Uyển Trinh - Đích Phúc tấn của Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn.

Phúc tấn (chữ Hán: 福晉; tiếng Mãn: ᡶᡠᠵᡳᠨ, Möllendorff: Fujin), khi trước từng được phiên thành Phúc kim (福金)[1][2], là danh hiệu dành cho các thê thiếp của những Hoàng tử, Tông thất thời nhà Thanh, theo chữ Hán dùng là Vương phi. Đồng thời từng là một danh hiệu cho Phi tần trong Hậu cung nhà Thanh thời kỳ Thuận Trị đến hết Khang Hi.

Trước và sau khi nhập quan, ngôn ngữ Mãn của triều đình nhà Thanh vẫn còn khá nặng nề, "Phúc tấn" đến thời gian đầu của triều Khang Hi vẫn là một danh hiệu phổ biến dùng cho các Phi tần, dẫu vậy "Phúc tấn" thường chỉ biểu hiện ở đãi ngộ mà không phải tước danh chính thức cần sách phong. Đến khi Khang Hi Đế chính thức định ra "Bát đẳng Hậu phi", và từ triều Ung Chính đều gia phong tước hiệu chính thức cho Hậu phi, thì "Phúc tấn" chỉ còn dùng riêng cho các Chính thất và Trắc thất của Hoàng tử, Thân vương và Quận vương.

Khái quátSửa đổi

Quốc chủ Hậu phiSửa đổi

Nguyên từ "Phúc tấn" có hai thuyết về xuất xứ. Một thuyết là từ tiếng Mông Cổ của "Fujin", có nghĩa là Phu nhân trong Hán ngữ, lại có thuyết nói từ này xuất phát từ nguyên danh Khả đôn - tước hiệu dùng để gọi vợ các Khả hãn tại các sắc dân Đột Quyết.

Thời kỳ khai quốc Hậu Kim của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, trong hậu cung của Hán vương, Chính thê của Hãn vương được gọi 「Đại Phúc tấn; 大福晉; Amba fujin」, hay còn gọi đơn giản hơn là 「Đại phi; 大妃」, có những cấp thấp hơn nữa dành cho thiếp là các 「Trắc Phúc tấn; 侧福晉; Ashani fujin」, 「Thứ Phúc tấn; 庶福晉; Buya fujin」 hay 「Tiểu Phúc tấn; 小福晉; Ajige fujin」.

Trong hậu cung từ thời Nỗ Nhĩ Cáp Xích đến Hoàng Thái Cực, các Chính phi và Thứ phi trong hậu cung của Đại hãn đều gọi chung là Phúc tấn, chỉ phân chia Chính thất Phúc tấn đặc biệt triệt để. Năm Hoàng Thái Cực thành lập nhà Thanh (1636), ngoài Triết Triết được phong danh hiệu ["Quốc quân Phúc tấn"; 國君福晉; Ejen fujin] cực kỳ khác biệt, thì còn có Hải Lan Châu cùng Na Mộc Chung là Đại Phúc tấn, cùng Ba Đặc Mã TảoBố Mộc Bố Thái đều là Trắc Phúc tấn. Sang thời Thuận Trị, trong hậu cung vẫn hay giữ kiểu gọi tương ứng Hoàng hậu (Đích Phúc tấn), Phi (Trắc Phúc tấn) và Cách cách (Thứ thiếp) mà xưng hô cùng thiết đặt đãi ngộ, không khác thời Hậu Kim. Tóm gọn lại, hậu cung triều Thuận Trị có 7 định mức, được gọi là Cấp (級), ngoài Hoàng hậu, Hoàng quý phi, PhiTần rất đặc thù, thì có 3 cấp phổ biến nhất:

  1. Phúc tấn (福晉), địa vị đặc thù, đa phần là Hậu phi xuất thân từ Mông Cổ Minh kỳ, tức là con gái Vương công Mông Cổ.
  2. Tiểu Phúc tấn (小福晉), bên trong lại có thêm 2 cấp, dành cho Hậu phi từng sinh con.
  3. Cách cách (格格), dành cho các Hậu phi thân phận thấp và chưa có con.

Thời kỳ Khang Hi ban đầu vẫn giữ đãi ngộ làm tiêu chuẩn, đa phần dựa vào số lượng lụa, gấm được cấp hàng tháng mà được xem ai trên ai dưới. Tuy nhiều hậu cung phi tần thời Khang Hi không có danh vị, nhưng đã có chế độ thiện đãi nhất định tương ứng với các danh vị chính thức. Như Tuệ phi do là Mông Cổ Minh kỳ mà nhập cung đãi ngộ Phúc tấn, sau khi chết truy tặng làm Phi, hoặc như 4 vị Phúc tấn xuất thân long trọng thời Thuận Trị là Cung Tĩnh phi, Thục Huệ phi, Đoan Thuận phiNinh Khác phi đều chỉ được tôn làm "Phi" dưới thời Khang Hi. Sau thời Khang Hi, Hậu cung chủ vị không còn được gọi là "Phúc tấn" nữa.

