Mở trình đơn chính

Càn Long

Hoàng đế thứ 6 của triều đại nhà Thanh

Thanh Cao Tông (chữ Hán: 清高宗, 25 tháng 9 năm 17117 tháng 2 năm 1799), Mãn hiệu Abkai Wehiyehe Huwangdi, Hãn hiệu Mông Cổ Tengerig Tetgech Khan (腾格里特古格奇汗; Đằng Cách Lý Đặc Cổ Cách Kỳ hãn), Tây Tạng tôn vị Văn Thù Hoàng đế (文殊皇帝), là Hoàng đế thứ sáu của Nhà Thanh, và là Hoàng đế Mãn Thanh thứ tư sau khi nhập quan. Trong thời gian trị vì của mình, ông chỉ dùng niên hiệu Càn Long (乾隆), nên còn gọi là Càn Long Đế (乾隆帝).

Càn Long Đế
乾隆帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
乾隆皇帝老年肖像.jpg
Flag of China (1889–1912).svg Hoàng đế Đại Thanh
Trị vì8 tháng 10 năm 17359 tháng 2 năm 1796
(&0000000000000060.00000060 năm, &0000000000000124.000000124 ngày)
Tiền nhiệmThanh Thế Tông
Kế nhiệmThanh Nhân Tông
Flag of China (1889–1912).svg Thái thượng hoàng Đại Thanh
Tại vị9 tháng 2 năm 1796 - 7 tháng 2 năm 1799
(&0000000000000002.0000002 năm, &0000000000000363.000000363 ngày)
Thông tin chung
Thê thiếpHiếu Hiền Thuần Hoàng hậu
Kế Hoàng hậu
Lệnh Ý Hoàng quý phi
Hậu duệChi tiết
Tên húyÁi Tân Giác La Hoằng Lịch
(爱新觉罗弘曆)
Tước hiệuHoàng đế
Thái Thượng hoàng
Niên hiệuCàn Long (乾隆)
Thụy hiệuPháp Thiên Long Vận Chí Thành Tiên Giác Thể Nguyên Lập Cực Phu Văn Phấn Vũ Khâm Minh Hiếu Từ Thần Thánh Thuần Hoàng đế
(法天隆運至誠先覺體元立極敷文奮武欽明孝慈神聖純皇帝)
Miếu hiệuCao Tông (高宗)
Thân phụThanh Thế Tông
Thân mẫuSùng Khánh Hoàng thái hậu
Sinh(1711-09-25)25 tháng 9, 1711
Như Ý thất, Đông thư viện của phủ Ung Thân vương
Mất7 tháng 2, 1799(1799-02-07) (87 tuổi)
Ninh Thọ cung, Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Đại Thanh
An tángDụ lăng, Đông Thanh Mộ

Là vị Hoàng đế có tuổi thọ lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ trị vì của Càn Long Hoàng đế kéo dài hơn 60 năm; từ 11 tháng 10 năm 1736 đến 1 tháng 9 năm 1795; và là thời cực thịnh về kinh tế cũng như quân sự của Đại Thanh. Vào thời này, lãnh thổ nước Thanh kéo dài đến Châu thổ sông Y LêTân Cương, lãnh thổ Trung Quốc mở rộng đến tối đa: khoảng 14.000.000 km², so với 9.600.000 km² hiện tại.

Ông học theo cách thức cai trị của ông nội mình là Thanh Thánh Tổ Khang Hi, người mà ông rất ngưỡng mộ. Khi còn trẻ, Càn Long đã khiến Khang Hi ngạc nhiên về rất nhiều lĩnh vực, nhất là về văn học nghệ thuật. Khang Hi đã cho rằng Càn Long có thể sẽ xứng đáng trở thành hoàng đế kế vị sau Ung Chính. Lúc lên ngôi, Càn Long có mở một số cuộc viễn chinh với kết quả lẫn lộn, ông cũng thu nạp nhiều phi tần, tuần du các nơi, kết nạp lộng thần tham nhũngHòa Thân.

Năm 1796, ông nhường ngôi cho con trai thứ 15 là Vĩnh Diễm, lên làm Thái Thượng hoàng, vẫn giữ quyền chính trong cung, sử gọi là Huấn chính (训政), vẫn là vị quân chủ tối cao của Đại Thanh không thay đổi. Đến năm Gia Khánh thứ 4 (1799) thì ông mới qua đời, hưởng thọ 88 tuổi. Ông là một trong 4 vị Đế vương thọ nhất của Trung Hoa, trên 80 tuổi, ông (88 tuổi), ba người kia là Lương Vũ Đế (86 tuổi), Võ Tắc Thiên (82 tuổi) và Tống Cao Tông (81 tuổi).

Mục lục

Thân thếSửa đổi

Càn Long tên thật là Ái Tân Giác La Hoằng Lịch (爱新觉罗弘曆), sinh vào ngày 13 tháng 8 (tức ngày 25 tháng 9 dương lịch) năm Khang Hy thứ 50 (1711), vào lúc nửa đêm tại Đông thư viện của phủ Ung Thân vương[1][2], tên khi còn bé nhỏ là Nguyên Thọ (元寿).[3] Thân phụ của ông là Thanh Thế Tông Ung Chính, khi ấy còn là Ung Thân vương. Còn thân mẫu ông là Nữu Hộ Lộc thị, khi ấy còn là Cách cách trong phủ Ung Thân vương.

Khi Hoằng Lịch chào đời, huynh trưởng của ông là Hoằng Huy (弘暉), Hoằng Phán (弘昐), Hoằng Quân (弘昀) đều sớm tạ thế. Hoằng Thời, anh trai thứ 4 (trên danh nghĩa là thứ 3) của Hoằng Lịch, là người con trai trưởng thành nhất của Ung Thân vương. Hoằng Lịch là con trai thứ 5 (trên danh nghĩa là thứ 4) của Ung Thân vương, thực tế là đứng thứ 2.

Từ nhỏ, Hoằng Lịch tư chất hơn người, học đâu nhớ đó. Năm Khang Hy thứ 60 (1721), Khang Hy nghe nói cháu nội Hoằng Lịch ở Ung Thân vương phủ rất thông minh, bèn cho mời gặp. Sau khi gặp, Khang Hy rất thích Hoằng Lịch, lệnh đưa vào cung học vấn, sau đó còn cho đi theo mình đến Nhiệt Hà sơn trang. Khi đó, Hoằng Lịch mới 10 tuổi.[4]

Khi Khang Hy qua đời (1722), Ung Thân vương đăng cơ, tức Ung Chính đế. Con trưởng Hoàng Thời hành vi phóng túng, rất không được Ung Chính yêu thích,[5] mà Hoằng Lịch vào những năm cuối, được Khang Hy sủng ái, nên vô hình chung đã khiến địa vị của Ung Chính trong cuộc tranh đoạt Hoàng vị suôn sẻ hơn. Đây có lẽ là lý do Ung Chính đã ngấm ngầm chọn Hoằng Lịch làm Trữ quân.

Trước khi lên ngôiSửa đổi

 
Tranh vẽ Bảo Thân vương Hoằng Lịch.

Trước khi Hoằng Lịch lên ngôi, tin tức về người kế vị đã được nhiều người biết đến. Hoằng Lịch chính là người được tổ phụ là Khang Hi và phụ hoàng là Ung Chính đánh giá cao. Trên thực tế, Ung Chính đã giao cho Hoằng Lịch nhiều công việc quan trọng từ khi Hoằng Lịch còn là hoàng tử, bao gồm cả những việc triều chính liên quan đến các chiến lược quân sự.

Theo mật chỉ do Ung Chính công bố, ngay từ năm Ung Chính nguyên niên (1723), tháng 8, Ung Chính đã chỉ định Hoàng tứ tử Hoằng Lịch chính thức trở thành Trữ quân. Do vậy, sự giáo dục của Hoằng Lịch từ thời khắc đó trở nên chú trọng hơn, bao gồm các lão thần Trương Đình Ngọc, Từ Nguyên Mộng, Thái Thế Xa,... ngoài ra các Hoàng thân như Doãn Lộc, Doãn Hi cũng đều kèm cặp cưỡi ngựa bắn cung cho Hoằng Lịch, để Hoằng Lịch không quên đi nguồn gốc tổ tiên.[6] Do đó, Hoằng Lịch nhanh chóng trở thành hoàng tử hiểu biết Mãn, Hán, Mông văn.

Năm Ung Chính thứ 2 (1724), gặp ngày kị của Khang Hy, Ung Chính sai Hoằng Lịch thay mình tế Cảnh lăng.[7]

Năm Ung Chính thứ 5 (1727), tháng 7, đại hôn, Hoằng Lịch được Ung Chính ban hôn cho Phú Sát thị, con gái Sáp Cáp Nhĩ tổng quản Lý Vinh Bảo, xuất thân từ dòng họ Sa Tế Phú Sát thị của Tương Hoàng kỳ. Đại hôn cử hành ở Tây Nhị sở trong Tử Cấm Thành (về sau Càn Long Đế đổi tên thành Trọng Hoa cung). Năm thứ 8 (1730), Đích tử của Hoằng Lịch ra đời, Ung Chính đích thân đặt tên Vĩnh Liễn (永琏), còn đặc biệt đem Nhạc Thiện đường toàn tập (乐善堂全集) ban chúc mừng.

Năm Ung Chính thứ 11 (1733), ông được gia phong Bảo Thân vương (寶親王). Cùng năm này, Ung Chính Đế cho phép Hoằng Lịch tham gia nghị định đàn áp Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩngười MiêuQuý Châu. Đây đều là đại chính sự khi đó của Đại Thanh, cho thấy tư cách kế vị của Hoằng Lịch đã rõ ràng hơn bao giờ hết. Ngoài ra, việc tế lăng, tế Khổng, tế Quan Thánh Đế Quân, tế Miếu,... những việc tế tự trọng đại đều do Hoằng Lịch đích thân chủ trì.

Để tránh lặp lại một cuộc tranh giành quyền lực - điều vốn để lại vết nhơ trong con đường đến ngai vàng của mình, Ung Chính Đế đã viết sẵn tên người kế ngôi, đưa vào trong một chiếc hộp niêm phong cẩn thận được đặt phía sau tấm bảng Chính đại quang minh (正大光明) phía trên ngai vàng tại Cung Càn Thanh.[8] Tên người kế vị sẽ được công khai cho các hoàng thân trong cuộc họp mặt của tất cả các quan đại thần, sau khi Hoàng đế mất. Đây chính là hình thức xác nhận ngôi vị Trữ quân mà các hoàng đế Nhà Thanh áp dụng cho đến khi Cách mạng Tân Hợi (1911) nổ ra, chấm dứt triều Thanh.

Vào năm Ung Chính thứ 13 (1735), ngày 23 tháng 8, Ung Chính qua đời. Nội thị lấy chỉ dụ đã được soạn sẵn, công bố trước triều đình. Theo đó, Bảo Thân vương Hoằng Lịch kế thừa Đế vị.[9] Do Hoằng Lịch là được bí mật tuyên chiếu lập vị, ông được mệnh các đại thần phù trợ, bao gồm Trang Thân vương Doãn Lộc, Quả Thân vương Doãn Lễ, Đại học sĩ Ngạc Nhĩ Thái và đại thần Trương Đình Ngọc.

Ngày 3 tháng 9, Hoằng Lịch lên ngôi ở điện Thái Hòa, lấy năm sau là năm đầu niên hiệu Càn Long (乾隆). Ngày 27 tháng 9, di cư Dưỡng Tâm điện.

Hoàng đế Đại ThanhSửa đổi

Các cuộc chiến tranh biên giớiSửa đổi

 
Tranh vẽ Càn Long lúc còn trẻ.
 
Bộ quân phục của Càn Long ở bảo tàng Musée de l'Armée, Paris

Càn Long được đánh giá là một nhà quân sự tài ba. Ngay sau khi lên ngôi, ông đã cho quân đàn áp cuộc khởi nghĩa của người Miêu vào năm 1735-1736. Những chiến dịch sau đó của ông đã làm mở rộng đáng kể lãnh thổ Nhà Thanh. Sự thành công này một phần cậy nhờ vào sức mạnh quân sự, phần còn lại là sự chia rẽ và ngày một suy yếu của những dân tộc Nội Á.

Dưới thời Càn Long, Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ đặt dưới sự cai trị của Nhà Thanh; sau đó nó đã đổi tên thành Tân Cương; trong khi đó, ở phía Tây, vùng Nội Mông là một đơn vị đồn trú của quân đội Nhà Thanh. Sự sáp nhập Tân Cương vào trong lãnh thổ Nhà Thanh là kết quả của các chiến thắng quân sự và sự sụp đổ của Hãn Quốc Chuẩn Cát Nhĩ, một liên minh giữa các bộ tộc Tây Mông Cổ. Theo học giả Ngụy Viên (đời Nhà Thanh), 40% trong tổng số 600,000 người Chuẩn Cát Nhĩ đã chết do bệnh đậu mùa, 20% phải di dân đến các khu vực của tộc người Nga, người Kazash, 30% bị quân đội Nhà Thanh tiêu diệt.[10] Còn sử gia Peter Perdue cho rằng sự suy giảm dân số của người Chuẩn Cát Nhĩ là kết quả của chính sách diệt chủng triệt để của Càn Long.[11]

Cuộc diệt chủng của hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ đã được so sánh với chiến dịch Thập toàn Võ công vào năm 1776, cũng xảy ra trong thời của Càn Long. Khi quân chiến thắng trở về Bắc Kinh, một bài thánh ca được hát để tôn vinh họ. Một phiên bản tiếng Mãn Châu của bài thánh ca được ghi lại bởi Dòng Tên Amoit và gửi đến Paris. Nhà Thanh đã thuê Triệu Dực và Jiang Yongzhi tại Sở Lưu trữ Quân sự, với tư cách là thành viên của Hàn Lâm Viện, để biên soạn các tác phẩm về chiến dịch này, như Chiến lược bình định Chuẩn Cát Nhĩ (Pingding Zhunge'er fanglue). Những bài thơ tôn vinh cuộc chinh phục nhà Thanh được viết bởi Triệu Dực, người đã viết phong cách Yanpu trong "phong cách ghi chép", nơi mà các khoản chi tiêu quân sự của triều đại Càn Long được ghi lại. Càn Long đã được ca ngợi là nguồn gốc của "hòa bình và thịnh vượng của thế kỷ 18" theo mô tả của Triệu Dực.

