và dãy núi Con Voi ở phía đông nam. Tới 90% diện tích là đồi núi cao (độ cao từ 700 - 1500m, độ dốc trung bình từ 25 - 350, có nơi trên 500). Còn lại 10% là địa hình thung lũng bồn địa ở độ cao từ 400 - 700m. Nơi cao nhất thuộc xã Nậm Chày, cao 2875m; thấp nhất thuộc vùng hạ lưu của suối Chàn, 85m.

Địa hình của Văn Bàn nghiêng dần theo hướng Tây - Tây Bắc xuống hướng Đông - Đông Nam.

Khí hậuSửa đổi

Nhiệt độ trung bình trong năm là 22,9 °C. Mùa mưa nhiệt độ trung bình từ 20 - 25 °C, cao nhất vào tháng Bảy (28 - 32 °C). Mùa khô nhiệt độ trung bình từ 10 - 12 °C, thấp nhất vào tháng Một (8 - 12 °C).

Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm từ 1.400 đến 1.470 giờ. Số ngày nắng, giờ nắng không đều trong năm. Mùa hè số giờ nắng nhiều tập trung vào tháng 5 (180 - 200 giờ), mùa khô số giờ nắng ít, ít nhất vào tháng 2 (30 - 40 giờ).

Độ ẩm không khí trung bình là 86%, và có sự chênh lệch khá lớn giữa các mùa trong năm, thấp nhất là tháng 12 (65 - 75%), cao nhất là tháng 7 (80 - 90%).

Lượng mưa trung bình trên năm là 1.500 mm tập trung vào tháng Bảy đến tháng Mười, chiếm 70% lượng mưa cả năm.

Tài nguyên thiên nhiênSửa đổi

ĐấtSửa đổi

Văn Bàn có 6 nhóm đất chính: đất phù sa sông suối (2,7%), đất đỏ vàng (45,7%), đất mùn vàng đỏ (35,72%), đất mùn alít trên núi cao (13,55%), đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (1,8%) và đất sói mòn trơ sỏi đá chiếm diện tích không đáng kể.

NướcSửa đổi

Văn Bàn có hệ thống sông ngòi khá dày, bình quân từ 1 - 1,75 km/km², gồm sông Hồng và các suối chính như: Ngòi Nhù, Nậm Tha, Ngòi Chàn. Bao gồm nước mặt và nước ngầm, trữ lượng nước lớn, phong phú, nguồn nước treo cao dễ khai thác sử dụng.

RừngSửa đổi

Rừng chiếm trên 57% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Ước tính rừng Văn Bàn có khoảng 12 triệu m³ gỗ với cây tre, nứa, vầu các loại. Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng liên - huyện Văn Bàn động vật rừng còn tương đối phong phú.

Khoáng sảnSửa đổi

Gồm: Fenspat ở Thị trấn Khánh Yên, xã Làng Giàng; sắt ở xã Sơn Thủy, xã Võ Lao, Thẩm Dương; vàng ở xã Minh Lương, Thẩm Dương. Ngoài ra trong huyện còn nơi khai thác đá vôi; cát...

Dân cưSửa đổi

Dân số toàn huyện là 89.120 người, gồm 11 sắc tộc. Phái nữ chiếm 51,17%, nam chiếm 48,83%. Dân số ở khu vực nông thôn chiếm 90%, ở khu vực thành thị chiếm 10%.

Hành chínhSửa đổi

Lịch sửSửa đổi

Sau năm 1975, huyện Văn Bàn có 18 xã: Chiềng Ken, Dần Thàng, Dương Quỳ, Hòa Mạc, Khánh Yên Hạ, Khánh Yên Thượng, Làng Giàng, Minh Lương, Nậm Chầy, Nậm Mả, Nậm Dạng, Nậm Tha, Nậm Xây, Nậm Xé, Sơn Thủy, Tân An, Tân Thượng, Võ Lao.