Tông thất thê thiếpSửa đổi

Từ thời Hậu Kim, ngoài Chính phi và Thứ phi của Đại hãn, thì Chính thất và Thứ thất của các thành viên Hoàng thất có tước Bối tử trở lên đều gọi chung là Phúc tấn. Tuy nhiên, thời Thanh đầu trước khi nhập quan, nam giới Mãn Châu thịnh hành kiểu [Một chồng, nhiều vợ, nhiều thiếp], nam nhân có thể dùng lễ cưới nhiều hơn 1 người vợ, song vẫn có thể nạp thật nhiều thiếp. Các vợ được cưới cùng với vợ cả thường được ghi là [Kế thê; 继妻], tiếng Việt nôm na là Vợ thứ. Văn bản Hán dịch về thời Thanh trước khi nhập quan, tuy gọi các Vợ thứ này đôi khi thành Kế Phúc tấn hoặc Trắc Phúc tấn, song có phần không chính xác với tình hình lúc đó[3].

Với chế độ này, Vợ cả và Vợ thứ trên thực tế là bình quyền (Hán ngữ gọi là Bình thê), con cái do họ sinh ra có quyền thừa kế ngang bằng. Với lý do này, rất nhiều Ngọc điệp ghi với theo kiểu ["Nhất thú Phúc tấn"; 一娶福晉] hay ["Nhị thú Phúc tấn"; 二娶福晉], như gia phả Trịnh Hiến Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng. Bên cạnh đó, cũng nhiều văn bản chia các Trắc thất danh hiệu "Trắc Phúc tấn" khác với các Chính thất Phúc tấn khác, song trong nhiều trường hợp thì "Trắc Phúc tấn" có thân phận không kém gì các Chính thất Phúc tấn, đây là một biểu hiện rõ chế độ "Nhiều vợ và nhiều Thiếp" rất mạnh trong xã hội Mãn Châu khi ấy.

Căn cứ Mãn văn lão đương (满文老档) ghi nhận, thời Sùng Đức nguyên niên ra chỉ dụ:

Thời Thuận Trị, như đã đề cập, khi danh phận hậu cung vừa mới nhập quan cũng chưa thực sự rõ, các Hậu cung Phi tần cũng được dùng danh hiệu "Phúc tấn" để xưng hô. Chỉ cho đến hết Khang Hi, chế độ Hậu cung cũng được được kiện toàn, các danh xưng như "Phúc tấn" mới được chuyển xuống chuyên dùng cho vợ của các Hoàng tử. Theo chế độ hoàn bị từ đời Ung ChínhCàn Long trở đi, tước danh "Phúc tấn" cho Chính thất và "Trắc Phúc tấn" cho Trắc thất chỉ dùng cho những Hoàng tử chưa thụ phong hoặc Tông thất được thụ phong tước Vương, tức là [Thân vương; 親王], [Quận vương; 郡王] hoặc [Thế tử; 世子] (con cả của Thân vương). Còn như Chính thất và Trắc thất của những Tông thất từ Bối lặc trở xuống đến Trấn quốc Tướng quân, chỉ có thể dùng Phu nhân[4].

Đồng thời, Tông thất được thụ phong tước và Hoàng tử chưa được thụ phong đều không giống nhau, do đó cũng phân ra hai cách gọi của Phúc tấn, là [Hoàng tử Phúc tấn; 皇子福晉] hoặc [Mỗ vương Phúc tấn; 某王福晉] - trong đó [Mỗ] là tước hiệu của Thân vương, Quận vương ấy. Theo quy định triều Thanh, Hoàng tử dù chưa phong tước hoặc đã phong tước, đều có thân phận cao hơn những Tông Thất (anh em chú bác của Hoàng đế) đã phong vì có quan hệ thân phận với Hoàng đế nhất, do đó Phúc tấn của các Hoàng tử vẫn là đứng cao hơn Phúc tấn của Thân vương khi quy định thứ tự.

Trong văn bảnSửa đổi

Do chỉ có tước Vương sử dụng, nên trong Hán văn thì [Phúc tấn] cũng đồng nghĩa [Vương phi], các văn bản thời Thanh khi tuyên phong cũng không ít lần sử dụng ["Phi"] để thay cụm danh xưng Phúc tấn, ví dụ:

  • Sách văn của Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu Na Lạp thị và Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu Phú Sát thị, các bà đều được gọi là [Đích phi; 嫡妃] do các bà là chính thất, lại còn là Nguyên phối - tức người được cưới hỏi chính thức đầu tiên. Nội dung sách văn của Phú Sát thị như sau: ["Tư nhĩ Đích phi Phú Sát thị, chung tường huân tộc"; 咨尔嫡妃富察氏、钟祥勋族].
  • Đồng thời, Nguyên phối Phúc tấn - tức Phúc tấn có cưới hỏi chính thức đầu tiên cũng hay được gọi là [Nguyên phi; 元妃], nhưng lại hay dùng biểu thị rằng người ấy đã qua đời. Ví dụ điển hình có Hiếu Mục Thành Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị trước khi có thụy hiệu, được dụ chỉ truy phong làm Hoàng hậu, trong dụ chỉ có đoạn nói rõ: ["Dụ Nội các, Trẫm Nguyên phi Nữu Hỗ Lộc thị, ứng truy phong vi Hoàng hậu";谕内阁、朕元妃钮祜禄氏。应追封为皇后。]. Điều này cũng tương tự Hiếu Đức Hiển Hoàng hậu Tát Khắc Đạt thị của Hàm Phong Đế: ["Hựu dụ, Trẫm Nguyên phi Tát Khắc Đạt thị, ứng truy phong vi Hoàng hậu";又谕、朕元妃萨克达氏。应追封为皇后].
  • Kế Phúc tấn, tức Phúc tấn có cưới hỏi chính thức sau khi Nguyên phối Phúc tấn qua đời, thường được gọi là [Kế phi; 继妃] để phân biệt với Nguyên phi. Trường hợp này có Hiếu Thận Thành Hoàng hậu Đông Giai thị, trong chỉ dụ lập làm Hoàng hậu như sau: ["Hoàng đế Kế phi Đông Giai thị. Nhu gia duy tắc. Hiếu kính vô vi. Cửu phu hoán trạc chi phong. Giáo tuyên cung kiệm. Khắc tương túc ung chi hóa. Hiền trứ tự huy. Ứng chính Trung cung"; 皇帝继妃佟佳氏。柔嘉维则。孝敬无违。久孚浣濯之风。教宣躬俭。克相肃雝之化。贤著嗣徽。应正中宫].

Chế độSửa đổi

Phẩm cấp và giai vếSửa đổi

 
Thúy Nghiên - Trắc Phúc tấn của Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn, sinh mẫu của Nhiếp Chính vương Tái Phong.

Trong hậu viện của các Hoàng tử và các Vương, có tổng cộng ba loại phân cấp bậc thê thiếp:

  • Đích Phúc tấn (嫡福晉) hay Đích phi (嫡妃): dành cho các Chính thất của Hoàng tử, Thân vương và Quận vương. Nếu là Kế thất Phúc tấn, thì để phân biệt với Nguyên phối mà hay được gọi thành Kế Phúc tấn (继福晉); có 1 người tại vị;
  • Trắc Phúc tấn (侧福晉), Trắc thất Phúc tấn (側室福晉)[5], Trắc phi (侧妃) hay Thứ phi (庶妃)[6]: dành cho các Trắc thất của Hoàng tử, Thân vương và Quận vương. Bình thường có 2 người; sau thời Càn Long thì Thân vương được phép có 4 người;
  • Thứ Phúc tấn (庶福晉), nhưng thường gọi là Cách cách (格格): tiểu cơ thiếp của Hoàng tử, Thân vương và Quận vương. Hạng này có rất nhiều xuất thân và cách gọi, có thể gọi là Thị tỳ (侍婢), Thị nữ (侍女), Sử nữ (使女), Quan nữ tử (官女子), Dắng thiếp (媵妾) hoặc Thiếp (妾). Mức hạn này không quy định số lượng, tùy vào khả năng nạp thiếp của Hoàng tử, Vương công đó.

Theo quy định của nhà Thanh, các Đích Phúc tấn và Trắc Phúc tấn thường đều thông qua Bát Kỳ tuyển tú, được Hoàng đế chỉ định Tú nữ từ trong đợt tuyển này mà trở thành hôn phối cho các Hoàng tử và các Vương. Do đó, các Đích Phúc tấn và Trắc Phúc tấn được chỉ định từ Bát Kỳ tuyển tú đều xuất thân Kỳ phân Tá lĩnh. Dựa theo việc này, họ có địa vị rất cao trong phủ và phả hệ một chi của vị Hoàng tử hoặc vị Vương ấy, bởi vì cả hai vị Đích Phúc tấn cùng Trắc Phúc tấn khi nhập phủ, đều dùng lễ đại hôn (Trắc Phúc tấn có thể kém hơn một chút), và đều do bộ Lễ tiến hành tuyên sách phong tước hiệu. Cũng theo phân lệ ấy, các Đích Phúc tấn và Trắc Phúc tấn được chỉ định trực tiếp trong Bát Kỳ tuyển tú có thể mang theo ["Bồi giá Nha hoàn"; 陪嫁丫鬟] - tức những nữ tỳ theo từ nhà mẹ đẻ của Đích Phúc tấn, Trắc Phúc tấn mà nhập phủ[7]. Dù không phổ biến, song các Bao y nhân, tức Nội Bát kỳ, cũng có thể được chỉ định trực tiếp làm Trắc Phúc tấn trong Nội vụ phủ tuyển tú, song không nhiều lắm, và cũng chưa xác định rõ họ có thể hưởng lễ cưới nhập phủ hay không. Những Bao y nhân được chỉ định trực tiếp này phần nhiều đều xuất thân thế gia trong hàng quan lại Nội vụ phủ.