Các phiến quân Khalkha của Mông Cổ dưới thời hoàng tử Chingünjav đã lập mưu với lãnh đạo Dzungar Amursana và lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống lại Đế chế nhà Thanh cùng thời với Chuẩn Cát Nhĩ. Quân đội nhà Thanh đã đàn áp cuộc nổi dậy và hành quyết Chingünjav và cả gia đình ông ta.

Suốt thời gian này đã tiếp tục diễn ra sự can thiệp của người Mông Cổ vào Tây Tạng; ở chiều ngược lại đó là sự thâm nhập của Phật giáo Tây Tạng vào Mông Cổ. Sau cuộc bạo loạn Llasa vào năm 1750, Càn Long đã trao quyền trị vì Tây Tạng cho Đà Lai Lạt Ma nhưng song song đó, lại đặt nó dưới sự giám sát của các quan Đại thần và quân đội Nhà Thanh đồn trú tại đây nhằm bảo vệ chủ quyền của Trung Hoa. Ở những mặt trận xa hơn, ông đã thu phục được người Nepal, người Gukhas. Năm 1791, Gurkha (nay là Nepal) xâm chiếm Tây Tạng. chúng đi tới đâu là cướp của giết người tới đó, khiến nhân dân Tây Tạng lâm vào cảnh đau thương, khốn đốn. Càn Long lập tức phái Phúc Khang An và Hải Lan Sát dẫn quân đến nghênh chiến. Quân Thanh nhanh chóng đánh đuổi được quân Gurkha ra khỏi Tây Tạng. Quân Gurkha phái sứ giả tới cầu hòa, cam kết sẽ không bao giờ xâm phạm Tây Tạng nữa, và trả lại số vàng bạc châu báu cướp được, Càn Long đã chấp nhận điều kiện ngừng chiến này của Gurkha. Sau việc này, Càn Long cảm thấy chính phủ Tây Tạng đã quá thối nát, không thể chống đỡ nổi sự tấn công của quân xâm lược, vậy nên đã phái Phúc Khang An soạn thảo điều lệ giải quyết vấn đề nan giải của Tây Tạng, đây chính là "Khâm định Tây Tạng chương trình" nổi tiếng trong lịch sử.

Ngoài ra, Càn Long cũng đã có âm mưu thôn tính Burma nhưng cuối cùng đã thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh Thanh-Miến. Ban đầu ông tin rằng sẽ giành được chiến thắng dễ dàng, và chỉ gửi quân đội ở tỉnh Vân Nam, giáp biên giới Miến Điện. Cuộc xâm lược của nhà Thanh bắt đầu khi phần lớn lực lượng Miến Điện được triển khai trong cuộc xâm lược mới nhất của họ đối với Vương quốc Ayutthaya của Xiêm. Tuy nhiên, quân đội Miến Điện đã đánh bại hai cuộc xâm lược đầu tiên vào năm 1765–66 và 1766–67 tại khu vực biên giới. Cuộc xung đột khu vực hiện đang leo thang đến một cuộc chiến tranh lớn liên quan đến diễn tập quân sự trên toàn quốc ở cả hai quốc gia. Cuộc xâm lược thứ ba (1767–1768) do quân Bát Kỳ tinh nhuệ thực hiện gần như thành công khi đã tiến sâu vào địa phận Miến Điện trong vòng vài ngày diễu hành từ kinh đô nước này, Inwa. Tuy nhiên, lực lượng từ miền Bắc Trung Quốc này lại không thể thích nghi nổi với khí hậu nhiệt đới không quen thuộc và các bệnh dịch đặc hữu gây chết người", và phải rút quân về nước với những tổn thất nặng nề. Sau cuộc gọi cận kề, Vua Hsinbyushin đã tái bố trí quân đội của mình từ Xiêm sang đối phó với Trung Quốc. Cuộc xâm lược thứ tư và lớn nhất đã bị sa lầy ở biên giới. Khi lực lượng nhà Thanh bị bao vây hoàn toàn, một thỏa thuận ngừng bắn đã được thực hiện giữa các chỉ huy chiến trường của hai bên vào tháng 12 năm 1769. Lực lượng nhà Thanh giữ một đội hình quân sự hạng nặng ở khu vực biên giới Vân Nam trong khoảng một thập kỷ để cố gắng tiến hành một cuộc chiến khác trong khi áp đặt lệnh cấm buôn bán liên biên giới trong hai thập kỷ. Khi Miến Điện và Trung Quốc nối lại mối quan hệ ngoại giao vào năm 1790, chính quyền nhà Thanh đã đơn phương xem hành động này là sự phục tùng của Miến Điện, và tuyên bố chiến thắng.

Mặc dù thất bại ở miền Nam, tổng thể cuộc mở rộng quân sự của Hoàng đế Càn Long đã tăng gần gấp đôi diện tích của Đế chế nhà Thanh rộng lớn, và đưa vào lãnh thổ nhiều dân tộc không thuộc Hán tộc như người Duy Ngô Nhĩ, người Kazakhs, người Kyrgyzs, người Evenksngười Mông Cổ - những bộ tộc thù địch với triều đình. Đây cũng là một chiến dịch quân sự rất hao tiền; số tiền trong Kho bạc Hoàng gia hầu như được đưa vào các cuộc viễn chinh quân sự. Mặc dù hầu hết các cuộc chiến tranh đã thành công, quân Thanh không quá áp đảo như vậy. Quân đội nhà Thanh đã bị thiệt hại đáng kể và gặp khó khăn khi đối mặt với một số kẻ thù bị đánh giá yếu hơn nhiều: chiến dịch chống lại Thập toàn Võ công mất 2–3 năm - lúc đầu quân đội nhà Thanh liên tục thua trận, mặc dù Nhạc Chung Kỳ (hậu duệ của Nhạc Phi) sau đó nắm quyền kiểm soát tình hình. Cuộc chiến với hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ đã nhiều lần diễn ra với cục diện giằng co, và gây ra thiệt hại nặng nề ở cả hai bên.

Vào giai đoạn cuối cuộc chiến tranh biên giới, quân đội nhà Thanh đã bắt đầu suy yếu đáng kể. Ngoài một hệ thống quân sự khoan dung hơn, các lãnh chúa trở nên hài lòng với lối sống của họ. Vì hầu hết các cuộc chiến đã diễn ra, các lãnh chúa không còn thấy bất kỳ lý do gì để huấn luyện quân đội của họ, dẫn đến một sự suy giảm quân sự nhanh chóng vào cuối triều đại của Hoàng đế Càn Long. Đây là lý do chính cho sự thất bại của quân đội nhà Thanh để ngăn chặn cuộc khởi nghĩa Bạch Liên giáo, bắt đầu vào cuối triều đại của Càn Long và mở rộng vào thời của Gia Khánh.

Chính sách đối nộiSửa đổi

Càn Long là vị Hoàng đế rất chuyên tâm đến triều chính, đã xóa bỏ chế độ chính trị hà khắc của Ung Chính, thay vào đó là chính sách khoan dung độ lượng. Ông giải phóng tất cả những người trong tông thất bị cầm tù, những người chú, bác bị bức hại mà chết đều được ghi trong ngọc điệp, phong anh em mình làm Thân vương; thời Ung Chính bắt bớ giam cầm những văn sĩ vô tội, gia tộc của họ bị đày tới biên giới làm nô lệ, nay đều được ông trả về quê cũ. Từ khi cơ cấu quyền lực tối cao chỉ sau Hoàng đế là Quân cơ xứ được thành lập, hàng ngày Càn Long đều đích thân tới Quân cơ xứ để xử lý việc triều chính. Sáng đi sớm tối về muộn, buổi tối cũng thường xuyên triệu kiến các Quân cơ đại thần, chính vì vậy mà từ thời ông, Quân cơ xứ dần dần hình thành nên chế độ trực đêm, sau này sợ một người không xử lý nổi, nên vào mỗi sáng sớm còn có một người tới giúp đỡ. Bên cạnh đó, Càn Long cũng quản lý rất nghiêm khắc hoạn quan và ngoại thích, trước hết là cấm hoạn quan học hành, xóa bỏ Nội thư đường vốn là nơi đọc sách, học chữ của hoạn quan; tiếp đến phàm những hoạn quan là sai tấu sự thì đều đổi họ là Vương, như vậy sẽ khiến các quan bên ngoài khó mà phân biệt được, từ đó tránh để họ câu kết với nhau.

Về mặt phát triển xã hội, Càn Long chủ yếu kế thừa chế độ kinh tế và chính trị của Khang Hi và Ung Chính, đặc biệt là thực thi triệt để các chính sách như "cải thổ quy lưu", "than định nhập mẫu" và "hỏa hao quy công". Những chính sách này đã đưa triều Thanh lên đỉnh cao của sự phát triển. Đất nước dưới thời Càn Long bắt đầu bước vào giai đoạn cực thịnh.

Bản sắc chính trị Trung Quốc và chính sách biên cươngSửa đổi

Hoàng đế Càn Long và những người tiền nhiệm của ông, kể từ Hoàng đế Thuận Trị, đã xác định Trung Quốc và Đế quốc Thanh là như nhau, và trong các hiệp ước và các tài liệu ngoại giao, Đế quốc Thanh gọi đó là "Trung Quốc". Hoàng đế Càn Long đã bác bỏ những ý kiến ​​trước đó rằng chỉ người Hán mới có thể là người Trung Quốc và chỉ có đất Hán mới có thể được coi là một phần của Trung Quốc, vì vậy ông đã định nghĩa lại Trung Quốc là đa sắc tộc, nói rằng vào năm 1755, "tồn tại quan điểm về Trung Quốc (zhongxia), theo mà những người không phải người Hán không thể trở thành chủ thể của Trung Quốc và đất đai của họ không thể hòa nhập vào lãnh thổ Trung Quốc. Điều này không thể hiện sự hiểu biết về triều đại của chúng ta về Trung Quốc, mà thay vào đó là các triều đại Hán, Đường, Tống và Minh trước đó. "

Hoàng đế Càn Long bác bỏ quan điểm của các quan chức Hán, người nói rằng Tân Cương không phải là một phần của Trung Quốc và ông không nên chinh phục nó, đưa ra quan điểm rằng Trung Quốc là đa sắc tộc và không chỉ đề cập đến người Hán. Hoàng đế Càn Long đã so sánh thành tích của mình với thành tích của nhà Hánnhà Đường khi viễn chinh vào Trung Á.

Quan hệ với phương TâySửa đổi

Đối mặt với thực dân phương Tây liên tục dòm ngó, Càn Long đã chọn thái độ cứng rắn, từ chối thẳng thừng những yêu cầu vô lý của họ. Cùng với đó, ông chọn thái độ hữu hảo với những nước có thành ý với Trung Quốc, tuy nhiên vẫn dứt khoát từ chối đề xuất thông thương của họ. Quan điểm của ông là, tiếp tục duy trì chính sách bế quan tỏa cảng của quốc gia, cũng chính vì vậy mà đã khiến khoa học kỹ thuật của Trung Quốc tụt hậu khá xa so với châu Âu.

Điều quân sang nước Đại ViệtSửa đổi

 
Một bức tranh mô tả Càn Long khi đi săn.

Những năm cuối thế kỷ XVIII, nước Đại Việt xảy ra tranh chấp giữa nhà Hậu Lê với nhà Tây Sơn. Tháng 5 năm 1788, vua Lê Chiêu Thống cùng các bầy tôi sang Long Châu cầu viện nhà Thanh phát binh đánh nhà Tây Sơn. Tháng 7 năm 1788, Lê Chiêu Thống ở Kinh Bắc cũng sai người sang Trung Quốc cầu cứu. Càn Long thấy vậy bèn phát binh đánh Đại Việt. Cuối năm 1788, Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy hơn 29 vạn quân, huy động từ Lưỡng Quảng, Vân Nam và Quý Châu[12] hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa phù diệt Tây Sơn, và phong cho Lê Chiêu Thống là An Nam Quốc vương để vào chiếm đóng Thăng Long (Hà Nội). Quân đội nhà Thanh nhanh chóng áp đảo và dễ dàng chiếm kinh thành Thăng Long, buộc hai tướng Ngô Văn SởNgô Thì Nhậm phải rút quân vào Phú Xuân báo cho tướng nhà Tây Sơn là Bắc Bình vương Nguyễn Huệ.

Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ của Tây Sơn lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung và xuất quân tiến ra Bắc đánh quân Thanh. Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), đại quân của hoàng đế Quang Trung tới Nghệ An, dừng quân tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên 10 vạn, tổ chức thành 5 đạo quân: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Ngoài ra còn có một đội tượng binh với hơn 100 voi chiến. Vua Quang Trung còn tổ chức lễ duyệt binh ngay tại Nghệ An để khích lệ ý chí quyết chiến, quyết thắng của tướng sĩ đối với quân xâm lược Mãn Thanh. Ngay sau lễ duyệt binh, Quang Trung tiến quân ra Bắc Hà.

