Mở trình đơn chính

Willy Brandt, tên khai sinh Herbert Ernst Karl Frahm (18 tháng 12, 1913 - 8 tháng 10, 1992) là một chính trị gia, thủ tướng Tây Đức từ 1969–1974, lãnh đạo Đảng Dân chủ Xã hội Đức (SPD) giai đoạn 1964–1987. Ông Được trao giải Nobel Hoà bình năm 1971 vì những nỗ lực của ông trong việc tăng cường hợp tác ở Tây Âu thông qua EEC và để đạt được hòa giải giữa Tây Đức và các quốc gia Đông Âu.[1] Ông là Thủ tướng Dân chủ Xã hội đầu tiên.[2] năm 1930.

Willy Brandt
Bundesarchiv B 145 Bild-F057884-0009, Willy Brandt.jpg
Willy Brandt năm 1980
Chức vụ
Nhiệm kỳ22 tháng 10 năm 1969 – 7 tháng 5 năm 1974
&0000000000000004.0000004 năm, &0000000000000197.000000197 ngày
Tiền nhiệmKurt Georg Kiesinger
Kế nhiệmHelmut Schmidt
Nhiệm kỳ16 tháng 2 năm 1964 – 14 tháng 6 năm 1987
&0000000000000023.00000023 năm, &0000000000000118.000000118 ngày
Tiền nhiệmErich Ollenhauer
Kế nhiệmHans-Jochen Vogel
Nhiệm kỳ1 tháng 12 năm 1966 – 14 tháng 6 năm 1987
&0000000000000023.00000023 năm, &0000000000000118.000000118 ngày
Tiền nhiệmErich Ollenhauer
Kế nhiệmWalter Scheel
Nhiệm kỳ – 20 tháng 10 năm 1969
&0000000000000002.0000002 năm, &0000000000000323.000000323 ngày
Tiền nhiệmGerhard Schröder
Kế nhiệmWalter Scheel
Nhiệm kỳ3 tháng 10 năm 1957 – 1 tháng 12 năm 1966
&0000000000000009.0000009 năm, &0000000000000059.00000059 ngày
Tiền nhiệmOtto Suhr
Kế nhiệmHeinrich Albertz
Nhiệm kỳ11 tháng 1 năm 1955 – 2 tháng 10 năm 1957
&0000000000000002.0000002 năm, &0000000000000264.000000264 ngày
Tiền nhiệmOtto Suhr
Kế nhiệmKurt Landsberg (de)
Thông tin chung
Sinh(1913-12-18)18 tháng 12 năm 1913
Lübeck, German Empire
Mất8 tháng 10 năm 1992(1992-10-08) (78 tuổi)
Unkel, Đức
Nguyên nhân mấtColon cancer
Tôn giáoLuther giáo
Đảng pháiĐảng Dân chủ Xã hội (1930–1931, 1948–1992)
Đảng Công nhân Xẫ hội (1931–1946)
Con cáiNinja
Peter
Lars
Matthias
Chữ kýWilly Brandt signature.svg
Willy Brandt năm 1988

Trốn sang Na Uy và sau đó là Thụy Điển Điển trong chế độ Nazi và làm nhà báo cánh tả, ông lấy tên Willy Brandt làm bút danh để tránh bị phát hiện bởi các nhân viên Quốc xã và sau đó chính thức thông qua tên vào năm 1948. Brandt ban đầu được coi là một trong những nhà lãnh đạo Của cánh hữu của SPD, và giành được sự nổi tiếng ban đầu là Thị trưởng của Tây Berlin. Ông từng là Bộ trưởng Ngoại giao Đức và Bộ trưởng Ngoại giao Đức trong nội các Kurt Georg Kiesinger, và trở thành Thủ tướng vào năm 1969. Như Ông duy trì sự liên kết chặt chẽ của Tây Đức với Hoa Kỳ và tập trung vào việc tăng cường hội nhập châu Âu ở Tây Âu, trong khi đưa ra chính sách mới của "Ostpolitik" nhằm mục đích cải thiện quan hệ với Đông Âu. Brandt đã gây tranh cãi về cả cánh hữu, đối với "Ostpolitik" của ông, và cánh tả, vì sự ủng hộ của ông đối với các chính sách của Mỹ, bao gồm chế độ Chiến tranh Việt Nam, và cánh hữu. Báo cáo Brandt đã trở thành một biện pháp được công nhận để mô tả sự chia cắt Bắc-Nam chung trong nền kinh tế thế giới và chính trị giữa miền Bắc giàu có và miền Nam nghèo. Brandt cũng được biết đến với các chính sách chống cộng của ông dữ dội ở cấp độ nội địa, lên đến đỉnh cao trong Radikalenerlass (Nghị định chống lại) năm 1972.

Di sản lớn nhất của ông để lại là Ostpolitik, một chính sách được đưa ra nhằm cải thiện quan hệ với Đông Đức, Ba LanLiên bang Xô Viết. Chính sách này của Brandt đã gây ra tranh cãi tại Tây Đức nhưng lại giúp ông giành được giải Nobel hòa bình năm 1971.

Brandt bị buộc phải từ chức thủ tướng Đức năm 1974 sau khi một phụ tá thân cận của ông bị phát hiện đã làm việc cho lực lượng cảnh sát mật của Đông Đức Stasi. Đây là một trong những scandal chính trị lớn nhất trong lịch sử Tây Đức thời hậu chiến.

Tiểu sửSửa đổi

Willy Brandt sinh ra ở Herbert Ernst Carl Frahm trong Thành phố tự do Lübeck (Đế quốc Đức) ngày 18 tháng 12 năm 1913.[3] Mẹ của ông là Martha Frahm, một bà mẹ đơn thân, người đã làm thu ngân cho một cửa hàng bách hóa. Cha của ông là một kế toán từ Hamburg tên John Möller, người mà Brandt không bao giờ gặp. Khi mẹ ông làm việc sáu ngày một tuần, ông chủ yếu là do bố của mẹ ông, Ludwig Frahm, và người vợ thứ hai, Dora.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “The 1971 Nobel Prize – Presentation Speech”. Nobelprize.org. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2017. 
  2. ^ Từ năm 1930 Hermann Müller
  3. ^ Jessup, John E. (1998). An Encyclopedic Dictionary of Conflict and Conflict Resolution, 1945–1996. Westport, CT: Greenwood Press. tr. 89.   – via Questia (cần đăng ký mua)