Các Thứ Phúc tấn, cũng gọi Cách cách, là những vị trí không được tham dự Bát Kỳ tuyển tú, mà chỉ được chọn nạp vào phủ, do đó các Cách cách thông thường xuất thân là Bao y thuộc Hạ ngũ kỳ, một số lại thuộc Bao y Thượng tam kỳ vì họ là Cung nữ tử hầu hạ Hoàng tử từ trong cung, sau đó theo Hoàng tử mà phân phủ. Những nữ tử xuất thân Bao y Hạ ngũ kỳ, thông thường là được phái đến hầu trong Vương phủ theo nghĩa vụ bắt buộc[8], sau đó tùy theo hoàn cảnh mà được ["Thu phòng"; 收房], tức nạp làm thiếp. Trong phủ, Cách cách hoàn toàn chỉ bị xem là tiểu thiếp, địa vị rất thấp nên thông thường chỉ dùng hình thức ["Nạp"; 納] để vào phủ hầu hạ, không khác gì nữ tỳ bình thường, do vậy họ không có lễ cưới và không được mang theo người hầu riêng.

Ngoài thân phận Bao y, các Cách cách cũng có thể xuất thân từ Thuộc nhân hoặc Gia nô, cụ thể:

  • Gia nô (家奴): những nô lệ nữ được mua về hầu trong phủ. Tuy triều Thanh cấm mua bán gia nô làm thiếp, nhưng chung quy vẫn thịnh hành chế độ “quan liêu” ngầm, hơn nữa việc mua nô lệ nạp thiếp không phải vấn đề có thể tiện tra rõ, thành ra tình trạng này kéo dài đến tận khi Thanh vong. Các nữ tử nhà dân nghèo, không có tiền mà phải bán mình, vào các Vương phủ làm đầy tớ, hầu ngủ và được nạp làm thiếp; đấy là quy trình diễn ra tương đối phổ biến. Tuy nhiên, loại Gia nô này khi trình báo hộ khẩu, đều ghi thành ["Bao y nữ tử nhập phủ làm việc"], thành ra trên giấy tờ che đậy họ được biết với thân phận Bao y.
  • Thuộc nhân (属人): chỉ đến con gái của các quan viên thuộc lại, bọn họ đều là Kỳ phân Tá lĩnh mà không phải Bao y. Chế độ thuộc lại thời Thanh phổ biến vào thời kỳ đầu trước và sau khi nhập quan, song sang thời Ung Chính về sau lại trở thành danh nghĩa, từ từ cũng mất. Khi một Hoàng tử phân ra Hạ ngũ kỳ, ngoài Bao y thì cũng có những Kỳ phân Tá lĩnh gia tộc thuộc kỳ này thành thuộc quan của Hoàng tử ấy, dẫn đến tình trạng con gái của họ được đưa vào phủ làm thiếp hầu. Do Trung và Hậu kỳ về sau tiêu biến chế độ thuộc lại, nên hồ sơ vào thời kỳ này cũng không còn thấy những thân phận như vậy nữa.

Bên cạnh việc chỉ định, Đích Phúc tấn và Trắc Phúc tấn cũng đều có thể xảy ra hiện tượng kế vị. Sau khi Đích Phúc tấn qua đời, theo lý thuyết thì Trắc Phúc tấn có thể lấy danh nghĩa "Phù chính" (扶正) mà trở thành Đích Phúc tấn, tương tự thì Cách cách cũng có thể trở thành Trắc Phúc tấn. Tuy nhiên, những việc này có thể xảy ra cũng tùy vào những lý do đặc thù, đều phải xem xét tư cách của người ấy. Dù là lý do nào đi nữa, cũng đều quy vào hai cách thức cơ bản:

  1. Do Hoàng đế trực tiếp chỉ định;
  2. Do Hoàng tử hoặc Vương thỉnh phong;

Thông thường, các Cách cách được Hoàng đế ân chuẩn trở thành Trắc Phúc tấn đa số là vì sinh ra con trai, ví dụ Tề phi Lý thị của Ung Chính ĐếHòa phi Na Lạp thị của Đạo Quang Đế. Còn ngoài ra, chỉ khi Hoàng đế đặc biệt cho phép thì bọn họ mới có thể trở thành Trắc Phúc tấn, loại này có Đôn Túc Hoàng quý phi Niên thị, vốn là Thuộc nhân của Ung Chính Đế khi còn là Hoàng tử, và Tuệ Hiền Hoàng quý phi Cao thị, vốn là Bao y nhân hầu Càn Long Đế với tư cách Cung nữ tử. Và dù Cách cách trong nhiều trường hợp có thể được nâng làm Trắc Phúc tấn, nhưng từ Trắc Phúc tấn đi lên Đích Phúc tấn rất khó xảy ra do vấn đề thân phận cách biệt. Thời nhà Thanh, Chính thất của các Vương đều phải thuộc thân phận chính danh của người Bát Kỳ thuộc Kỳ phân Tá lĩnh, do đó rất ít khi Trắc Phúc tấn đi lên vì đại đa số Trắc Phúc tấn đều xuất thân Bao y hoặc Gia nô. Trường hợp không thể lấy thiếp Phù chính, thì triều đình đều sẽ chọn người Bát Kỳ khác hợp tuổi nhập phủ làm Kế thê, đó gọi là "Tục huyền" hoặc "Điền phòng" theo cách nói dân gian (xem bài Vợ). Thời gian cưới Tục huyền không có quy định gắt gao như để tang bao lâu so với Nguyên phối, ví dụ như Hiếu Mục Thành Hoàng hậu vừa qua đời đầu năm, thì cuối năm Hiếu Thận Thành Hoàng hậu đã là Kế thê của Đạo Quang Đế.