Ngày 20 tháng 12 năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp, Ninh Bình. Khi đó, quân sĩ được lệnh ăn Tết trước. Và sau đó, Quang Trung ra lệnh cho quân sĩ chia thành 5 đạo quân để tiến ra Thăng Long. Sau khi thăm dò tình hình (bằng cách viết thư cho Tôn Sĩ Nghị giả vờ đầu hàng), vua Quang Trung thông báo chỉ trong 10 ngày là quét sạch quân Mãn Thanh.

Sớm hơn cả dự kiến, trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Mãn Thanh mà trận Ngọc Hồi - Đống Đa là tiêu biểu. Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết..., thây ngổn ngang đầy đồng, máu chảy thành suối. Quân Thanh đại bại (Hoàng Lê nhất thống chí). Trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu - 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long.

Trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu - 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống sợ hãi dẫn đám tàn quân vượt sông Hồng chạy thoát về Trung Quốc. Quang Trung tuy đánh bại quân Thanh, nhưng biết Đại Thanh là nước lớn, vả lại còn đang phải chống lại thế lực Nguyễn Ánh ở miền Nam Đại Việt, nên quyết định xưng thần với nhà Thanh. Về phía Đại Thanh, Càn Long biết Đại Việt khó đánh, mà đánh được cũng khó giữ, nên chấp nhận sự giảng hòa của Quang Trung. Càn Long vẫn giữ nhóm vua tôi Lê Chiêu Thống trên đất Trung Quốc nhưng phớt lờ tất cả mọi nỗ lực của họ khi đòi người Thanh tiếp tục đưa quân sang đánh báo thù Tây Sơn.

Thành tựu văn hóaSửa đổi

 
Vua Càn Long bên bàn làm việc, tranh vẽ bởi Giuseppe Castiglione, thế kỉ 18
 
Càn Long đang xem tranh
 
Áo choàng lễ hội với rồng, mây, sóng và núi

Càn Long, giống như người tiền nhiệm của ông, đã coi trọng vai trò văn hóa của ông. Trước hết, ông đã cố gắng để bảo tồn di sản Mãn Châu, mà ông đã xem như là nền tảng của tính cách đạo đức của người Mãn Châu và do đó là sức mạnh của triều đại. Ông ra lệnh biên soạn các phả hệ ngôn ngữ Mãn Châu, lịch sử, và các cẩm nang nghi lễ và vào năm 1747 đã bí mật ra lệnh biên soạn Bộ luật Shaman, được xuất bản sau trong Siku Quanshu. Ông tiếp tục củng cố các yêu sách văn hóa và tôn giáo của các triều đại ở Trung Á bằng cách đặt một bản sao của cung điện Potala, một ngôi đền Tây Tạng, được xây dựng trên nền tảng của cung điện mùa hè hoàng gia ở Thừa Đức. Để trình bày bản thân với người Tây Tạngngười Mông Cổ trong Phật giáo hơn là trong các thuật ngữ Nho giáo, ông đã đưa một bức tranh thangka, hay thiêng liêng, mô tả ông là văn-thù-sư-lợi, Bồ Tát của trí tuệ.

Càn Long là một người bảo trợ chính và là "người bảo quản và phục chế" quan trọng của văn hóa Nho giáo. Ông đã có một sự thèm ăn vô độ để thu thập, và có được nhiều "bộ sưu tập tư nhân vĩ đại" của Trung Quốc bằng bất kỳ phương tiện nào cần thiết, và "tích trữ lại kho báu của họ vào bộ sưu tập hoàng gia." Càn Long, nhiều hơn bất kỳ hoàng đế Mãn Châu nào khác, đã yêu mến bộ sưu tập hoàng gia với sự chú ý và nỗ lực của mình::

Bộ sưu tập hoàng gia có nguồn gốc từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, và đã trải qua nhiều thăng trầm của hỏa hoạn, nội chiến và các cuộc xâm lược của nước ngoài trong các thế kỷ tiếp theo. Nhưng chính Càn Long đã dành sự chú ý lớn nhất cho nó, chắc chắn là của bất kỳ nhà cai trị người Mãn nào... Một trong nhiều vai trò của Càn Long, với sự siêng năng thông thường của ông, là hoàng đế với tư cách là nhà sưu tầm và giám tuyển.... Càn Long theo dõi thị trường nghệ thuật một cách cẩn thận như thế nào trong các bức tranh và cổ vật quý hiếm, sử dụng một đội ngũ cố vấn văn hóa, từ văn nhân Trung Quốc cao tuổi đến những người sành chơi Mãn Châu mới nổi. Những người đàn ông này sẽ giúp hoàng đế phát hiện ra những bộ sưu tập tư nhân vĩ đại sắp được bán, bởi vì vận may của một số gia đình thương nhân giàu có trước đây đang làm sáng tỏ hoặc bởi vì những đồ vật quý giá được mua bởi ông bà Mãn hoặc Trung Quốc trong thời kỳ hỗn loạn không có còn giá trị bởi những người thừa kế còn sống của những gia đình đó. Đôi khi, Càn Long cũng sẽ gây áp lực hoặc thậm chí buộc các cận thần giàu có phải đưa ra các đối tượng nghệ thuật lựa chọn: ông đã làm điều này bằng cách chỉ ra những thất bại trong công việc của họ, có thể được miễn nếu họ làm một "món quà" nào đó, hoặc, trong một vài lễ kỷ niệm trường hợp, bằng cách thuyết phục các chủ sở hữu hiện tại rằng chỉ có các bức tường an toàn của Thành phố bị cấm và những người bảo vệ của nó có thể cứu một số bức tranh quý giá khỏi trộm cắp hoặc từ hỏa hoạn.[13]

Bộ sưu tập nghệ thuật đồ sộ của Hoàng đế Càn Long đã trở thành một phần thân mật trong cuộc đời ông; ông đã mang theo những bức tranh phong cảnh trong chuyến du lịch của mình để so sánh chúng với phong cảnh thực tế, hoặc treo chúng trong những căn phòng đặc biệt trong cung điện nơi ông ở, để khắc ghi chúng trong mỗi lần đến đó. "Ông cũng thường xuyên thêm các dòng chữ thơ vào các bức tranh của bộ sưu tập hoàng gia, theo gương của các hoàng đế của triều đại nhà Tống và các họa sĩ văn chương của triều đại nhà Minh. Chúng là một dấu ấn riêng biệt cho tác phẩm và là dấu hiệu hữu hình của ông Vai trò chính đáng của hoàng đế. Đặc biệt nhất đối với Hoàng đế Càn Long là một loại chữ khắc khác, cho thấy một cách thực hành độc đáo đối với các tác phẩm nghệ thuật mà ông dường như đã phát triển cho chính mình. Trong một số thời gian cố định, ông đã chiêm ngưỡng một số bức tranh hoặc các tác phẩm thư pháp sở hữu ý nghĩa đặc biệt đối với anh ta, ghi chép thường xuyên với các ghi chú chủ yếu là riêng tư về hoàn cảnh thưởng thức chúng, sử dụng chúng gần như một cuốn nhật ký. "

"Hầu hết vài ngàn vật phẩm ngọc bích trong bộ sưu tập hoàng gia kể từ thời trị vì của ông. Hoàng đế (Càn Long) cũng đặc biệt quan tâm đến việc thu thập các đồng tiền cổ, gương đồng và dấu niêm," ngoài đồ gốm, gốm sứ và nghệ thuật ứng dụng như như pháp lam, gia công kim loại và công việc sơn mài, phát triển rực rỡ trong triều đại của ông; một phần đáng kể trong bộ sưu tập của ông là trong Quỹ Percival David ở London. Bảo tàng Victoria và Albert và Bảo tàng Anh cũng có những bộ sưu tập nghệ thuật từ thời Càn Long.

"Hoàng đế Càn Long là một nhà thơ và nhà tiểu luận say mê. Trong các tác phẩm thu thập của ông, được xuất bản trong một loạt mười lần giữa 1749 và 1800, hơn 40.000 bài thơ và 1.300 văn bản văn xuôi được liệt kê, làm cho ông trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng nhất mọi thời đại. Có một truyền thống lâu dài các bài thơ thuộc thể loại này để ca ngợi các đối tượng cụ thể ('yongwu shi), và Hoàng đế Càn Long đã sử dụng nó để liên kết tên của mình cả về thể chất và trí tuệ với truyền thống nghệ thuật cổ đại. "

Một trong những dự án lớn nhất của Hoàng đế Càn Long là "tập hợp một nhóm các học giả giỏi nhất của Trung Quốc cho mục đích lắp ráp, chỉnh sửa và in bộ sưu tập lớn nhất từng được tạo ra từ triết học, lịch sử và văn học Trung Quốc." Được gọi là Bốn Kho báu Dự án (hay Siku Quanshu), nó đã được xuất bản thành 36.000 tập, chứa khoảng 3.450 tác phẩm hoàn chỉnh và sử dụng tới 15.000 người sao chép. Nó bảo tồn rất nhiều sách, nhưng cũng được dùng như một cách để loại bỏ và đàn áp các đối thủ chính trị, đòi hỏi phải "kiểm tra cẩn thận các thư viện tư nhân để tập hợp một danh sách khoảng mười một nghìn tác phẩm từ trước đến nay, trong đó khoảng một phần ba được chọn để xuất bản. Các tác phẩm không được bao gồm hoặc được tóm tắt hoặc trong nhiều trường hợp mà đã lên kế hoạch phá hủy. "

Biên soạn "Tứ Khố Toàn Thư"Sửa đổi

Tứ khố toàn thư (tiếng Trung: 四庫全書) là bách khoa lớn nhất trong lịch sử phong kiến Trung Quốc.[1] Nó được Hoàng đế Càn Long nhà Thanh giao cho 361 học giả, đứng đầu là Kỉ Quân và Lục Tích Hùng, biên soạn trong khoảng thời gian từ 1773 đến 1782, nó đã trải qua vô vàn sóng gió cùng với máu tanh vì trong thời gian này chế độ vua chúa nhà Thanh bắt bớ gắt gao những người có tư tưởng phản Thanh phục Minh dù là trong thơ ca. Với 4 phần lớn là Kinh (經), Sử (史), Tử (子), Tập (集), Tứ khố toàn thư đã tập hợp trên 10.000 bản thảo từ các bộ sưu tập của những triều đại phong kiến Trung Quốc (kể cả 3.000 bản thảo bị đốt vì nghi có tư tưởng chống Thanh) thuộc tất cả các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, lịch sử, triết học và văn học nghệ thuật. Tổng cộng bộ sách này có 79.897 phần[2] nằm trong 36.381 quyển, 2,3 triệu trang sách và khoảng 800 triệu chữ.[3][4][5]

Có 16 người được giao chịu trách nhiệm chính để biên soạn Tứ khố toàn thư. Ngoài ra còn có 60 quan lại và những nhân vật trí thức tiên tiến cùng tham gia: Chất Trang Thân vương Vĩnh Dung, Đại học sĩ Lưu Thống Huân, Vũ Mẫn. Sau 15 năm trời, bộ Tứ khố toàn thư được chép xong, đến năm 1793 công việc biên soạn mới hoàn toàn kết thúc. Tứ khố toàn thư được chia làm ba loại: sao chép, khắc in và tồn mục. "Tồn mục" là những sách mà vua Càn Long cho là xúc phạm đến triều đình Mãn Thanh, bất lợi cho sự thống trị của triều đình, chỉ được giữ lại tên sách trong "Tứ khố toàn thư". "Tứ khố toàn thư" được chép làm 7 bản chính, mỗi bản gồm 36.275 quyển, được cất giữ tại Văn Hàm các, Văn Nguyên các, Văn Tố các, Văn Lan các. Một bản dự trữ được cất tại Hàn Lâm viện tại Bắc Kinh. Ngày nay, chỉ còn bản được lưu trữ tại Văn Tân các ở Sơn trang nghỉ mát của vua Càn Long còn nguyên vẹn.

Hoàng đế Càn Long hạ lệnh làm thành 7 bản sao của Tứ khố toàn thư. Bốn bản đầu tiên là cho Hoàng đế và được giữ ở phía bắc. Hoàng đế Càn Long xây dựng những thư viện đặc biệt cho nó. Các bản sao được đặt tại Tử Cấm Thành, Vườn Viên Minh, Thẩm Dương và Thừa Đức. Ba bản còn lại được gửi về phía nam. Chúng được gửi vào các thư viện trong các thành phố Hàng Châu, Trấn Giang và Dương Châu.[6] Tất cả bảy thư viện cũng nhận được bản sao của bách khoa toàn thư Hoàng gia năm 1725 Cổ kim đồ thư tập thành.

Bản sao lưu giữ trong Vườn Viên Minh đã bị phá hủy trong Chiến tranh Nha phiến lần thứ 2 vào năm 1860. Trong cuộc chiến với quân Anh và Pháp, bản sao Cung điện Mùa hè cũ đã bị đốt cháy. Hai bản sao lưu giữ ở Trấn Giang và Dương Châu đã hoàn toàn bị phá hủy trong khi bản sao lưu giữ tại Hàng Châu chỉ khoảng 70 đến 80 phần trăm bị phá hủy, trong cuộc nổi loạn Thái Bình Thiên Quốc. Bốn bản còn lại bị một số thiệt hại trong Chiến tranh Trung - Nhật lần thứ 2. Ngày nay, những bản sao này có thể được đặt tại Thư viện Quốc gia Trung Quốc ở Bắc Kinh, Bảo tàng Cung điện Quốc gia ở Đài Bắc, Thư viện Cam Túc ở Lan Châu và Thư viện Chiết Giang ở Hàng Châu.