Ngày 12-2-1987, chia xã Dần Thàng thành hai xã lấy tên là Dần Thàng và xã Thẩm Dương; chia xã Khánh Yên Hạ thành hai xã lấy tên là xã Khánh Yên Trung và xã Khánh Yên Hạ; chia xã Chiềng Ken thành hai xã lấy tên là xã Chiềng Ken và xã Liêm Phú; chia xã Võ Lao thành hai xã lấy tên là xã Võ Lao và xã Văn Sơn.

Tháng 10-1989, chia xã Khánh Yên Thượng thành hai đơn vị hành chính lấy tên xã Khánh Yên Thượng và thị trấn Khánh Yên.

Thời kì trống thực dân Pháp ở núi Gia Lan(bà cháu):

-Được hình thành từ năm 1947, khu du kích Gia Lan là khu căn cứ bí mật trong vùng địch do huyện uỷ Văn Bàn chỉ đạo xây dựng. Khi thực dân Pháp chiếm đóng Văn Bàn, nhờ hoạt động mạnh mẽ của lực lượng du kích, nhân dân các xã Làng Giàng, Khánh Yên Thượng, Khánh Yên Hạ đã tản cư vào đây để tránh bị kìm kẹp, cướp bóc của quân pháp và tay sai. Đây cũng là điều kiện để quân ta phát triển thêm lực lượng và mở rộng địa bàn hoạt động ra các địa bàn phụ cận như Làng Giàng, Khánh Yên Hạ, Chiềng Ken, thậm chí đến cả Nậm Tha, Dương Quỳ, Nậm Xé..v.v.. Khu du kích Gia Lan trở thành nơi gặp gỡ cán bộ, bộ đội, du kích để họp bàn kế hoạch thực hiện các đợt huấn luyện, nơi xuất phát các hoạt động tiễu phỉ, trừ gian, quấy rối tấn công đồn pháp trên địa bàn.

-rang bị vũ khí nghèo nàn, thô sơ, song lòng quả cảm, sẵn sàng hy sinh của đội quân du kích Gia lan đã góp phần quan trọng vào cuộc chiến giải phóng Văn Bàn, giải phóng Lào Cai vào 1/11/1950, đảm bảo an toàn một hướng tiếp vận quân lương của bộ đội ta lên Tây bắc, làm nên chiến thắng ĐiệnBiên Phủ, vang dội 5 châu, chấn động địa cầu. Với ý nghĩa lịch sử như vậy mà ngày 16/11/2006, di tích đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai công nhận là di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh, góp phần giáo dục ý thức cách mạng cho các thệ hệ mai sau.

Vừa là minh chứng cho một giai đoạn lịch sử hào hùng, là niềm tự hào của Đảng bộ quân và dân các dân tộc Văn Bàn, hiện nay khu du kích Gia Lan còn được địa phương quan tâm xây dựng trở thành một địa chỉ thu hút khách tham quan du lịch.

Di tích lịch sử - văn hóaSửa đổi

  • Đền Cô ở xã Tân An thờ bà Nguyễn Hoàng Ba Xa có công trong dẹp giặc ngoại xâm thời Cảnh Hưng (1740-1786).
  • Đền Ken ở xã Chiềng Ken thờ Nguyễn Hoàng Long cùng các thuộc hạ đã có công đánh giặc, giữ an ninh vùng biên giới và khai hoang.
  • Khu căn cứ du kích Pú Gia Lan ở xã Khánh Yên Thượng.
  • Chiến thắng Đồn Coóc thị trấn Khánh Yên
  • Khu căn cứ cách mạng Nà Chuồng ở xã Thẩm Dương.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă Thông tư 36/2013/TT-BTNMT ngày 30/10/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Ban hành Danh mục địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, kinh tế - xã hội phục vụ công tác thành lập bản đồ phần đất liền tỉnh Lào Cai. Thuky Luat Online, 2016. Truy cập 20/08/2018.
  2. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 08/07/2004 ban hành Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam có đến 30/6/2004. Thuky Luat Online, 2016. Truy cập 25/12/2018.

Bản mẫu:Danh sách xã, thị trấn thuộc huyện Văn Bàn