Bên cạnh đó, việc sách phong Trắc Phúc tấn triều Thanh cũng có nhiều vấn đề khiến chậm trễ hoặc trù trì mãi không được, nên thời kỳ cuối cũng có một tình trạng “phong khống” Trắc Phúc tấn. Ấy là như một Vương phủ nói có 5 vị Trắc Phúc tấn, trong phủ cũng xưng hô như vậy, song thực tế chỉ có 3 người được phong do triều đình dùng lễ.

Quyền lợi của con cáiSửa đổi

Do vai vế chênh lệch, con cái được sinh ra bởi các vị giai cũng không hề giống nhau. Trước khi nhập quan, con cái do Đích Phúc tấn và Trắc Phúc tấn sinh ra gần như là như nhau, vì Trắc Phúc tấn chung quy cũng được không chính thức xem là Bình thê. Tuy nhiên, khi Thanh triều đã thiết lập quy tắc chính quy từ khi nhập quan, Trắc Phúc tấn địa vị đã khác, con cái của Trắc Phúc tấn cũng từ đó kém hơn con cái do Đích Phúc tấn hạ sinh. Còn con cái của các Cách cách, hoàn toàn không thể so sánh.

Từ quy định của nhà Thanh, con cái do các thê thiếp của Thân vương hạ sinh có thể phân ra:

  • Đích Phúc tấn hạ sinh: ngoại trừ con trai trưởng sẽ là Thế tử; các con trai thứ có thể được xét làm [Bất nhập Bát phân Phụ quốc công; 不入八分辅国公] hoặc thấp hơn tuỳ vào kết quả Khảo phong; các con gái đều phong tước hiệu Quận chúa.
  • Trắc Phúc tấn hạ sinh: con trai có thể được xét làm [Nhị đẳng Trấn quốc Tướng quân; 二等镇国将军] hoặc thấp hơn tuỳ vào kết quả Khảo phong; còn con gái đều là Quận quân.
  • Cách cách hạ sinh: con trai có thể được xét làm [Tam đẳng Phụ quốc Tướng quân; 三等辅国将军] hoặc thấp hơn tuỳ vào kết quả Khảo phong; con gái có thể phong là Huyện quân. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp con gái của Cách cách không được phong tước gì.

Về phương diện khác, con cái do Trắc Phúc tấn thời Trung-Hậu kỳ sinh ra, không có khái niệm “Nhà mẹ đẻ” đối với dòng họ của mẹ ruột. Khái niệm ấy như nhau đều chỉ đến nhà mẹ của Đích Phúc tấn, điều này tra ra trong hồ sơ Trung và Hậu kỳ triều Thanh đều nhất quán, không có ngoại lệ.

Phẩm phục và Nghi vệSửa đổi

 
Qua Nhĩ Giai thị - Đích Phúc tấn của Phế Thái tử Dận Nhưng đang mặc Cát phục quái tiêu chuẩn thời Khang Hi.

Căn cứ ghi nhận của Thanh sử cảo trong Chí thất thập bát (志七十八)[9], trang phục của các Phúc tấn cùng Tông thất Thê tử về cơ bản có hai loại gọi là Triều phục (朝服) và Cát phục (吉服), thành phần chủ yếu của hai trang phục này là mũ và áo. Trong đó mũ chia làm Triều quan (朝冠) và Cát phục quan (吉服冠), mà áo lại chia làm hai thành phần là Quái (褂) khoác bên ngoài và Bào (袍) là áo mặc bên trong. Áo "Quái" chia làm Triều quái (朝褂) và Cát phục quái (吉服褂), còn "Bào"Triều bào (朝袍) và Mãng bào (蟒袍), hình thức đều là áo cổ tròn, khai vạt, 2 bên hông xẻ tà, cổ tay áo bình phẳng, sắc thường dùng xanh đá, tức Thạch thanh (石青) theo chữ Hán.