Đốt sách và chỉnh sửa nội dungSửa đổi

 
Một chuyến viếng thăm của Hoàng đế đến ngôi mộ của tổ tiên.
 
Hoàng đế Càn Long đến Tô Châu thăm Đại Vận Hà.

Khoảng 2.300 tác phẩm đã được liệt kê cho tổng cuộc đàn áp và 350 công trình khác để xóa bỏ một phần. Mục đích là để xóa bỏ các tác phẩm chống lại nhà Thanh hoặc có tính nổi loạn, mà xúc phạm các triều đại "man di" trước đó, hoặc những thông tin nhạy cảm với các vấn đề biên giới hay phòng thủ. Việc chỉnh sửa đầy đủ của Siku Quanshu đã hoàn thành trong khoảng mười năm; trong mười năm qua, 3100 đầu sách (hoặc tác phẩm), khoảng 150.000 bản sách bị đốt cháy hoặc bị cấm. Trong số những tập đã được phân loại vào Siku Quanshu, nhiều sách đã bị xóa và sửa đổi. Đăc biệt, những cuốn sách được xuất bản trong thời nhà Minh là những tác phẩm bị thiệt hại lớn nhất.

Thẩm quyền sẽ phán xét bất kỳ ký tự đơn hoặc bất kỳ tính trung lập nào của câu đơn; nếu chính quyền đã quyết định những lời này, hoặc câu, là xúc phạm hoặc hoài nghi đối với những người cầm quyền, thì cuộc bức hại sẽ bắt đầu. Trong thời gian trị vì của Hoàng đế Càn Long, đã có 53 trường hợp mua lại tác phẩm văn học, dẫn đến các nạn nhân bị hành hình bằng cách chém đầu hoặc tùng xẻo, hoặc xác chết của họ bị băm nát (nếu họ đã chết).

Tác phẩm văn họcSửa đổi

Năm 1743, sau lần viếng thăm đầu tiên của ông tới Mukden (ngày nay là Thẩm Dương, Liêu Ninh), Càn Long đã dùng tiếng Trung để viết "Ode to Mukden" (Shengjing fu / Mukden-i fujurun bithe), một kiểu viết theo phong cách cổ điển, một bài thơ ca ngợi Mukden, vào thời điểm đó một thuật ngữ chung cho những gì sau này được gọi là Mãn Châu, mô tả vẻ đẹp của nó và các giá trị lịch sử. Ông mô tả những ngọn núi và động vật hoang dã, sử dụng chúng để biện minh cho niềm tin của mình rằng vương triều sẽ tồn tại lâu dài. Một bản dịch tiếng Mãn sau đó được thực hiện. Năm 1748, ông ra lệnh in ấn cho cả hai tiếng Trung Quốc và Mãn Châu, sử dụng một số hình thức tiền thân, nhưng phong cách Mãn Châu phải được phát minh và không thể đọc được.

Ngôn ngữSửa đổi

Trong thời thơ ấu của mình, Càn Long được dạy kèm tiếng Mãn, tiếng Hántiếng Mông Cổ, được bố trí để được dạy kèm bằng tiếng Tây Tạng, và nói tiếng bộ lạc Chagatai (Turki hoặc Uyghur hiện đại) và Tangut. Tuy nhiên, ông thậm chí còn quan tâm nhiều hơn những người tiền nhiệm của mình để bảo tồn và quảng bá ngôn ngữ Mãn Châu giữa những người theo ông, như ông tuyên bố rằng "chìa khóa cho Mãn Châu là ngôn ngữ." Ông đã đưa các bộ từ điển tiếng Mãn mới, và chỉ đạo việc chuẩn bị từ điển Pentaglot đưa ra các từ tương đương cho các thuật ngữ Mãn Châu trong tiếng Mông Cổ, Tây Tạng và Thổ Nhĩ Kỳ, và có kinh điển Phật giáo dịch sang tiếng Mãn Châu, được coi là "ngôn ngữ quốc gia". Ông chỉ đạo việc loại bỏ các khoản vay mượn từ Trung Quốc và thay thế chúng bằng các bản dịch bình thường được đưa vào từ điển Mãn Châu mới. Mãn dịch các tác phẩm của Trung Quốc trong triều đại của ông là những bản dịch trực tiếp tương phản với những cuốn sách của Mãn Châu được dịch trong thời Khang Hy, là phiên âm trong chữ Mãn Châu của các ký tự Trung Quốc.

Hoàng đế Càn Long đã ủy nhiệm cho Yuding Xiyu Tongwen Zhi ("Vùng Tây Phương Tây") là một từ điển tên địa lý ở Tân Cương ở Oirat Mongol, Mãn Châu, Trung Quốc, Tây Tạng và Turki (Uyghur hiện đại).

Phật giáo Tây TạngSửa đổi

 
Tranh khắc họa Hoàng đế Càn Long
 
Càn Long trong một chuyến đi săn

Sự kết hợp lâu dài của quyền cai trị Mãn Châu với Bồ Tát văn-thù-sư-lợi và sự quan tâm riêng của ông đối với Phật giáo Tây Tạng đã tạo nên sự tin tưởng cho sự bảo trợ của Càn Long về nghệ thuật Phật giáo Tây Tạng và sự bảo trợ các bản dịch kinh điển Phật giáo. Các tài khoản trong hồ sơ triều đình và các nguồn ngôn ngữ Tây Tạng khẳng định cam kết cá nhân của mình. Ông nhanh chóng học đọc ngôn ngữ Tây Tạng và nghiên cứu văn bản Phật giáo một cách chắc chắn. Niềm tin của ông được phản ánh trong hình ảnh Phật giáo Tây Tạng về lăng mộ của ông, có lẽ là biểu hiện cá nhân và riêng tư nhất về cuộc đời của hoàng đế. Ngài ủng hộ Giáo hội Vàng (giáo phái Phật giáo Tây Tạng cách-lỗ-phái) để "duy trì hòa bình giữa người Mông Cổ" vì người Mông Cổ là tín đồ của đạt-lai-Lạt-maban-thiền-Lạt-ma của Giáo hội Vàng, và Hoàng đế Càn Long đã giải thích điều này trong Ung Hòa Cung. Bắc Kinh trên một bia có tên "Lama Shuo" (trên Lamas) vào năm 1792, và ông cũng nói rằng "chỉ đơn thuần là theo đuổi chính sách mở rộng tình cảm của chúng ta cho kẻ yếu đuối." dẫn ông đến bảo trợ Giáo hội Vàng. Mark Elliott kết luận rằng những hành động này mang lại lợi ích chính trị nhưng "liên kết chặt chẽ với đức tin cá nhân của ông ấy."

Lời giải thích về việc ủng hộ các Phật tử Tây Tạng "Những chiếc mũ vàng" vì những lý do thực tế đã được sử dụng để làm chệch hướng những lời chỉ trích của Han về chính sách này bởi Hoàng đế Càn Long, người có bia "Lama Shuo" khắc bằng tiếng Tây Tạng, Mông Cổ, Mãn Châu và Trung Quốc. Bằng cách bảo trợ Giáo hội Vàng, chúng ta duy trì hòa bình giữa người Mông Cổ, đây là một nhiệm vụ quan trọng mà chúng ta không thể bảo vệ (tôn giáo) này (khi làm như vậy), chúng ta không thể hiện sự thiên vị, và cũng không muốn tôn thờ các linh mục Tây Tạng như (được thực hiện trong thời nhà Nguyên).

Càn Long biến Ung Hòa Cung thành một ngôi chùa Phật giáo Tây Tạng cho người Mông Cổ vào năm 1744 và có một sắc lệnh được ghi trên bia để tưởng niệm nó bằng tiếng Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Quốc và Mãn Châu. đã viết phiên bản tiếng Trung trước tiếng Mãn.

Sự đàn áp các Kitô hữu bởi cha ông trở nên tồi tệ hơn trong triều đại của ông.

Cung điệnSửa đổi

 
Phi tần và con cái của Càn Long
 
Những phi tần của Càn Long
 
Hoàng đế Càn Long xem một trận đấu vật

Càn Long là một người tích cực trong việc xây dựng cung điện, hoa viên. Trong những ngọn đồi phía tây bắc của Bắc Kinh, ông mở rộng dinh thự được gọi là "Vườn của độ sáng hoàn hảo" (Yuanmingyuan) (bây giờ được gọi là Cung điện mùa hè cũ) được xây dựng bởi cha mình. Cuối cùng, ông đã thêm hai dinh thự mới, "Vườn mùa xuân vĩnh cửu" và "Vườn mùa xuân thanh lịch". Theo thời gian, Cung điện mùa hè cũ sẽ rộng 860 mẫu Anh (350 ha), lớn hơn năm lần so với Tử Cấm Thành. Để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 60 của mẹ mình, Sùng Khánh Hoàng thái hậu, Càn Long đã ra lệnh xây cho một hồ ở "Vườn Ripples" (Qingyiyuan) (nay gọi là Di Hòa viên), nạo vét kĩ lưỡng, đặt tên là hồ Côn Minh, và cải tạo một dinh thự trên bờ phía đông của hồ.

Hoàng đế Càn Long cũng mở rộng Cung điện mùa hè Hoàng gia ở Nhiệt Hà, vượt ra ngoài Vạn Lý Trường Thành. Nhiệt Hà cuối cùng trở thành kinh đô thứ ba và ở đây, Càn Long đã tổ chức triều đình với nhiều quý tộc Mông Cổ khác nhau. Hoàng đế cũng dành thời gian tại khu đất săn bắn ở phía bắc Nhiệt Hà, nơi ông tổ chức cuộc săn bắn hoàng gia mỗi năm.

Phong cách châu ÂuSửa đổi

Đối với Vườn Viên Minh, Hoàng đế Càn Long đã ủy thác cho Dòng Tên người Ý Giuseppe Castiglione cho việc xây dựng Xiyang Lou, hay biệt thự theo phong cách phương Tây, để thỏa mãn sở thích của mình đối với các tòa nhà và đồ vật kỳ lạ. Ông cũng ủy thác cho tu sĩ Dòng Tên người Pháp Michel Benoist, thiết kế một loạt các công trình nước và đài phun nước theo thời gian hoàn chỉnh với máy móc và đường ống ngầm, để tạo ra một nơi giải trí cho gia đình hoàng gia. Dòng Tên Pháp Jean Denis Attiret cũng trở thành họa sĩ cho hoàng đế. Jean-Damascène Sallusti cũng là một họa sĩ triều đình. Ông đồng thiết kế, với Castiglione và Ignatius Sichelbart, tác phẩm Battle Copper Prints.

Kiến trúc khácSửa đổi

Trong triều đại của Hoàng đế Càn Long, Minaret Emin được xây dựng ở Turfan để tưởng nhớ Emin Khoja, một thủ lĩnh người Duy Ngô Nhĩ từ Turfan, người đã đệ trình lên Đế quốc Thanh như một chư hầu để được hỗ trợ từ nhà Thanh để chống lại Zunghars.

Hậu duệ của Hoàng tộc nhà MinhSửa đổi

Năm 1725, Hoàng đế Yongzheng ban tặng một tước hiệu di sản cho một hậu duệ của Chu Zhilian, một hậu duệ của hoàng tộc triều đại nhà Minh. Chu cũng được chính quyền nhà Thanh trả tiền để thực hiện các nghi lễ tại lăng mộ nhà Minh và đưa Biểu ngữ trắng đồng bằng của Trung Quốc vào Tám biểu ngữ. Zhu đã được truy tặng danh hiệu "Hầu tước ân sủng mở rộng" vào năm 1750, và danh hiệu này đã được truyền lại cho 12 thế hệ trong gia đình ông cho đến cuối triều đại nhà Thanh.

Hệ thống biểu ngữSửa đổi

Bài chi tiết: Bát Kỳ

Hoàng đế Càn Long đã thiết lập một chính sách "Manchu-fying" hệ thống Tám Biểu ngữ, là tổ chức quân sự và xã hội cơ bản của triều đại. Vào đầu thời đại nhà Thanh, Nỗ Nhĩ Cáp XíchHoàng Thái Cực đã phân loại bản sắc dân tộc Mãn và Hán trong Tám biểu ngữ dựa trên văn hóa, lối sống và ngôn ngữ, thay vì tổ tiên hoặc gia phả. Tiếng Hán là một phần quan trọng của Hệ thống Biểu ngữ. Hoàng đế Càn Long đã thay đổi định nghĩa này thành một người gốc, và đã xuất ngũ nhiều người Hán và kêu gọi người Mãn bảo vệ di sản văn hóa, ngôn ngữ và kỹ năng võ thuật của họ. Hoàng đế đã xác định lại danh tính của Han Bannermen bằng cách nói rằng họ được coi là có cùng một nền văn hóa và thuộc cùng một tổ tiên khai thác như thường dân Hán. Ngược lại, ông nhấn mạnh khía cạnh võ thuật của văn hóa Mãn và khôi phục lại việc thực hành cuộc săn bắn hàng năm của hoàng gia được bắt đầu bởi ông nội của ông, những người dẫn đầu từ các biểu ngữ Mãn Châu và Mông Cổ đến khu săn bắn Mulan mỗi mùa thu để kiểm tra và cải thiện kỹ năng của họ.

