Yên Bái

Tỉnh thuộc vùng Tây Bắc Bộ của Việt Nam

Yên Bái[8] là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, Việt Nam.[9][10]

Yên Bái
Tỉnh
Tỉnh Yên Bái
Logo tỉnh Yên Bái
Hành chính
Quốc giaViệt Nam
VùngTây Bắc Bộ
Tỉnh lỵThành phố Yên Bái
Trụ sở UBND1227, đường Yên Ninh, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái
Phân chia hành chính1 thành phố, 1 thị xã, 7 huyện
Thành lập
  • 11/4/1900
  • 12/8/1991: tái lập
Đại biểu quốc hội6 đại biểu
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDTrần Huy Tuấn
Hội đồng nhân dân56 đại biểu
Chủ tịch HĐNDTạ Văn Long
Chủ tịch UBMTTQGiàng A Tông
Chánh án TANDPhan Văn Tiến
Viện trưởng VKSNDLương Văn Thức
Bí thư Tỉnh ủyĐỗ Đức Duy
Địa lý
Tọa độ: 21°41′35″B 104°52′22″Đ / 21,693161°B 104,872742°Đ / 21.693161; 104.872742
MapBản đồ tỉnh Yên Bái
Vị trí tỉnh Yên Bái trên bản đồ Việt Nam
Vị trí tỉnh Yên Bái trên bản đồ Việt Nam
Vị trí tỉnh Yên Bái trên bản đồ Việt Nam
Diện tích6.892,67 km²[1][2]
Dân số (2021)
Tổng cộng842.700 người[3]
Thành thị174.700 người (20,7%)[4]
Nông thôn667.900 người (79,3%)[5]
Mật độ122 người/km²[6]
Dân tộcKinh, Tày, Dao, H'Mông và một số dân tộc khác
Kinh tế (2018)
GRDP27.404 tỉ đồng (1.18 tỉ USD)
GRDP đầu người33,6 triệu đồng (1.459 USD)
Khác
Mã địa lýVN-06
Mã hành chính15[7]
Mã bưu chính33xxx
Mã điện thoại216
Biển số xe21
Websiteyenbai.gov.vn

Địa lýSửa đổi

Tỉnh Yên Bái nằm ở vùng Tây Bắc tiếp giáp với Đông Bắc, có vị trí địa lý:

Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Yên Bái, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 180 km.

Các điểm cực của tỉnh Yên Bái:Sửa đổi

  • Điểm cực bắc tại: xã Tân Phượng, huyện Lục Yên.
  • Điểm cực đông tại: xã Đại Minh, huyện Yên Bình.
  • Điểm cực tây tại: xã Hồ Bốn, huyện Mù Cang Chải.
  • Điểm cực nam tại: khu vực đèo Lũng Lô, xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn.

Hành chínhSửa đổi

Tỉnh Yên Bái có 9 đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện với 173 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 13 phường, 10 thị trấn và 150 xã.[12]

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Yên Bái
Tên Dân số (người)2019 Hành chính
Thành phố (1)
Yên Bái 100.631 9 phường, 6 xã
Thị xã (1)
Nghĩa Lộ 68.206 4 phường, 10 xã
Huyện (7)
Lục Yên 108.817 1 thị trấn, 23 xã
Tên Dân số (người)2019 Hành chính
Mù Cang Chải 63.961 1 thị trấn, 13 xã
Trạm Tấu 33.962 1 thị trấn, 11 xã
Trấn Yên 84.675 1 thị trấn, 20 xã
Văn Chấn 116.804 3 thị trấn, 21 xã
Văn Yên 129.679 1 thị trấn, 24 xã
Yên Bình 112.046 2 thị trấn, 22 xã
Nguồn: Kết quả điều tra dân số trên địa bàn tỉnh Yên Bái năm 2019[13]

Địa hìnhSửa đổi

Yên Bái có diện tích tự nhiên 6.882,9 km², nằm trải dọc đôi bờ sông Hồng.

Địa hình Yên Bái có độ dốc lớn, cao dần từ đông sang tây, từ nam lên bắc, độ cao trung bình 600 mét so với mực nước biển và có thể chia làm hai vùng: vùng thấp ở tả ngạn sông Hồng và lưu vực sông Chảy mang nhiều đặc điểm của vùng trung du; vùng cao thuộc hữu ngạn sông Hồng và cao nguyên nằm giữa sông Hồng và sông Đà có nhiều dãy núi. Đèo Khau Phạđèo hiểm trở và dài nhất trên tuyến quốc lộ 32 với độ dài trên 30 km.