  1. Hoàng tử Phúc tấn: Triều quan 3 tầng, 10 viên Đông Châu, đỉnh mũ khảm Hồng bảo thạch (紅寶石), xung quanh viền mũ có mũ dùng hình trang sức Kim khổng tước (金孔雀), trước 5 con sau 1 con, đều có khảm 7 viên Đông Châu. Cát phục quan cũng dùng đỉnh mũ bằng Hồng bảo thạch tương tự. Triều quái trước dùng 4 hình hoa văn Hành long (行龍), phía sau 3 hình. Cát phục quái thêu hoa văn Ngũ trảo Chính long tứ đoàn (五爪正龍四團), trước sau-hai vai từng chỗ một hình. Triều bào và Mãng bào đều màu Hương sắc (香色)[10].
  2. Thân vương Phúc tấn: Triều quan 3 tầng, quy chế như Hoàng tử Phúc tấn. Cát phục quái thêu Ngũ trảo Kim long tứ đoàn (五爪金龍四團), trước sau hình Chính long, hai vai Hành long, còn lại đa số như Hoàng tử Phúc tấn. Thân vương Trắc Phúc tấn có Triều quan dùng 9 viên Đông Châu, còn lại như Phúc tấn[11].
  3. Thế tử Phúc tấn: Triều quan 2 tầng, dùng 9 viên Đông Châu, còn lại án theo Thân vương Phúc tấn. Thời Thuận Trị, từng quy định mũ mão Thế tử Phúc tấn đều như Thân vương Phúc tấn[12].
  4. Quận vương Phúc tấn: Triều quan 2 tầng, dùng 8 viên Đông Châu, còn lại án theo Thế tử Phúc tấn. Cát phục quái, thêu Ngũ trảo Hành long tứ đoàn (五爪行龍四團), trước sau-hai vai từng chỗ một hình. Còn lại đại để như Thế tử Phúc tấn[13].
  5. Bối lặc Phu nhân: Triều quan 2 tầng, dùng 7 viên Đông Châu, còn lại như Quận vương Phúc tấn. Triều quái dùng Tứ trảo Mãng (四爪蟒), Cát phục quái trước sau thêu Tứ trảo Chính mãng (四爪正蟒). Triều bào và Mão bào đều dùng màu Lam hoặc Thạch thanh tùy ý, còn lại tương tự Quận vương Phúc tấn[14].
  6. Bối tử Phu nhân: Triều quan 2 tầng, dùng 6 viên Đông Châu, Cát phục quái thêu Tứ trảo Hành mãng (四爪行蟒), còn lại tương tự Bối lặc Phu nhân[15].
  7. Trấn quốc công Phu nhân: Triều quan 2 tầng, dùng 5 viên Đông Châu, Cát phục quái thêu Hoa bát đoàn (花八團), còn lại tương tự Bối tử Phu nhân[16].
  8. Phụ quốc công Phu nhân: Triều quan 2 tầng và dùng 4 viên Đông Châu, còn lại tương tự Trấn quốc công Phu nhân[17].
  9. Trấn quốc Tướng quân Phu nhân: quan phục đều như Nhất phẩm mệnh phụ.
  10. Phụ quốc Tướng quân Phu nhân: quan phục đều như Nhị phẩm mệnh phụ.
  11. Phụng quốc Tướng quân Thê tử: phong Thục nhân (淑人), quan, phục đều Tam phẩm mệnh phụ.
  12. Phụng ân Tướng quân Thê tử: phong Cung nhân (恭人), quan, phục đều theo Tứ phẩm mệnh phụ[18].

Cái gọi là Nghi vệ (儀衛), cũng kêu Nghi trượng (儀仗), là một chuỗi đồ dùng gồm kiệu, xe, cờ hiệu và kèn trống để hộ tống một nhân vật cố định khi xuất hiện bên ngoài trong một dịp lễ nào đó. Nghi vệ của những Mệnh phụ thuộc Hoàng thất, ngoại trừ Hậu phi có quy định riêng, thì đều lấy Cố Luân Công chúa làm tiêu chuẩn. Theo Thanh sử cảo, Chí bát thập (志八十)[19], Nghi vệ của Cố Luân Công chúa được quy định:

  • 固倫公主儀衛,吾仗二,立瓜二,臥瓜二,骨朵二。金黃羅曲柄繡寶相花傘一,紅羅繡寶相花傘二,青羅繡寶相花扇二,紅羅繡孔雀扇二。黑纛二。前引十人,朝賀日隨侍女五人。原定曲柄傘用紅羅,茲改金黃羅。餘同。崇德初年,定固倫公主清道旗二。紅仗、吾仗各二。銷金紅傘一,青扇一。拂子二,金吐盂、金水盆各一。
  • Cố Luân Công chúa Nghi vệ: Ngô trượng nhị, Lập qua nhị, Ngọa qua nhị, Cốt đóa nhị. Kim Hoàng la Khúc bính tú Bảo tương hoa tán nhất, Hồng la tú Bảo tương hoa tán nhị, Thanh la tú Bảo tương hoa phiến nhị, Hồng la tú Khổng tước phiến nhị. Hắc đạo nhị. Tiền dẫn thập nhân, triều hạ nhật tùy Thị nữ ngũ nhân. Nguyên định Khúc bính tán dụng Hồng la, tư cải Kim Hoàng la. Dư đồng. Sùng Đức sơ niên, định Cố Luân Công chúa Thanh đạo kỳ nhị. Hồng trượng, Ngô trượng các nhị. Tiêu kim hồng tán nhất, Thanh phiến nhất. Phất tử nhị, Kim thổ vu, Kim thủy bồn các nhất.

Hoàng tử Phúc tấn và Thân vương Phúc tấn như nhau, đều án theo Cố Luân Công chúa, chỉ có "Khúc bính tán" màu đỏ, và Thị nữ tùy hầu là 4 người. Thế tử Phúc tấn như Hòa Thạc Công chúa[20], Quận vương Phúc tấn án theo Quận chúa[21], Phúc tấn của Quận vương Trưởng tử cùng Bối lặc phu nhân đều án Huyện chúa[22], còn Bối tử Phu nhân trở xuống thì không có Nghi vệ, Thị nữ tùy hầu 1 người, riêng từ Trấn quốc Tướng quân Phu nhân trở xuống không có Thị nữ tùy hầu. Theo quy chế thời Sơ kỳ, đại đa số được quy định như nhau, chỉ thêm bớt vài chỗ[23].