Quan điểm của Hoàng đế Càn Long về biểu ngữ Hán cũng khác với quan điểm của ông nội khi quyết định rằng lòng trung thành trong chính nó là phẩm chất quan trọng nhất. Ông đã tài trợ cho các tiểu sử miêu tả người Trung Quốc đã đào thoát từ nhà Minh sang nhà Thanh như những kẻ phản bội và tôn vinh những người trung thành với nhà Minh. Một số vùi và thiếu sót của Hoàng đế Càn Long trong danh sách những kẻ phản bội có bản chất chính trị. Một số trong những hành động này bao gồm Li Yong Phường (không thích con cháu của Li Yong Phường, Li Shiyao) và loại trừ Ma Mingpei (vì lo lắng cho hình ảnh của con trai ông Ma Xiongzhen).

Việc xác định và hoán đổi cho nhau giữa "Mãn" và "Người biểu ngữ" (Qiren) bắt đầu từ thế kỷ 17. Người biểu ngữ được phân biệt với thường dân (Trung Quốc): minren, Manchu: irgen hoặc Trung Quốc: Hanren, Manchu: Nikan) và thuật ngữ Bannermen đã trở nên giống hệt với "Mãn" trong nhận thức chung. Hoàng đế Càn Long gọi tất cả biểu ngữ là người Mãn Châu, và luật pháp của nhà Thanh không nói "người Mãn Châu", mà là "Bannermen".

Một số nhóm người Hán đã được nhà Thanh chuyển sang biểu ngữ Mãn Châu, thay đổi sắc tộc của họ từ người Hán sang người Mãn. Hanann bannermen của Tai Nikan (đài quan sát Trung Quốc) và Fusi Nikan (Fushun Trung Quốc) đặt vào các biểu ngữ Manchu vào năm 1740 theo lệnh của hoàng đế. Đó là vào giữa năm 1618-1629 khi người Hán từ Liêu Đông, người sau này trở thành Fushun Nikan và Tai Nikan đào thoát khỏi Nhím (Manchus). Các bộ tộc Mãn gốc Hán này tiếp tục sử dụng họ gốc Hán và được đánh dấu là có nguồn gốc từ Hán trong danh sách các bộ tộc Mãn của nhà Thanh.

Biện pháp chống súngSửa đổi

Các bộ lạc Solon được Hoàng đế Càn Long ra lệnh ngừng sử dụng súng trường và thay vào đó là luyện tập bắn cung truyền thống. Hoàng đế ban hành sắc lệnh cho các lực lượng được cấp cho súng phải trao lại cho chính phủ.

Quý tộc Trung QuốcSửa đổi

Hoàng đế Càn Long đã ban tước hiệu Wujing Boshi (五 经 博士; 經; Wǔjīng Bóshì) cho con cháu của Zhang Zai, Fu Sheng và Nhan Hồi.

Con gái của hoàng tử người Mãn Abatai đã kết hôn với tướng Hán Li Yong Phường (李永芳). Con cháu của Li đã nhận được danh hiệu "Tử tước hạng ba" (三等 子爵; sān děng zǐjué). Li Yong Phường là ông cố của Li Shiyao (李侍堯), người, dưới triều đại của Hoàng đế Càn Long, đã tham gia vào việc ghép và tham ô, hạ bệ danh hiệu cao quý của mình và bị kết án tử hình; tuy nhiên, cuộc sống của anh đã được tha và anh đã lấy lại được danh hiệu của mình sau khi hỗ trợ trong chiến dịch tại Đài Loan.

Giải quyết đất đai cho người HánSửa đổi

Nông dân Trung Quốc đã được tái định cư từ phía bắc Trung Quốc bởi chính quyền nhà Thanh ở khu vực dọc theo sông Liêu Hà để khôi phục lại đất canh tác. Đất hoang đã được khai hoang bởi những người nông dân Hán ngoài những người Hán khác thuê đất từ ​​các địa chủ người Mãn. Mặc dù chính thức cấm người Hán định cư trên vùng đất Mãn Châu và Mông Cổ, vào thế kỷ 18 chính quyền nhà Thanh đã quyết định giải quyết người tị nạn Hán từ miền bắc Trung Quốc bị nạn đói, lũ lụt và hạn hán vào Mãn Châu và Nội Mông. Do đó, người Hán đã trồng 500.000 ha ở Mãn Châu và hàng chục ngàn hecta ở Nội Mông vào những năm 1780. Càn Long cho phép nông dân Hán bị hạn hán để di chuyển vào Mãn Châu mặc dù ông đã ban hành sắc lệnh ủng hộ cấm họ từ năm 1740-76. Người thuê nhà người Hán thuê hoặc thậm chí tuyên bố quyền sở hữu đất đai từ "khu vực hoàng gia" và Mãn Châu Bannerlands trong khu vực. Bên cạnh di chuyển vào khu vực Liao ở miền nam Mãn Châu, con đường nối Cẩm Châu, Thẩm Dương, Thiết Lĩnh, Trường Xuân, HulubuirNinh An đã được giải quyết bởi người Hán trong triều đại của Càn Long, và người Hán là đa số ở các khu vực đô thị của Mãn Châu vào năm 1800. Để tăng doanh thu của kho bạc Hoàng gia, chính quyền nhà Thanh đã bán đất dọc theo sông Tùng Hoa trước đây dành riêng cho Mãn Châu cho người Hán vào đầu thời vua Đạo Quang, và người Hán lấp đầy hầu hết các thị trấn Mãn Châu vào những năm 1840, theo Abbé Huc.

Những năm cuối đờiSửa đổi

Trong những năm cuối đời, Càn Long bắt đấu sống hưởng lạc, xa hoa sau khi đã đạt được mọi quyền lực và vinh quang. Ông tỏ ra tự mãn, và bắt đầu đặt niềm tin vào các quan chức tham nhũng, đặc biệt là Hòa Thân.

Vì Hòa Thân là quan lại có quyền hành cao nhất và được Càn Long ưa chuộng nhất vào thời điểm đó, việc quản trị đất nước bị bỏ lại trong tay ông ta, trong khi Hoàng đế sống hưởng lạc với những thú vui như nghệ thuật, xa hoa và văn học. Khi Hòa Thân sau này bị con của Càn Long là vua Gia Khánh thanh trừng, chính quyền nhà Thanh phát hiện ra rằng tài sản cá nhân của Hòa Thân vượt quá ngân quỹ cạn kiệt của Đế quốc, lên tới 900 triệu bạc, tổng cộng 12 năm thặng dư của kho bạc của triều đình nhà Thanh.

Càn Long bắt đầu thời gian làm vua với khoảng 33,95 triệu đồng bạc trong kho bạc. Vào thời điểm trị vì, khoảng năm 1775, ngay cả khi cắt giảm thuế, thặng dư kho bạc vẫn đạt 73,9 triệu lượng bạc, một kỷ lục chưa từng có tính từ những người tiền nhiệm của ông, các Hoàng đế Khang Hi và Ung Chính, cả hai đều đã thực hiện các chính sách cắt giảm thuế đáng kể.

Tuy nhiên, do nhiều yếu tố như nạn tham ô của các quan lại, các cuộc tuần du thường xuyên ở phía nam, các công trình xây dựng cung điện khổng lồ, nhiều cuộc viễn chinh quân sự cũng như lối sống xa hoa của riêng mình, tất cả những chi phí này là 150,2 triệu. Điều này, cùng với tuổi cao niên của ông và thiếu các cải cách chính trị, đã khiến nhà Thanh từ giai đoạn thịnh trị đã bắt đầu suy thoái vào những năm cuối cuộc đời của ông.

Qua đờiSửa đổi

Vào tháng 10 năm 1795, Càn Long chính thức thông báo rằng vào mùa xuân năm sau, ông sẽ tự nguyện thoái vị ngai vàng và chuyển ngai vàng cho con trai mình. Người ta nói rằng Càn Long đã thực hiện một lời hứa trong năm của ông còn tại vị là sẽ không ở ngôi lâu hơn ông nội của ông, Hoàng đế Khang Hi, người đã ở trên ngai vàng đến 61 năm.

Hoàng đế Càn Long đã chính thức thoái vị ở tuổi 85, vào năm thứ 60 ở triều đại của ông, trao lại ngôi vua cho con trai thứ 15 của ông là Vĩnh Diễm, tức vua Gia Khánh, vào năm 1795. Trong bốn năm tiếp theo, ông giữ danh hiệu "Thái Thượng hoàng" (太上皇), mặc dù trên thực tế ông tiếp tục nắm giữ quyền lực và Gia Khánh chỉ có vai trò biểu tượng. Ông không bao giờ chuyển đến các phòng hưu trí của mình trong khu vườn Càn Long. Ông mất vào tháng 2 năm 1799 ở tuổi 87.

Thân thế tranh luậnSửa đổi

 
Tranh vẽ Càn Long những năm đầu trị vì.

Một trong những truyền thuyết phổ biến nhất về thân thế của Càn Long lưu truyền trong các câu chuyện dân gian, các bộ tiểu thuyết, dã sử chính là giả thuyết Càn Long là con cháu dòng họ Trần ở Hải Ninh, Chiết Giang.

Chuyện kể rằng, vào ngày 13 tháng 8 năm Khang Hi thứ 50, tức năm 1711, phủ của Ung Thân Vương, người sau này trở thành Hoàng đế Ung Chính, trở nên nhộn nhịp vui vẻ lạ thường. Hôm đó, Hoàng tử Dận Chân có thêm một đứa con. Cùng trong ngày hôm đó, nhà họ Trần ở Hải Ninh cũng có thêm một đứa trẻ. Nhà họ Trần ở đây chính là chỉ Trần Thế Quán, hay còn gọi là "Trần Các Lão", một người từng làm quan dưới thời Khang Hy và có quan hệ cực kỳ mật thiết với Hoàng tử thứ 4, Ung Thân vương Dận Chân (tức Ung Chính Hoàng đế).

Lúc bấy giờ, Vương phi của Hoàng tử Dận Chân và vợ của Trần Các Lão đều mang thai. Không lâu sau đó, cả hai người cùng sinh vào một ngày, Vương phi của Ung Chính sinh ra một cách cách còn vợ của Trần thì sinh ra một bé trai. Ung Chính nghe nói con trai của Trần Các Lão sinh cùng ngày với cách cách của mình mới lệnh cho Trần mang con trai vào Vương phủ của mình để xem mặt. Lệnh của Vương gia không thể không nghe, Trần Các Lão không còn cách nào khác đành phải mang con của mình đưa vào Vương phủ. Tuy nhiên, khi đứa bé được trả về cho nhà họ Trần thì ban đầu là con trai giờ lại hóa thành con gái. Đứa con trai nhà họ Trần bị đánh tráo vào phủ Ung Chính sau này chính là vua Càn Long.

Câu chuyện này đã được Kim Dung hư cấu thành bộ tiểu thuyết Thư kiếm ân cừu lục. Tuy nhiên đây chỉ là truyền thuyết, thể hiện mong ước của người Hán khi bị người Mãn đô hộ, tự an ủi mình rằng vua trên ngai vàng vẫn là người Hán.

Xây dựng Tử Quang CácSửa đổi

 
Hòa Thân, vị công thần đứng đầu trong Tử Quang Các.

Càn Long đế trị vì 60 năm, đã nối tiếp ông nội Khang Hi của mình người mà hoàng đế Càn Long vô cùng ngưỡng mộ khi còn nhỏ, làm nên thời kỳ thịnh thế của nhà Thanh với " thập toàn võ công ", tự cho mình công lao tái thế không có Hoàng đế nào trong lịch sử Trung Quốc có thể sánh bằng, vì thế Càn Long học theo Đường Thái Tông và mô phỏng Yên Lăng Các của nhà Đường để xây dựng lên Tử Quang Các để thờ phụng các công thần dưới triều Càn Long.

Trong Tử Quang Các treo tranh của 24 vị công thần dưới thời Càn Long bao gồm Triệu Huệ, Phó Hằng, Hòa Thân, Phúc Khang An, Kỷ Hiểu Lam, Lưu Dung, A Quế, Chu Khuê,...Người đứng đầu trong 24 vị công thần của Tử Quang Các không ai khác chính là sủng thần của Càn Long, Hòa Thân.

Quan hệ Càn Long - Hòa ThânSửa đổi

Giai thoạiSửa đổi

Vua cha Ung Chính có một nàng phi, nhan sắc diễm lệ. Lúc ấy Càn Long còn là Hoàng tử Hoằng Lịch, tuổi gần 20. Một lần có việc vào nội cung, Hoằng Lịch tình cờ gặp nàng đang soi gương chải tóc. Hoằng Lịch bèn đi vòng phía sau lưng bất ngờ vòng tay ra trước bịt mắt nàng ấy.

Thực ra Hoằng Lịch chỉ muốn đùa mà thôi, nhưng nàng phi ấy không biết đó là Hoàng tử, bị bất ngờ nên hoảng hốt vung chiếc lược đánh ra phía sau trúng ngay vào trán Hoằng Lịch làm thành một vết thương nhỏ. Hôm sau Hoằng Lịch tiến cung thăm mẫu thân là Hoàng hậu của vua Ung Chính.