Điều kiện tự nhiênSửa đổi

Sông ngòiSửa đổi

 
Đèo Khau Phạ trên Quốc lộ 32

Ngoài hai con sông lớn là sông Hồngsông Chảy, còn có khoảng 200 ngòi, suối lớn nhỏ và hồ, đầm. Đầu thập niên 1960, Liên Xô giúp thiết kế hồ Thác Bà là hồ nước nhân tạo có diện tích mặt nước trên 20.000 ha, với khoảng 1.300 đảo lớn nhỏ. Hồ có sức chứa 3–3,9 tỷ m³ nước với mục đích ban đầu là chạy nhà máy thủy điện Thác Bà - công trình thủy điện lớn đầu tiên ở Việt Nam.

Khí hậuSửa đổi

Yên Bái có khí hậu đặc trưng của khí hậu cận nhiệt đới ẩm của miền bắc Việt Nam, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông phi nhiệt đới lạnh và khô.

RừngSửa đổi

Yên Bái có rừng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới trên núi cao. Ở đây có gỗ quý pơ-mu sẽ tốt cho sức khỏe và đuổi muỗi nếu làm giường. Diện tích rừng chiếm 54%.

Khoáng sảnSửa đổi

 
đá đỏ Lục Yên

Tài nguyên khoáng sản trữ lượng khá lớn như đá đỏ, sắt, thạch anh, đá fenspat, đá trắng Đông Nam Á.

Kinh tếSửa đổi

Năm 2018, Yên Bái là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 50 về số dân, xếp thứ 56 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 57 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 60 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 815.600 người dân[14], GRDP đạt 27.404 tỉ Đồng (tương ứng với 1,18 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 33,6 triệu đồng (tương ứng với 1.459 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 6,31%.[15]

Nông nghiệp: Đất nông nghiệp chiếm gần 10% diện tích tự nhiên, trong đó có cánh đồng Mường Lò rộng 2.300 ha nổi tiếng vùng Tây Bắc với nhiều sản vật có giá trị như: chè, quế, gạo nếp Tú Lệ, cam Lục Yên, nhãn Văn Chấn. Dân số Yên Bái phần lớn là nông dân, chiếm 85% tổng số dân trong huyện. Các sản phẩm nông nghiệp chính gồm có: lúa, cam, quế, ngô, khoai...

Công nghiệp: Vì là tỉnh miền núi, nên công nghiệp Yên Bái kém phát triển hơn so với các tỉnh miền xuôi. Sản phẩm công nghiệp chính gồm: chè khô, xi măng, gỗ,...

Dịch vụ: Dịch vụ ở Yên Bái phát triển tầm trung bình. Các ngành ngân hàng, buôn bán lớn, bất động sản đều tập trung ở các nơi đông dân cư, đô thị lớn như: thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ, các thị trấn đông đúc,... còn những vùng cao, miền núi thì dịch vụ là những phiên chợ vùng cao để trao đổi hàng hoá.

Tổng quát kinh tế Yên Bái: Nhìn chung Yên Bái có nền kinh tế khá đa dạng, nhưng Yên Bái vẫn là tỉnh nghèo. Yên Bái có tỷ lệ hộ nghèo là 20,2%. Trong đó hai huyện Mù Căng Chải và Trạm Tấu rất khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo hai huyện này lần lượt là 58% và 53%, đây cũng là 2 huyện nằm trong danh sách những huyện nghèo nhất nước. Các khu vực miền núi nhiều nơi có tỉ lệ nghèo vượt ngưỡng 80% đặc biệt là các xã vùng cao. Riêng miền xuôi những nơi như tp. Yên Bái, tx.Nghĩa Lộ, các huyện Lục Yên, Văn Yên,... thì kinh tế khá hơn, tỉ lệ nghèo ở những nơi này khoảng 9-16%.

Dân tộcSửa đổi

 
Thổ cẩm bán trong chợ Mường Lò, Nghĩa Lộ

Hiện nay, toàn tỉnh có 821.030 người (năm 2019), gồm 30 dân tộc chung sống. Các dân tộc ở Yên Bái sống xen kẽ, quần tụ ở khắp các địa phương trên địa bàn của tỉnh, với những bản sắc văn hoá đậm nét dân tộc. Gồm có các dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Dao, dân tộc Mông... 20,3% dân số sống ở đô thị và 79,7% dân số sống ở nông thôn. Tỷ lệ đô thị hóa tính đến năm 2022 là 22,38%.