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ 《清史稿·卷二·本纪二》辛亥,察哈尔寨桑噶尔马济农等率其国人六千奉豆土门福金来归。
  2. ^ Đây là do hai chữ "Tấn""Kim" trong tiếng Trung đều có phát âm [jìn]
  3. ^ [Kế thê], đối với quan niệm phổ biến là vợ đầu chết, thì người chồng sẽ cưới vợ chính khác.
  4. ^ 钦定大清会典/卷一: 亲王、世子、郡王妻,封亲王福晉、世子福晉、郡王福晉。长子、贝勒以下至辅国将军妻,封夫人。奉国将军妻封淑人,奉恩将军妻封恭人。亲王侧福晉四人,世子、郡王三人,长子、贝勒侧室二人,贝子、公一人,冠服各降适一等。
  5. ^ 《清史稿》:皇后,烏喇那拉氏,佐領那爾布女。后事高宗潛邸,為側室福晉。
  6. ^ Sách văn của Đôn Túc Hoàng quý phi, Kế Hoàng hậu, Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậuTuệ Hiền Hoàng quý phi
  7. ^ Tiếng Việt gọi nôm na là "Nha hoàn hồi môn"
  8. ^ Tương tự Bao y Thượng tam kỳ phải tham gia Nội vụ phủ tuyển tú mà vào cung làm cung nữ.
  9. ^ 《清史稿·志七十八》
  10. ^ 《清史稿·志七十八》: 皇子福晉朝冠,頂鏤金三層,飾東珠十,上銜紅寶石。硃緯。上周綴金孔雀五,飾東珠七,小珍珠三十九。後金孔雀一,垂珠三行二就。中間金銜青金石結一,飾東珠各三,末綴珊瑚。冠後護領垂金黃絳二,末亦綴珊瑚。青緞為帶。吉服冠頂用紅寶石。金約,鏤金云九,飾東珠各一,間以青金石,紅片金里。後系金銜青金石結,貫珠下垂,三行三就。中間金銜青金石結二、每具飾東珠珍珠各四,末綴珊瑚。耳飾左右各三,每具金雲銜珠各二。朝褂,色用石青,片金緣。繡文前行龍四,後行龍三。領後垂金黃絳,雜飾惟宜。吉服褂色用石青,繡五爪正龍四團,前後兩肩各一。朝袍用香色,披領及袖皆石青,片金緣,冬加海龍緣。肩上下襲朝褂處亦加緣,繡文前後正龍各一,兩肩行龍各一,襟行龍四,披領行龍二,袖端正龍各一,袖相接處行龍各二。裾後開。領後垂金黃絳,雜飾惟宜。蟒袍用香色,通繡九龍。領約,鏤金為之,飾東珠七,間以珊瑚。兩端垂金黃絳二,中貫珊瑚,末綴珊瑚各二。採帨月白色,不繡花文,結佩惟宜。絳皆金黃色。朝裙片金緣,冬加海龍緣,上用紅緞,下石青行龍妝緞,皆正幅,有襞積。夏以紗為之。朝服朝珠三盤,珊瑚一,蜜珀二。吉服朝珠一盤。珍寶隨所御。絳皆金黃色。
  11. ^ 《清史稿·志七十八》: 親王福晉吉服褂,繡五爪金龍四團,前後正龍,兩肩行龍。餘皆與皇子福晉同。側福晉冠頂等各飾東珠九。服與嫡福晉同。並按崇德元年,定親王嫡妃冠頂嵌東珠八,側妃嵌東珠七。順治九年,定嫡妃冠頂增嵌東珠二。服用翟鳥四團龍補、五爪龍緞、妝緞、滿翠四補等緞。側妃冠頂增嵌東珠二。服與嫡妃同。
  12. ^ 《清史稿·志七十八》: 世子福晉朝冠,頂鏤金二層,飾東珠九,上銜紅寶石。硃緯。上周綴金孔雀五,飾東珠各六。後金孔雀一,垂珠三行二就。中間金銜青金石結一,飾東珠各三,末綴珊瑚。冠後護領垂金黃絳二,末亦綴珊瑚。青綴為帶。金約,鏤金雲八,飾東珠各一,間以青金石。後系金銜青金石結,垂珠三行三就。中間金銜青金石結二,每具飾東珠珍珠各四,末綴珊瑚。餘皆與親王福晉同。順治九年,定世子嫡妃冠服如親王側妃。其側妃冠頂嵌東珠八。服與嫡妃同。