Hoàng hậu thấy trên trán có vết thương bèn hỏi nhưng Hoằng Lịch cứ ấp úng mãi, Hoàng hậu sinh nghi gặng hỏi, Hoằng Lịch đành nói là bị nàng phi kia đánh. Hoàng hậu nổi trận lôi đình, nghi là nàng phi kia cố ý trêu ghẹo Thái tử, bèn bắt nàng ấy tự vẫn. Hoằng Lịch kinh hoảng muốn thừa nhận là lỗi của mình nhưng lại không dám nói thẳng, trù trừ mãi không nghĩ ra cách gì. Đến khi chạy tới phòng của nàng phi ấy thì nàng đã treo cổ trên xà nhà. Hoằng Lịch vô cùng đau đớn, dùng ngón tay ấn vào hộp son rồi chấm lên cổ thi hài, khấn thầm rằng: “Là ta đã hại nàng. Hồn như có linh thiêng thì sau này hãy đến cùng ta gặp gỡ”. Khấn rồi buồn bã về cung.

 
Tranh vẽ Càn Long của họa sĩ và nhà sử học George S. Stuart từ các ghi chép lịch sử.

Năm 1735, Ung Chính băng hà, Hoàng tử Hoằng Lịch 25 tuổi lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Càn Long, bắt đầu thi thố tài năng, trong suốt gần 30 năm lập nhiều công trạng lớn lao về văn nghiệp cũng như võ công.

Một hôm Càn Long dạo chơi ở Viên Minh Viên, lúc sáng trời mát nhưng đến trưa thì bỗng nắng gay gắt. Lúc này đám thị vệ mới vội vàng chạy đi tìm lọng vàng che nắng cho vua nhưng không có vì quên mang theo, bị Càn Long mắng cho một trận. Bỗng trong đội có một người bước ra thưa: “Những người giữ điển lễ không được từ chối trách nhiệm của mình”. Càn Long quay lại nhìn thấy một thiếu niên trắng trẻo, môi hồng răng trắng, dung mạo trông rất quen, bèn hỏi “Ngươi là ai?”, người ấy đáp: “Nô tài tên gọi Hòa Thân, gốc Mãn Châu, thuộc Chính hồng kỳ, hiện là sai dịch trong đội Loan Nghi”.

Càn Long cảm thấy như đã gặp ở đâu rồi, nhưng nhất thời không nhớ ra, sau khi về cung vẫn cứ suy nghĩ mãi. Bất chợt Càn Long nhớ ra câu chuyện hai mươi năm trước, lập tức cho triệu Hòa Thân vào quỳ trước mặt, ngắm thật kỹ thấy dáng mạo Hòa Thân giống hệt nàng phi thuở nọ. Lại nâng cổ Hòa Thân lên xem thấy có nốt ruồi son lớn bằng đầu ngón tay. Lúc này, Càn Long khẳng định rằng Hòa Thân chính là kiếp sau của nàng phi xưa, lòng vô cùng thương cảm.

Qua hỏi han biết Hòa Thân tuy nhà nghèo nhưng chịu khó học hành, tinh thông bốn loại văn tự là Mãn, Hán, Mông Cổ, Tây Tạng. Càn Long bèn thăng Hòa Thân từ một chân khiêng kiệu lên đến chức tổng quản trong cung.

Hòa Thân lanh lợi khéo léo, lời nói dễ nghe, làm việc mau mắn, tính nết hòa nhã rất là vừa ý Càn Long. Hễ Càn Long thích cô gái nào là Hòa Thân tìm mọi giá để đưa dâng Hoàng thượng. Hầu như ngày nào không gặp được Hòa Thân là Càn Long không chịu được, sự sủng ái thậm chí còn hơn cả Hán Ai Đế đối với Đổng Hiền xưa. Hoàng đế Càn Long là người tôn sùng Phật giáo, rất tin vào thuyết sinh tử luân hồi, muốn thi ân bố đức Hòa Thân để báo đáp nàng phi trong tiền kiếp. Tựa hồ Càn Long nghĩ rằng sủng ái Hòa Thân một phần sẽ giảm nhẹ nỗi bi thương với nàng phi ngày xưa được một phần. Hòa Thân từ một Thị vệ được Càn Long đưa lên làm Hộ bộ Thị lang, một nơi rất dễ kiếm tiền. Hòa Thân ham thích châu báu, vơ vét của dân, càng lúc càng lộng hành không lâu sau bị các Quan ngự sử liên tiếp dâng sớ hạch tội nhưng Càn Long chỉ để ngoài tai. Ngay Hoàng thái tử Vĩnh Diễm, Quan ngự sử Tiền Phong, đại thần Lưu Dung nhiều lần hợp lực chặn đứng thế lực Hòa Thân nhưng đều bị Hòa Thân hóa giải.

Sự ưu ái của Càn Long Đế dành cho Hoà ThânSửa đổi

Trong hơn 20 năm, Hòa Thân được thăng chức 47 lần. Cả đời Hòa Thân từng giữ và kiêm nhiệm đến hơn 6 chức quan trọng yếu. “Sở văn lục” viết: “Đời Thanh Cao Tông Càn Long Hoà Thân làm quan, quyền thế khuynh đảo thiên hạ. Kết bè kết đảng, đi lệch chính đạo mà kẻ sĩ trong triều chẳng dám ngăn trở”.

Khi Hòa Thân được thăng lên đến chức Quân cơ đại thần, được phong tước Văn Hoa điện Đại học sĩ, hàm Nhất đẳng công, thì em trai là Hòa Lâm cũng thăng quan tiến chức như diều gặp gió, được phong Binh bộ Thị lang rồi Công bộ Thượng thư, được Càn Long chọn làm thầy của Phúc Khang An.

Trong mắt mọi người, gia đình Hòa Thân đúng là một nhà với Hoàng đế Càn Long. Bởi vậy mà hầu hết đại thần trong triều là phe cánh của y. Của cải chứa trong nhà Hòa Thân còn nhiều hơn trong Hoàng cung, nhiều gia nô của họ Hòa cũng mặc sức hoành hành, không ai dám nói.

Gia ân của Càn Long Đế dành cho đại gian thần Hoà ThânSửa đổi

Có giả thuyết cho rằng: Càn Long đế dù biết Hoà Thân là đại tham quan nhưng vẫn làm ngơ xem như không biết mặc cho y ra sức vơ vét quốc khố, mua quan bán tước, khuynh đảo chính trường, để đến thời Gia Khánh Đế truy thu lại toàn bộ số của cải của y sung vào quốc khố.

Dù vậy Càn Long vẫn không quên toan tính cho đứa con độc nhất của sủng thần là Phong Thân Ân Đức, Càn Long đã đem Thập Công chúa, đứa con gái út mà Càn Long yêu mến nhất (tức Cố Luân Hòa Hiếu Công chúa) gả cho con trai Hòa Thân với mục đích giữ lại huyết mạch cho y. Về sau đến tháng 1 năm Gia Khánh thứ 4 (tức tháng 2 năm 1799), Thái Thượng hoàng Càn Long băng hà, không lâu sau Gia Khánh Đế đã bãi nhiệm và tống giam Hoà Thân, sau 1 thời gian xét xử, thẩm vấn đến ngày 22/2/1799, Hoà Thân được ban cho tự vẫn. Còn về con trai y và gia quyến đều được thả mạng, hơn thế nữa vì nể tình của Cố Luân Hòa Hiếu Công chúa, Gia Khánh Đế chẳng những đã giữ lại tính mạng cho Phong Thân Ân Đức, mà còn bảo lưu chức vị Ngạch phò cho y. Về sau vì lo cho hạnh phúc cả đời của em gái, nhà vua đã quyết định ban con của Phong Thân Ân Đức là Phúc Ân làm con thừa tự cho Công chúa. Đây âu cũng chính là gia ân cuối cùng của Càn Long đế dành cho sủng thần của mình vậy.

Lăng mộSửa đổi

 
Tranh vẽ Càn Long cưỡi ngựa.

Càn Long cho khởi công xây cất Dụ lăng làm nơi an nghỉ ngàn thu của mình từ năm Càn Long thứ 8 (1743) tới năm Càn Long thứ 17 (1752) thì hoàn công. Trong địa cung chôn cất 6 người, ngoài Càn Long Đế còn có nhị vị Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu và Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu, cùng 3 vị Triết Mẫn, Tuệ Hiền và Thục Gia Hoàng quý phi. Vì vậy, Dụ Lăng có địa cung hợp táng nhiều người nhất trong số các hoàng lăng của nhà Thanh.

Năm 1928, quân phiệt Tôn Điện Anh đã đem quân vào khu vực lăng tẩm nhà ThanhHà Bắc, quật mộ của Càn Long và Từ Hy Thái hậu. Chỉ có lăng của Khang Hy là còn toàn vẹn, vì khi bẫy mở được cửa lăng thì một khối nước màu vàng từ bên trong tuôn tràn ra rất mạnh, quân sĩ sợ hãi quá phải bỏ chạy.

Bên trong mộ của các vua chúa này được xây cất như sau:

Đường hầm dẫn vào những ngôi mộ của họ lát đá hoa trắng, xuyên qua bốn cái cổng được chạm trổ rất công phu bằng đá. Nơi để quan tài yên nghỉ của họ là một khuôn hình bát giác, trên vòm trần khắc chín con rồng bằng vàng lóng lánh. Khu vực yên nghỉ khá rộng, lớn bằng điện Trung Hoà trong Tử Cấm Thành. Càn Long Đế được chôn trong hai lần quan tài. Quan tài bên trong và bên ngoài được làm bằng một loại gỗ đặc biệt quý. Những báu vật trong hai ngôi mộ này gồm rất nhiều ngọc ngà châu báu cực kỳ quý giá và đắt tiền, ngoài ra còn có những hoạ phẩm, kiếm báu, sách quý, ngà voi và các tượng Phật. Các đồ quý làm bằng lụa và gấm thì chỉ một thời gian là bị mục rã.

Sau khi bị khai quật, đồ tuỳ táng của Dụ lăng bị thất thoát nghiêm trọng, thi cốt của Hoàng đế và hậu phi cũng hoàn toàn nhiễu loạn, tứ tán trên mặt đất. Tin các lăng tẩm của Càn Long Đế và Từ Hi Thái hậu bị khai quật để lấy của đã gây chấn động và căm phẫn sâu sắc cho Phổ Nghi và các thành viên Hoàng tộc, cựu thần nhà Thanh. Về sau Phổ Nghi cho người đi thu thập di hài cũng chỉ tìm được vài phần, miễn cưỡng đem Đế - Hậu hợp táng vào một cỗ.

Dụ lăng phi viên tẩmSửa đổi

Bài chi tiết: Dụ lăng

Phi viên tẩm là nơi mang táng phi tần của Càn Long, được bố trí ở phía Tây Dụ lăng. Phi viên tẩm bắt đầu xây dựng năm Càn Long thứ 10 (1745), hoàn thành năm thứ 12 (1747). Đến năm thứ 17 (1752) trải qua một lần đại tu. Năm Càn Long thứ 25 (1760), nhân dịp Thuần Huệ Hoàng quý phi nhập táng, phi viên tẩm lại được trùng tu một lần nữa.

Gia quyếnSửa đổi

Hoàng hậu[14]Sửa đổi

Tên Chân dung Sinh mất Cha Ghi chú
Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu
Phú Sát thị
  28 tháng 3 năm 1712
8 tháng 4 năm 1748
(36 tuổi)
Lý Vinh Bảo
(李榮保)
Xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, Đích Phúc tấn của Càn Long Đế khi còn ở Tiềm để.

Tấn lập làm Hoàng hậu năm 1737, sau khi Càn Long lên ngôi.

Sinh 2 Hoàng tử và 2 hoàng nữ

Kế Hoàng hậu
Na Lạp thị
  11 tháng 3 năm 1718
14 tháng 7 năm 1766
(48 tuổi)
Na Nhĩ Bố
(那爾布)
Xuất thân Mãn Châu Chính Lam kỳ, Trắc Phúc tấn của Càn Long Đế khi ở Tiềm để. 

Sơ phong Nhàn phi (嫻妃), dần đến Quý phi rồi Hoàng quý phi. Trước khi trở thành Hoàng hậu, bà thống lĩnh lục cung với danh hiệu độc nhất [Nhiếp lục cung sự Hoàng quý phi; 攝六宮事皇貴妃]. 

Lập làm Hoàng hậu vào năm 1750. Sinh 2 Hoàng tử và 1 Hoàng nữ.

Qua đời không có thụy hiệu, án theo lễ Hoàng quý phi mà an táng.

Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
Ngụy Giai thị
  23 Tháng 10, 1727
28 tháng 2 năm 1775
(48 tuổi)
Ngụy Thanh Thái
(魏清泰)
Xuất thân Bao y trực thuộc Nội vụ phủ.

Được Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu tiến cử. Từ phong vị Quý nhân, tấn thăng Lệnh phi (令妃), dần trở thành Hoàng quý phi.

Sinh 4 Hoàng tử và 2 Hoàng nữ.

Khi mất, có thụy hiệu [Lệnh Ý Hoàng quý phi]. Sau khi con trai là Gia Khánh Đế được chọn làm Trữ quân, bà được Càn Long Đế truy phong [Hiếu Nghi Hoàng hậu] sau khi ông nhường ngôi cho Gia Khánh Đế để lên làm Thái thượng hoàng.

Phi tầnSửa đổi

Tên Sinh Mất Cha Ghi chú
Hoàng quý phi
Tuệ Hiền Hoàng quý phi
Cao Giai thị
1711 25 tháng 2 năm 1745 Cao Bân (高斌) Xuất thân Tương Hoàng kỳ Bao y; Trắc Phúc tấn khi còn ở Tiềm để.

Sơ phong Quý phi. Thăng Hoàng quý phi năm 1745, mất sau đó 2 ngày.

Không con.