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 7 tôn giáo khác nhau đạt 61.973 người, nhiều nhất là Công giáo có 58.145 người, tiếp theo là Phật giáo đạt 2.996 người, đạo Tin Lành có 826 người. Còn lại các tôn giáo khác như đạo Cao Đài có ba người, Phật giáo Hòa HảoTịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam mỗi tôn giáo chỉ có một người.[16]

Lịch sửSửa đổi

Yên Bái là một điểm sinh tụ của người Việt cổ, có nền văn hoá nhân bản, thể hiện ở những di vật, di chỉ phát hiện ở hang Hùm (Lục Yên), công cụ bằng đá ở Thẩm Thoóng (Văn Chấn), thạp đồng Đào Thịnh, Hợp Minh (Trấn Yên), trống đồng Minh Xuân (Lục Yên). Nhiều di chỉ khảo cổ được phát hiện, như đền, tháp, khu di tích lịch sử.

Được thành lập ngày 11 tháng 4 năm 1900, tỉnh Yên Bái được biết đến qua cuộc Khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng vào thượng tuần tháng 2 năm 1930. Lãnh tụ là Nguyễn Thái Học đã bị thực dân Pháp bắt và đem hành quyết bằng máy chém ở Yên Bái cùng 12 đồng đội vào ngày 17 tháng 6 năm 1930.

Sau năm 1945, tỉnh Yên Bái có 5 huyện: Lục Yên, Than Uyên, Trấn Yên, Văn Bàn, Văn Chấn.

Ngày 29 tháng 4 năm 1955, thành lập Khu tự trị Thái - Mèo, địa bàn hai huyện Than UyênVăn Chấn thuộc khu tự trị[17] và sau là tỉnh Nghĩa Lộ.

Ngày 13 tháng 5 năm 1955, hai huyện Than Uyên và Văn Chấn chính thức tách khỏi tỉnh Yên Bái để sáp nhập vào khu tự trị Thái - Mèo.[18]

Ngày 7 tháng 4 năm 1956, thành lập lại thị xã Yên Bái.

Ngày 1 tháng 7 năm 1956, chuyển huyện Yên Bình của tỉnh Tuyên Quang về tỉnh Yên Bái quản lý.

Ngày 16 tháng 12 năm 1964, thành lập 2 huyện Bảo Yên (tách ra từ 2 huyện Lục Yên và Văn Bàn) và Văn Yên (tách ra từ 2 huyện Trấn Yên và Văn Bàn)[19].

Ngày 27 tháng 12 năm 1975, tỉnh Yên Bái được hợp nhất với 2 tỉnh Lào CaiNghĩa Lộ thành tỉnh Hoàng Liên Sơn.[20]

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Hoàng Liên Sơn chia lại thành 2 tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Tỉnh Yên Bái được tái lập, gồm thị xã Yên Bái và 7 huyện: Lục Yên, Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Trấn Yên, Văn Chấn, Văn Yên, Yên Bình[21] (riêng hai huyện Bảo YênVăn Bàn lúc này thuộc tỉnh Lào Cai).

Ngày 15 tháng 5 năm 1995, tái lập thị xã Nghĩa Lộ trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của huyện Văn Chấn[22].

Ngày 11 tháng 1 năm 2002, chuyển thị xã Yên Bái thành thành phố Yên Bái[23].

Tỉnh Yên Bái có 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện như hiện nay.

Giao thôngSửa đổi

 
Đường vào huyện Trạm Tấu
 
Nhà thờ Nghĩa Lộ

Giao thông ở Yên Bái có hệ thống đường sắt, đường bộ, đường thủy, quốc lộ 32, 3770 chạy qua tỉnh. Thông thương từ Yên Bái đến các tỉnh lân cận của miền Tây Bắc và Việt Bắc ngày càng phát triển nhất là khi hệ thống đường bộ đang tiếp tục được hoàn thiện, tuyến đường sắt Hà Nội - Yên Bái - Lào Cai nối liền tới Côn Minh, Trung Quốc được nâng cấp. Từ Yên Bái đi đến các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ có hệ thống giao thông đường bộ phát triển, tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai hoàn thành làm cầu nối giao thông của Tây Bắc Bộ với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