  13. ^ 《清史稿·志七十八》: 郡王福晉朝冠,頂鏤金二層,飾東珠八,上銜紅寶石。硃緯。上周綴金孔雀五,飾東珠各五。後金孔雀一,垂珠三行二就。中間金銜青金石結一,末綴珊瑚。冠後護領垂金黃絳二,末亦綴珊瑚。青緞為帶。吉服冠與世子福晉同。金約,鏤金雲八,飾東珠各一,間以青金石。後系金銜青金石結,垂珠三行三就。中間金銜青金石結二,末綴珊瑚。吉服褂,繡五爪行龍四團,前後兩肩各一。餘皆與世子福晉同。崇德元年,定郡王嫡妃冠頂嵌東珠七,側妃嵌東珠六。順治九年,定嫡妃冠服與世子側妃同。其側妃冠頂嵌東珠七。服用蟒緞、妝緞,各色花、表緞。
  14. ^ 《清史稿·志七十八》: 貝勒夫人朝冠,頂鏤金二層,飾東珠七,上銜紅寶石。硃緯。上周綴金孔雀五,飾東珠各三。後金孔雀一,垂珠三行二就。中間金銜青金石結一,末綴珊瑚。冠後護領垂石青絳二,末亦綴珊瑚。吉服冠與郡王福晉同。金約,鏤金雲七。餘同郡王福晉。耳飾亦與郡王福晉同。朝褂,繡四爪蟒,領後垂石青絳。吉服褂前後繡四爪正蟒各一。餘與郡王福晉同。朝袍,藍及石青諸色隨所用,領、袖片金緣,冬用片金加海龍緣。繡四爪蟒,領後垂石青絳。蟒袍通繡九蟒。領約、朝珠、採帨絳用石青色。餘皆與郡王福晉同。崇德元年,定貝勒嫡夫人冠頂嵌東珠六。側夫人嵌東珠五。順治九年,定嫡夫人冠頂、服飾如郡王側妃,其側夫人冠頂嵌東珠六。服與嫡夫人同。
  15. ^ 《清史稿·志七十八》: 貝子夫人朝冠,頂鏤金二層,飾東珠六。金約鏤金雲六,吉服褂前後繡四爪行蟒各一。餘皆與貝勒夫人同,崇德元年,定貝子嫡夫人冠頂嵌東珠五。側夫人嵌東珠四。順治九年,定嫡夫人冠頂服飾如郡王側妃。其側夫人冠頂嵌東珠五。服與嫡夫人同。
  16. ^ 《清史稿·志七十八》: 鎮國公夫人朝冠,頂鏤金二層,飾東珠五。金約鏤金雲五。吉服褂繡花八團。餘皆與貝子夫人同。崇德元年,定鎮國公嫡夫人冠頂嵌東珠四。順治九年,定嵌東珠五。服如貝子夫人。其側夫人冠頂嵌東珠四。服與嫡夫人同。
  17. ^ 《清史稿·志七十八》: 輔國公夫人朝冠,頂鏤金二層,飾東珠四。金約鏤金雲四。餘皆與鎮國公夫人同。崇德元年,定輔國公夫人冠頂嵌東珠三。順治九年,定冠頂嵌東珠四。服如貝子夫人。其側夫人冠頂嵌東珠三。服與嫡夫人同。
  18. ^ 《清史稿·志七十八》: 鎮國將軍夫人冠、服均視一品命婦。輔國將軍夫人冠、服均視二品命婦。奉國將軍淑人冠、服均視三品命婦。奉恩將軍恭人冠、服均視四品命婦。
  19. ^ 《清史稿·志八十》
  20. ^ 《清史稿·志八十》: 和碩公主儀衛,吾仗二,立瓜二,臥瓜二,骨朵二。紅羅曲柄繡寶相花傘一,紅羅繡寶相花傘二,紅羅繡孔雀扇二。黑纛二。前引八人,隨朝侍女四人。原定同。崇德初年,定和碩公主紅仗、吾仗各二。銷金紅傘一,青扇一。拂子二,金水盆一。世子福晉視和碩公主。
  21. ^ 《清史稿·志八十》: 郡主儀衛,吾仗二,立瓜二,骨朵二。紅羅繡寶相花傘二,紅羅繡孔雀扇二。前引六人,隨朝侍女三人。原定同。崇德初年,定郡主吾仗二,銷金紅傘一,青扇一,拂子二。郡王福晉視郡主。
  22. ^ 《清史稿·志八十》: 縣主儀衛,吾仗二,立瓜二。紅羅繡寶相花傘一,青羅繡寶相花扇二。前引二人,隨朝侍女三人。原定同。崇德初年,定縣主紅仗二,銷金紅傘一,拂子二。郡王長子福晉、貝勒夫人均視縣主。
  23. ^ 《清史稿·志八十》: 原定同。惟福晉皆稱妃,又別定側妃、側夫人儀仗。其制,親王側妃視嫡妃少青羅花扇二。餘同。世子側妃纛二,吾仗、立瓜、骨朵各二,紅羅繡花傘、紅羅繡孔雀扇各二。郡王側妃吾仗、立瓜各二,紅羅繡花傘一,青羅繡花扇二。貝勒側夫人及貝子夫人均無儀仗。崇德初年,定親王妃清道旗二,紅仗、吾仗各二,銷金紅傘一,青扇一,拂子二,金唾盂、金水盆各一。郡王妃同,惟少紅仗、金唾盂。貝勒夫人紅仗二,銷金紅傘一,拂子二。貝子夫人以下無儀仗。

Tham khảoSửa đổi