Triết Mẫn Hoàng quý phi
Phú Sát thị
? 20 tháng 8 năm 1735 Ông Quả Đồ (翁果圖) Xuất thân Chính Hoàng kỳ Bao y; là Cách cách khi Càn Long còn là Thân vương.

Mất trước khi Càn Long Đế đăng cơ, tặng Triết phi (哲妃; 1736); sau truy phong lên Hoàng quý phi (1745).

Sinh 1 Hoàng tử và 1 Hoàng nữ.

Thuần Huệ Hoàng quý phi
Tô thị
13 tháng 6 năm 1713 2 tháng 6 năm 1760 Tô Triệu Nam (蘇召南) Là Cách cách khi Càn Long còn là Thân vương.

Sơ phong Thuần tần (純嬪),đến Thuần phi, rồi thăng đến Thuần Quý phi (純貴妃; 1745). Sách phong lên Hoàng quý phi rồi qua đời năm 1760.

Sinh 2 Hoàng tử và 1 Hoàng nữ.

Thục Gia Hoàng quý phi
Kim Giai thị
1713 15 tháng 11 năm 1755 Kim Tam Bảo (金三寶) Tổ tiên gốc Triều Tiên, phân [Cao Ly Tá lĩnh], giai cấp Bao y. Nhập phủ làm Cách cách khi Càn Long còn là Thân vương.

Sơ phong Quý nhân; dần thăng tới Gia Quý phi (嘉貴妃) (1748).

Sau khi qua đời, được truy phong Hoàng quý phi.

Sinh hạ 4 Hoàng tử.

Khánh Cung Hoàng quý phi
Lục thị
12 tháng 8 năm 1724 21 tháng 8 năm 1774 Lục Sĩ Long (陆士隆). Bà là người Hán. Được quan viên địa phương tiến cử.

Năm 1748, phong Thường tại, dần phong tới Khánh Quý phi (慶貴妃; 1768).

Không con. Được ban cho nuôi nấng thập ngũ a ca Vĩnh Diễm tức Gia Khánh Đế, sau truy phong Hoàng quý phi.

Quý phi
Du Quý phi
Kha Lý Diệp Đặc thị
15 tháng 6 năm 1714 9 tháng 7 năm 1792 Ngoại lang Ngạch Nhĩ Cát Đồ (额尔吉图). Xuất thân Mông Cổ Tương Lam kỳ; là Cách cách khi Càn Long còn là Thân vương.

Sơ phong Thường tại; sau đó đến Quý nhân, dần thăng tới Du phi (愉妃; 1745).

Truy phong Quý phi khi qua đời. Sinh 1 Hoàng tử.

Uyển Quý phi
Trần thị
20 tháng 12 năm 1716 10 tháng 3 năm 1807 Trần Đình Chương (陳廷章) Là Cách cách khi Càn Long còn là Thân vương. 

Sơ phong là Thường tại; dần thăng tới Uyển phi (婉妃; 1794); 

Gia Khánh Đế tôn bà là Uyển Quý Thái phi (婉貴太妃; 1801). Không con.

Dĩnh Quý phi
Ba Lâm thị
1731 19 tháng 2, năm 1800 Nạp Thân (納親) Xuất thân Mông Cổ Tương Hồng kỳ.

Nhập cung sơ phong Thường tại; dần thăng tới Dĩnh Quý phi (1798).

Không con.Được ban cho nuôi em trai Gia Khánh là Vĩnh Lân.

Hãn Quý phi
Đới Giai thị
? 29 tháng 4, năm 1764 Na Tô Đồ (那蘇圖) Xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ.

Nhập cung sơ phong Hãn tần (忻嬪; 1753); tấn phong Hãn phi (忻妃; 1763).

Qua đời khi đang mang thai, được táng theo nghi lễ Quý phi. Phi tần đầu tiên thời Càn Long hưởng lễ Quý phi hạ táng.

Sinh 2 Hoàng nữ.

Tuần Quý phi
Y Nhĩ Căn Giác La thị
18 tháng 11 năm 1758 11 tháng 9 năm 1797 Tổng đốc Quế Lâm Xuất thân Mãn Châu Tương Lam Kỳ.

Tham gia Bát Kỳ tuyển tú, chỉ định làm Quý nhân, nhưng khi định ngày nhập cung lại tấn phong Tuần tần (循嬪; 1776). Sau thăng Tuần phi (循妃; 1794).

Không con.

Phi
Thư phi
Diệp Hách Lặc thị
1 tháng 6 năm 1728 30 tháng 5 năm 1777 Nạp Lan Vĩnh Thụy
(納蘭永綬)
Xuất thân Mãn Châu Chính Hoàng kỳ

Nhập cung sơ phong Quý nhân (1741), sau đó thăng Thư tần, dần tăng tới Thư phi (舒妃; 1749).

Sinh Hoàng thập tử. Được ban cho nuôi nấng Hòa Thạc Hòa Khác công chúa.

Dự phi
Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị
15 tháng 12 năm 1730 26 tháng 10 năm 1774 Căn Đôn (根敦) Xuất thân Mông Cổ. Cha Căn Đôn là Tể tang của bộ tộc Chuẩn Cát Lặc Tạp Đặc, vốn thuộc Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ, sau quy phụ Đại Thanh.

Nhập cung sơ phong Quan nữ tử, đặc phong Đa Quý nhân (多貴人; 1758); dần thăng tới Dự phi (1763).

Từng mang thai mà sinh non. Được cho là nuôi dưỡng Cố Luân Hòa Tĩnh công chúa.

Dung phi
Hoắc Trác thị
15 tháng 9 năm 1734 24 tháng 5 năm 1788 Hoà Trác Mộc (和卓木) Người Duy Ngô Nhĩ. Cùng anh trai Đồ Nhĩ Đô nhập Bắc Kinh, do đó Hòa Trác thị được dâng lên cho Càn Long làm phi.

Nhập cung làm Quý nhân (1760); dần thăng tới Dung phi (1768). Từ khi nhập cung, Hòa Trác thị [luôn có mặt] trong các chuyến du tuần của Càn Long Đế.

Không con. Rất yêu thích Cố Luân Hòa Hiếu công chúa.

Tấn phi
Phú Sát thị
? 8 tháng 12 năm 1822 Đức Khắc Tinh Ngạch (德克精额) Xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, là tộc nhân của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu.

Năm Gia Khánh thứ 3, tham dự Bát Kỳ tuyển tú, bị chỉ định vào hầu Càn Long, khi ấy đã là Thái thượng hoàng. Đạt được vị trí Tấn Quý nhân (晉貴人).

Thời Đạo Quang, tôn vị Hoàng tổ Tấn phi (皇祖晉妃). Không con.

Đôn phi
Uông thị
27 tháng 3,1746 6 tháng 3 năm 1806 Tứ Cách (四格) Xuất thân Chính Bạch kỳ Bao y.

Được phong Vĩnh Thường tại (永常在; 1764), dần thăng tới Đôn phi (1774). 

Giáng lại Đôn tần vào năm 1778 vì tội đánh chết cung nữ; sau khôi phục Đôn phi vào năm 1780.

Sinh Hoàng thập nữ, Cố Luân Hòa Hiếu Công chúa.

Phương phi
Trần thị
? 13 tháng 8 năm 1801 Trần Đình Luân (陳廷綸) Xuất thân dân thường ở Dương Châu, được quan viên địa phương tiến cử.

Nhập cung làm Minh Thường tại (明常在; 1766); dần thăng tới Phương tần (芳嬪; 1794).

Dưới triều Gia Khánh, bà được tôn làm Thái thượng hoàng Phương phi (太上皇芳妃).

Tần
Nghi tần Hoàng thị ? 1737 Mang Mẫn (戴敏) Cách cách của Càn Long khi còn là Thân vương. 

Thăng Tần vào năm 1735. Qua đời truy phong Nghi tần.

Di tần Bách thị ? 1757 Bách Sĩ Thái (柏士彩) Sơ phong Quý nhân.

Tấn phong Di tần (怡嫔) năm 1742.

Tuân tần Hoắc Thạc Đặc thị ? 26 tháng 8 năm 1761 Đài cát Ô Ba Thập (乌巴什) Người Mông Cổ. Nhưng sách văn phiên thành họ Quách.

Sơ phong Quách Thường tại (郭常在) năm 1759, 1 năm sau thăng Quý nhân.

Hạ táng truy phong Tuân tần.

Cung tần Lâm thị  ? 27 tháng 11 năm 1805 Bái Đường a Phật Âm (佛音) Xuất thân Tương Hoàng kỳ Bao y.[15]

Sơ phong Lâm Thường tại (林常在; 1748); dần thăng tới Cung tần (恭嬪; 1794).

Thận tần Bái Nhĩ Cát Tư thị ? 4 tháng 6 năm 1765 Đức Mục Tề Tắc Âm Sát Khắc (德穆齊塞音察克), Người Mông Cổ.

Sơ phong Y Quý nhân (伊貴人) (1759); Tấn thăng Thận tần (慎嬪) năm 1762.

Thành tần Nữu Hỗ Lộc thị ? 11 tháng 4 năm 1784 Nhị đẳng Thị vệ Tá lĩnh Mục Khắc Đăng (穆克登) Sơ phong Quý nhân, thăng thành Lan Quý nhân (蘭貴人) (1757); Tấn lập Thành tần (誠嬪) năm 1776.

Bà chết đuối trong lần du hành xuống phương Nam cùng với Càn Long.[16]

Các ngự thiếp khác
Thuận Quý nhân Nữu Hỗ Lộc thị 

(順貴人鈕祜祿氏)

1748 1788 Tổng đốc Ái Tất Đạt (愛必達) Nhập cung phong Thường Quý nhân (常貴人) (1766); dần thăng tới Thuận phi (順妃) (1779).

Giáng xuống Quý nhân năm 1788.

Thuỵ Quý nhân
Tác Xước Lạc thị

(瑞貴人索綽絡氏)

? 1765 Lễ bộ Thượng thư Đức Bảo (德保; 1719-1789) Sơ phong Thụy Thường tại (瑞常在) (1759); Thăng Quý nhân năm 1760.
Ngạc Quý nhân
Tây Lâm Giác La thị 

(鄂貴人西林覺羅氏)

? 1808 Tổng đốc Ngạc Lạc Thuấn (鄂樂舜) Nhập cung sơ phong Ngạc Thường tại (鄂常在) (1750); Thăng Quý nhân năm 1794.

Gia Khánh tôn Ngạc Thái Quý nhân.

Bạch Quý nhân Bách thị

(白貴人柏氏)

? 1805 Bách Sĩ Thái (柏士彩) Em gái của Di tần

Sơ phong Bạch Thường tại (白常在) (1750); Thăng Quý nhân năm 1794. Gia Khánh tôn Bạch Thái Quý nhân.

Lộc Quý nhân Lục thị

(祿貴人陸氏)

? 1788 không rõ Người Hán, gốc Tô Châu; 

Sơ phong Lộc Thường tại (祿常在) (1760); Thăng Quý nhân năm 1775.

Thọ Quý nhân Bách thị

(壽貴人柏氏)

? 1809 Sơ phong Na Thường tại (那常在) (1764); Giáng chức Na Đáp ứng (那答應); dần thăng tới Thọ Quý nhân năm 1794.
Tân Quý nhân Tăng thị

(新貴人曾氏)

? 1775 không rõ Sơ phong Tân Thường tại (新常在) (1762); Thăng Quý nhân không lâu sau.
Thận Quý nhân Vũ thị

(慎貴人武氏)

? 1777 không rõ Thăng Quý nhân năm 1764.
Phúc Quý nhân

(福貴人)

? 1764 không rõ Sơ phong Phúc Thường tại (福常在) (1763); Thăng Quý nhân năm 1764.
Kim Quý nhân Kim thị

(金貴人金氏)

? 1778 không rõ Sơ phong Kim Thường tại (武常在) (1764); Thăng Quý nhân năm 1777.
Võ Quý nhân Võ thị

(武貴人武氏)

? 1781 không rõ Sơ phong Võ Thường tại (武常在) (1764); Thăng Quý nhân năm 1780.
Tú Quý nhân

(秀貴人)

? 1745 không rõ không rõ danh tính
Quỹ Thường tại

(揆常在)

1757 không rõ danh tính
Ninh Thường tại[17]

(寧常在)

? 1781 Thăng Ninh Thường tại (寧常在; 1764)
Bình Thường tại[18]

(平常在)

1778 Thăng Bình thường tại (平常在; 1769)
Trương Thường tại Trương thị[19]

(張常在張氏)

1745 Nhập cung năm (1736)

Thăng Trương Thường tại (張常在; 1738)

Tường Đáp ứng[20]

(祥答应)

1774 không rõ Nhập cung sơ phong Tường Thường tại (祥常在; 1755)[21]

Dần thăng Tường Quý nhân (祥贵人; 1761).

Vì bị thất sủng nên giáng xuống làm Tường Đáp ứng (祥答应; 1765)

Na Đáp ứng[22]

(那答應)

1789 Ban đầu là quan nữ tử (官女子)

Tấn phong Na Thường tại (那常在; 1765)

Bị giáng xuống Na Đáp ứng (那答應; 1776). Rất có thể bà và Thọ Quý nhân là cùng một người.

Hậu duệSửa đổi

# Danh hiệu Tên Sinh Mất Mẹ Ghi chú
Hoàng tử
1 Định An Thân vương
(定安親王)
Vĩnh Hoàng 5 tháng 7 năm 1728 21 tháng 4 năm 1750 Triết Mẫn Hoàng quý phi Năm Càn Long thứ 13 (1748), trong đại tang Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu, bất kính trước linh cữu, bị trách phạt và truất tư cách kế vị.