Ẩm thựcSửa đổi

Đặc điểmSửa đổi

Ở Yên Bái, đồng bào dân tộc chiếm đến gần 50%. Người Mông sinh sống nhiều ở Mù Căng Chải, Trạm Tấu. Người Thái sinh sống nhiều ở Văn Chấn, Nghĩa Lộ. Người Tày và người Kinh sinh sống ở các huyện thấp. Người Dao sinh sống nhiều ở Văn Yên, Lục Yên. Ngoài ra còn một số ít thuộc các dân tộc khác như: Nùng, Sán Chay, Mường, Khơ Mú, Phù Lá... Mỗi dân tộc đều có ẩm thực đặc trưng làm đa dạng, phong phú thêm trong ẩm thực tỉnh. Các ẩm thực của các huyện phía đông có nét giống với khu vực Việt Bắc, Đông Bắc; khu vực Nghĩa Lộ, Trạm Tấu, Mù Cang Chải và một phần huyện Văn Chấn các ẩm thực lại khác biệt hẳn mang đặc trưng của ẩm thực người Mông và ảnh hưởng nhiều của ẩm thực người Thái Tây Bắc như: thịt lợn đen, gà đen Mông, chẩm chéo, món ăn từ côn trùng, trâu sấy, nậm pịa, pa tỉnh tộp, bánh dày Mông,... Khí hậu cũng làm cho ẩm thực có sự khác biệt ở phía đông là vùng thấp, có mùa xuân mưa ẩm, mùa mưa đến sớm và kết thúc muộn hơn khu vực phía tây (Mù Căng Chải, Trạm Tấu, Nghĩa Lộ) nên các sản vật ẩm thực cũng có khác biệt rõ nét do nguồn nguyên liệu chế biến thành các món ăn khác nhau giữa các vùng. Địa hình đa dạng từ vùng thấp thung lũng sông Hồng đến vùng đồi núi thấp phía đông (nhãn, bưởi, chuối, cọ, trám, quế, chè xanh...) đến vùng núi cao phía tây (táo mèo, mắc khén, cải mèo, gạo cẩm, hạt dổi, tai chua, chè san, thảo quả, mận, lê, nếp tan...) làm phong phú cho hệ thực vật gắn liền với sản vật làm ẩm thực của các vùng. Phần lớn các huyện Yên Bình, Văn Yên, Trấn Yên và thành phố Yên Bái các món ăn, ẩm thực không có khác biệt nhiều với khu vực dưới xuôi.

Các đặc sản, ẩm thực Yên BáiSửa đổi

Cá sỉnh Nậm Thia, táo mèo Mù Cang Chải, gạo lứt nương đỏ Trạm Tấu, bánh chưng đen Mường Lò, vịt bầu Lâm Thượng, bọ xít rang, mắm tép hồ Thác Bà, lợn cắp nách, pá dù Mù Cang Chải, chẳm chéo Thái, rêu đá Nghĩa Lộ, bánh chim gâu Yên Thành, gạo séng cù Mường Lò, khoai môn tím Lục Yên, lạp xưởng, rượu cần bút cờ đoong Nghĩa Sơn, moọc Lục Yên, sắn Văn Yên, chè san Phình Hồ, nậm pịa Mường Lò, bưởi Đại Minh, rượu thóc La Pán Tẩn, xôi ngũ sắc Mường Lò, cọ ỏm Dao Đỏ, cải mèo, mật ong nhãn Văn Chấn, măng, bánh dày Mông, muồm muỗm rang Mường Lò, mận Kim Nọi, thảo quả, xôi trứng kiến, mắc khén, thịt mắm cơm đỏ Lục Yên, nếp Tú Lệ, lạp cá Mường Lò, măng ớt Trạm Tấu, rau thối Lục Yên, cam Văn Chấn, thịt trâu sấy Mù Cang Chải, pà mẳm, thịt gác bếp, gà đen Mông, bánh chuối Lục Yên, gạo cẩm, mận tam hoa Mù Cang Chải, ruốc tôm Mường Lò, trám, cá nướng hồ Thác Bà, nhãn Văn Chấn, canh gà Mù Cang Chải, rau sắn muối chua Lục Yên, quế Văn Yên, dế mèn Nghĩa Lộ, măng tre Bát Độ, rượu hoẵng Dao Đỏ, thảo quả, măng vầu cuốn thịt, cốm Tú Lệ, cơm lam Mường Lò, hồng Vĩnh Lạc, lá cơm kìa, cá bỗng Lục Yên, chè xanh, măng chua héo, rượu táo mèo, rau dớn, miến đao Giới Phiên, mọc vịt Lục Yên, chè san tuyết Suối Giàng.