Bạo bệnh mà chết. Tặng Định An Thân vương.

2 Đoan Tuệ Hoàng thái tử
(端慧皇太子)
Vĩnh Liễn 9 tháng 8 năm 1730 23 tháng 11 năm 1738 Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu Được Càn Long Đế yêu quý nhưng chết chỉ vừa 8 tuổi, truy phong Đoan Tuệ Thái tử.
3 Tuần Quận vương
(循郡王)
Vĩnh Chương 15 tháng 7 năm 1735 26 tháng 8 năm 1760 Thuần Huệ Hoàng quý phi Cùng với Vĩnh Hoàng bị Càn Long Đế quở trách trong tang lễ Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu.
4 Lý Đoan Thân vương
(履端親王)
Vĩnh Thành 21 tháng 2 năm 1739 5 tháng 4 năm 1777 Thục Gia Hoàng quý phi Năm Càn Long thứ 28, được chỉ định làm con thờ tự của Lý Ý Thân vương Dận Đào, con trai thứ 12 của Thanh Thánh Tổ.
5 Vinh Thuần Thân vương
(榮純親王)
Vĩnh Kỳ 23 tháng 3 năm 1741 16 tháng 4 năm 1766 Du Quý phi Hoàng tử tài giỏi nhất của Càn Long Đế, tuổi trẻ sớm được phong Thân vương, nhưng mất sớm.
6 Chất Trang Thân vương
(質莊親王)
Vĩnh Dung 28 tháng 1 năm 1744 13 tháng 6 năm 1790 Thuần Huệ Hoàng quý phi Năm Càn Long thứ 24, được chỉ định làm con thờ tự của Thận Tĩnh Quận vương Dận Hi, con trai thứ 21 của Thanh Thánh Tổ.
7 Triết Thân vương
(哲親王)
Vĩnh Tông 27 tháng 5 năm 1746 29 tháng 1 năm 1747 Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu Sinh ra vào ngày Phật đản, rất được Càn Long Đế yêu quý, tên Vĩnh Tông ngầm ý muốn để Hoàng tử làm người kế vị. Không lâu sau, bị đậu mùa mà chết.
8 Nghi Thận Thân vương
(儀慎親王)
Vĩnh Tuyền 31 tháng 8 năm 1746 1 tháng 9 năm 1832 Thục Gia Hoàng quý phi Ông được đánh giá là một người ham mê tửu sắc, chân lại có tật, vì vậy ông không thích hợp ở ngôi Thái tử theo lời của Càn Long Đế. Hoàng tử sống lâu nhất của nhà Thanh.
9 Hoàng cửu tử 2 tháng 8 năm 1748 11 tháng 6 năm 1749 Thục Gia Hoàng quý phi Chết yểu.
10 Hoàng thập tử 12 tháng 6 năm 1751 7 tháng 7 năm 1753 Thư phi Chết yểu.
11 Thành Triết Thân vương
(成哲親王)
Vĩnh Tinh 22 tháng 3 năm 1752 10 tháng 5 năm 1823 Thục Gia Hoàng quý phi Giỏi thư pháp, được liệt vào Tứ đại thư pháp thời bấy giờ.

Tính tình keo kiệt, bủn xỉn nên không được Càn Long Đế yêu quý.

12 Bối lặc
(貝勒)
Vĩnh Cơ 7 tháng 6 năm 1752 17 tháng 3 năm 1776 Kế Hoàng hậu Là con đích xuất, nhưng không được coi trọng, chỉ có danh xưng Bối lặc.
13 Vĩnh Cảnh 2 tháng 1 năm 1756 7 tháng 9 năm 1757 Kế Hoàng hậu Chết yểu.
14 Vĩnh Lộ 31 tháng 8 năm 1757 3 tháng 5 năm 1760 Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Chết yểu.
15 Nhân Tông Duệ Hoàng đế Vĩnh Diễm 13 tháng 11 năm 1760 2 tháng 9 năm 1820 Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Kế vị, tức Gia Khánh Đế.
16 Hoàng thập lục tử 13 tháng 1 năm 1763 6 tháng 5 năm 1765 Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Chết yểu.
17 Khánh Hy Thân vương
(慶僖親王)
Vĩnh Lân 17 tháng 6 năm 1766 25 tháng 4 năm 1820 Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Theo sử sách, mỗi ngày ông đều gây rắc rối trong cung khiến Càn Long Đế vô cùng chán ghét.

Sau khi Hòa Thân chết, ông được anh trai là Gia Khánh Đế ban cho Cung Vương phủ, phủ đệ của Hòa Thân.

Hoàng nữ
1 Hoàng trưởng nữ 33 tháng 11 năm 1728 14 tháng 12 năm 1729 Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu Chết yểu.
2 Hoàng nhị nữ 1731 1731 Triết Mẫn Hoàng quý phi Chết yểu.
3 Cố Luân Hòa Kính Công chúa
(固倫和敬公主)
Nại Nhật Lặc Thổ Hạ Kỳ Dương Quý 28 tháng 6 năm 1731 15 tháng 8 năm 1792 Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu Bà là người con gái đích xuất duy nhất còn sống tới khi trưởng thành của Càn Long Đế.

Hạ giá lấy Sắc Bố Đằng Ba Lạc Châu Nhĩ của Khoa Nhĩ Thấm.

4 Hòa Thạc Hòa Gia Công chúa
(固倫和敬公主)
Hoàng tứ nữ 24 tháng 12 năm 1745 29 tháng 10 năm 1767 Thuần Huệ Hoàng quý phi Hạ giá lấy con trai của Đại học sĩ Phó HằngPhúc Khang An.
5 Hoàng ngũ nữ 23 tháng 7 năm 1753 1 tháng 6 năm 1755 Kế Hoàng hậu Chết yểu.
6 Hoàng lục nữ 24 tháng 8 năm 1755 27 tháng 9 năm 1758 Hãn Quý phi Chết yểu.
7 Cố Luân Hòa Tĩnh Công chúa
(固倫和靜公主)
Hoàng thất nữ 10 tháng 8 năm 1756 9 tháng 2 năm 1775 Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Hạ giá lấy vương công Mông Cổ Lạp Vượng Đa Nhĩ Tể, cháu của Siêu Dũng Thân vương Sách Lăng.
8 Hoàng bát nữ 16 tháng 1 năm 1758 17 tháng 6 năm 1767 Hãn Quý phi Chết yểu.
9 Hoà Thạc Hoà Khác Công chúa
(和碩和恪公主)
Hoàng cửu nữ 17 tháng 8 năm 1758 14 tháng 4 năm 1780 Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Hạ giá lấy Trát Lan Thái, là con trai của Nhất đẳng Vũ nghị Mưu Dũng công Triệu Huệ.
10 Cố Luân Hoà Hiếu Công chúa
(固倫和孝公主)
Hoàng thập nữ 2 tháng 2 năm 1775 13 tháng 10 năm 1823 Đôn phi Tuy chỉ là con gái do phi tần sinh ra nhưng có danh hiệu Cố Luân Công chúa (con gái do Hoàng hậu hạ sinh), là Công chúa được Càn Long Đế sủng ái nhất. Hạ giá lấy Phong Thân Ân Đức, con trai của tham quan Hòa Thân.
Nghĩa nữ
1 Hòa Thạc Hòa Uyển Công chúa
(和硕和婉公主)
24 tháng 7 năm 1734 2 tháng 5 năm 1760 Hoằng Trú (cha sinh)
Phúc tấn Ô Trát Khố thị (mẹ sinh)
Con gái của Hòa Cung Thân vương Hoằng Trú, em trai Càn Long Đế. Hạ giá lấy Ba Lâm Bắc Nhĩ Tế Cát Đặc thị Vương công Đức Lặc Khắc.

Trong văn hoá đại chúngSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 清史稿·卷十·高宗本纪一》:世宗第四子,母孝圣宪皇后,康熙五十年八月十三日生於雍亲王府邸。
  2. ^ 罗庆泗,唐文基.《乾隆传》.北京:人民出版社,1994
  3. ^ 杨启樵.《揭开雍正皇帝隐秘的面纱》.香港:商务印书馆(香港)有限公司, 2000
  4. ^ 《清史稿·卷十·高宗本纪一》:隆准颀身,圣祖见而锺爱,令读书宫中,受学於庶吉士福敏,过目成诵。复学射於贝勒允禧,学火器於庄亲王允禄。木兰从狝,命侍卫引射熊。甫上马,熊突起。上控辔自若。圣祖御枪殪熊。入武帐,顾语温惠皇太妃曰:“是命贵重,福将过予。
  5. ^ 王先谦:《东华续录》乾隆一、雍正十三年十月己丑。
  6. ^ 《清史稿·卷十·高宗本纪一》:隆准颀身,圣祖见而锺爱,令读书宫中,受学於庶吉士福敏,过目成诵。复学射於贝勒允禧,学火器於庄亲王允禄。木兰从狝,命侍卫引射熊。甫上马,熊突起。上控辔自若。圣祖御枪殪熊。入武帐,顾语温惠皇太妃曰:“是命贵重,福将过予。”
  7. ^ 纪连海解读《甄嬛传》:弘时储位落空郁郁而终 .中国新闻网
  8. ^ 《清史稿·卷十·高宗本纪一》:雍正元年八月,世宗御乾清宫,密书上名,缄藏世祖所书正大光明扁额上。
  9. ^ 《清史稿·卷十·高宗本纪一》:(雍正)十三年八月丁亥,世宗不豫。时驻跸圆明园,上与和亲王弘昼朝夕谨侍。戊子,世宗疾大渐,召庄亲王允禄,果亲王允礼,大学士鄂尔泰、张廷玉,领侍卫内大臣丰盛额、讷亲,内大臣户部侍郎海望入受顾命。己丑,崩。王大臣请奉大行皇帝还宫。庄亲王允禄等启雍正元年立皇太子密封,宣诏即皇帝位。
  10. ^ Clarke 2004, tr. 37.
  11. ^ Perdue 2005, tr. 287.
  12. ^ Theo Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, trích dẫn từ Thánh vũ ký của Ngụy Nguyên đời Thanh
  13. ^ Spence, Jonathan (Winter 2003–2004). “Portrait of an Emperor, Qianlong: Ruler, Connoisseur, Scholar” (PDF). ICON Magazine / WMF (World Monuments Fund). tr. 24–30. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2011Bản mẫu:Inconsistent citations 
  14. ^ Draft history of the Qing dynasty, Consort files. 《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.
  15. ^ 出身之謎 编辑 林氏出身存疑,一說為內務府鑲黃旗化齊管領下的另戶旗人 [6],惟與慶恭皇貴妃、怡嬪入旗一例不同,並非入於內務府佐領下,有明顯差別。此外,乾隆五十八年曾有一份漢女嬪妃入旗清單,林氏並沒有在當中,可見其並非民藉出身。《內務府奏銷檔》所載之「林貴」入旗,並非「林貴人」。據考證,林貴為南府學藝太監,因表現出色而抬旗。
  16. ^ "乾隆四十九年四月十一日,誠嬪不慎落水溺亡于南巡迴鑾的途中. 清末野史传说乾隆帝下江南时将孝贤皇后推进水里淹死"
  17. ^ 寧常在某氏(?—1781年),生辰为十一月十四日,无子女。乾隆二十八年十月廿五日初封宁常在,曾随驾南巡。乾隆四十六年十二月之前薨,十二月初二日收遗物。乾隆四十九年九月初八日与诚嫔、慎贵人一同葬入裕陵妃园寝。據《撥用行文底檔》顯示,隨行常在的肉食供給份例中有一位是給羊肉。祿常在和明常在分別是苏州人,揚州人,而新常在有資料證實是吃豬肉的,因此寧常在很大機會是維吾爾族人或回子包衣出身。
  18. ^ 平常在某氏(?—1778年),无子女。生年不详,生辰为七月十二日。乾隆三十三年五月二十一日,慶妃下學規距女子封平常在。乾隆四十三年九月之前薨;九月初九与金贵人葬入裕陵妃园寝。
  19. ^ 張常在張氏(?—1745年),无子女。乾隆元年正月,據完整版《食肉底帳》顯示,已入宮並封為常在,非為藩邸出身。乾隆二年除夕已為裕常在。乾隆十年十月十八日薨。乾隆十一年十月廿七日首批葬入裕陵妃园寝。
  20. ^ 祥答应某氏,乾隆十八年七月十五日進宮為祥貴人。乾隆二十四年四月初九日,祥常在封祥貴人,但祥貴人不見於乾隆二十五年六月十八日的《赏赐底簿》,可能已降位或失寵。乾隆二十五年七月已為祥貴人。乾隆二十九年十一月二十七日,收其貴人物品,或於此日降為祥答應。乾隆三十八年三月二十八日病故。
  21. ^ 《宮中檔》 乾隆十八年七月十五日,祥貴人進宮恩賜金十五兩,銀二百兩,另有物。乾隆二十二年五月十六日,祥貴人生辰,恩賜銀一百五十兩
  22. ^ 那答應某氏,乾隆二十九年三月二十二日,愉妃下學規距女子一人封那常在,與乾隆十三年出現的那貴人並非同一人;乾隆四十年四月二十五日,那常在貶那答应,冬日例黑炭,炕柴。夏日例黑炭全部止退。乾隆五十三年三月十六日,那答應宮女五妞受責後投井至死;四月初四日敬事房收其物品,乾隆六十一年十二月的檔案未沒有「那答應」或「那常在」的記載,某氏下落不明,並未與其他后妃一同晉位。未知壽貴人與那答應是否為同一人。

Liên kết ngoàiSửa đổi