Du lịchSửa đổi

 
Ruộng bậc thang Mù Cang Chải
 
Hồ Thác Bà
 
Núi Tà Chì Nhù (Phu Song Sung)

Giáo dụcSửa đổi

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh có truyền thống từ lâu và chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng trong những năm gần đây. Hệ thống giáo dục và đào tạo được củng cố, phát triển. Quy mô giáo dục tăng nhanh, các cấp học, ngành học từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học, từ giáo dục chính quy đến giáo dục thường xuyên dần hoàn thiện. Công tác đào tạo đã có một số chuyển biến tích cực, đáp ứng một phần nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hiện nay toàn ngành đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2009 - 2015.

Một số trường học có uy tín tại Yên Bái:

  • Trường CĐSP Yên Bái
  • Trường THPT chuyên Nguyễn Tất Thành
  • Trường THPT Nguyễn Huệ
  • Trường THPT Lê Quý Đôn
  • Trường THPT Chu Văn An
  • Trường TH Nguyễn Thái Học
  • Trường THPT Lý Thường Kiệt
  • Trường THCS Yên Ninh
  • Trường THCS Quang Trung
  • Trường THCS Lê Hồng Phong
  • Trường THCS Thị trấn Yên Bình
  • Trường THPT Trần Nhật Duật
  • Trường Phổ thông liên cấp II-III Trấn Yên II
  • Trường THCS Yên Thịnh
  • Trường THPT Hoàng Quốc Việt

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2020”. Quyết định số 387/QĐ-BTNMT 2022. Bộ Tài nguyên và Môi trường (Việt Nam).
  2. ^ Tổng cục Thống kê (2022). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2021 (PDF). Nhà Xuất bản Thống kê. tr. 89. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2022.
  3. ^ Tổng cục Thống kê (2022). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2021 (PDF). Nhà Xuất bản Thống kê. tr. 92. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2022.
  4. ^ Tổng cục Thống kê (2022). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2021 (PDF). Nhà Xuất bản Thống kê. tr. 98. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2022.
  5. ^ Tổng cục Thống kê (2022). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2021 (PDF). Nhà Xuất bản Thống kê. tr. 100. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2022.
  6. ^ Tổng cục Thống kê (2022). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2021 (PDF). Nhà Xuất bản Thống kê. tr. 89. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2022.
  7. ^ Tổng cục Thống kê
  8. ^ “Đại Nam thực lục”. Google Books. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2015. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015.
  9. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 08/07/2004 ban hành Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam có đến 30/6/2004. Thuky Luat Online, 2016. Truy cập 11/04/2019.
  10. ^ Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
  11. ^ Vị trí địa lý - Địa hình - Địa giới hành chính của tỉnh Yên Bái, Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái
  12. ^ “Nghị quyết số 871/NQ-UBTVQH14 năm 2020 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Yên Bái”.
  13. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. “Dân số đến 01 tháng 4 năm 2019 - tỉnh Yên Bái”. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2020.
  14. ^ “Dân số các tỉnh Việt Nam năm 2018”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập Ngày 30 tháng 9 năm 2019.
  15. ^ “Tình hình kinh tế, xã hội Yên Bái năm 2018”. Cục Thống kê tỉnh Yên Bái. Truy cập Ngày 12 tháng 10 năm 2019.
  16. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  17. ^ Sắc lệnh số 230/SL về việc ban hành quy định thành lập Khu tự trị Thái Mèo do Chủ tịch nước ban hành
  18. ^ Sắc lệnh số 231/SL năm 1955
  19. ^ Quyết định 177-CP năm 1964 về việc điều chỉnh địa giới của một số huyện thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Yên Bái và Thanh Hóa do Hội đồng Chính phủ ban hành
  20. ^ “Nghị quyết về việc hợp nhất một số tỉnh do Quốc hội ban hành”.
  21. ^ Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành
  22. ^ Nghị định 31-CP năm 1995 về việc thành lập thị xã Nghĩa Lộ và điều chỉnh địa giới hành chính giữa thị xã Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn thuộc tỉnh Yên Bái
  23. ^ Nghị định 05/2002/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Yên Bái thuộc tỉnh Yên Bái

Liên kết ngoàiSửa đổi