Mở trình đơn chính

Thuận Quý nhân Nữu Hỗ Lộc thị (chữ Hán: 順貴人鈕祜祿氏; 1748 - 1788) là phi tần của Thanh Cao Tông Càn Long Hoàng đế.

Thanh Cao Tông Thuận Quý nhân
清高宗順貴人
Càn Long Đế Quý nhân
The Qing Dynasty Consort Niuhuru.JPG
Thông tin chung
Phối ngẫuThanh Cao Tông
Càn Long Hoàng đế
Tước hiệu[Thường Quý nhân; 常貴人]
[Thuận tần; 順嬪]
[Thuận phi; 順妃]
[Thuận Quý nhân; 順貴人]
Thân phụÁi Tất Đạt
Sinh1748
Mất1788 (39–40 tuổi)
An táng18 tháng 12 năm 1790
Phi viên tẩm của Dụ lăng, Thanh Đông lăng

Cuộc đờiSửa đổi

Xuất thânSửa đổi

Thuận Quý nhân sinh ngày 25 tháng 11 (âm lịch) năm Càn Long thứ 12 (1748), xuất thân thuộc gia tộc Nữu Hỗ Lộc của Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, dòng dõi Hoằng Nghị công Ngạch Diệc Đô. Gia tộc của bà hết sức tôn quý, Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu của Khang Hi Đế là cô tổ mẫu của bà. Bà có một cháu gái trong họ cũng là phi tần của Càn Long Đế, tức Thành tần.

Tổ phụ Doãn Đức (尹德), là con trai thứ tư của Thái sư Nhất đẳng Công Át Tất Long, đại thần phụ chính thời Thanh Thánh Tổ Khang Hi Hoàng đế. Sau khi Át Tất Long qua đời, Doãn Đức tiếp tục vào triều làm quan, thụ Tá lĩnh thụ Thị vệ (佐領授侍衛) tùy Khang Hi Đế chinh phạt Cát Nhĩ Đan, rồi từ Đô thống thăng lên Thị vệ Nội đại thần (侍衛內大臣), kiêm Nghị chính đại thần (議政大臣)[1], rồi lại kế tục tước vị [Quả Nghị công; 果毅公] của dòng dõi sau khi người cháu trực hệ đại tông là A Nhĩ Tùng A bị trách cứ tước vị[2]. Doãn Đức qua đời vào năm Ung Chính, do có danh vọng nên Doãn Đức được ân thưởng rất hậu hĩnh, có tiếng là hiền thần, được vào Hiền Lương từ (賢良祠), truy phong Nhất đẳng công tước.

Thân phụ Ái Tất Đạt (愛必達) - con trai của Doãn Đức tiếp tục làm quan, vào năm Càn Long thứ 26 (1761) tiếp nhận Tổng đốc Hồ Quảng, sau làm Tổng đốc Hà Đạo, Tuần phủ hai xứ Chiết GiangQuý Châu. Bên cạnh đó, trong nhà bà còn có bá phụ Sách Lăng (策楞) cùng thúc phụ Nột Thân (訥親), đều là danh quan thời Càn Long.

Đại Thanh tần phiSửa đổi

Năm Càn Long thứ 31 (1766), ngày 26 tháng 6 (âm lịch), Nữu Hỗ Lộc thị khi 18 tuổi nhập cung, hiệu Thường Quý nhân (常貴人)[3]. Năm Càn Long thứ 33 (1768), Nữu Hỗ Lộc thị được thăng lên là Thuận tần (順嬪)[4][5].

Năm Càn Long thứ 41 (1776), bà được thăng lên Thuận phi (順妃). Theo [Thanh cung y án] ghi lại, Nữu Hỗ Lộc thị vào năm này mang thai, nhưng cuối cùng sinh non. Không rõ việc Nữu Hỗ Lộc thị được tấn làm Phi có liên quan gì hay không[6]. Buổi lễ thăng phong hiệu được diễn ra vào năm sau nhưng đã bị trì hoãn đến 2 năm do Sùng Khánh Hoàng thái hậu băng hà.

Năm Càn Long thứ 44 (1779), ngày 1 tháng 2, Càn Long Đế ra chỉ dụ: ["Gian thị tẩm của Thuận phi tại Dưỡng Tâm điện nay cấp cho Đôn tần, chỗ của Đôn tần cấp cho Thuận phi. Minh Thường tại ở gian thứ trong chỗ của Thuận phi. Chỗ ở của Dung phi tại Viên Minh viên cấp cho Đôn tần, chỗ của Đôn tần chuyển cho Dung phi. Thuận phi đem Minh Thường tại trụ tại Vĩnh Thọ cung"; 養心殿順妃住處給惇嬪,惇嬪住處給順妃。明常在住順妃次間。圓明園容妃住處給惇嬪住,惇嬪住處給容妃。順妃帶明常在住永壽宮].

Cùng năm, ngày 8 tháng 10 (âm lịch), đồng loạt làm lễ tấn phong cho Thuận phi cùng Thành tầnTuần tần. Lấy Hiệp Bạn Đại học sĩ Anh Liêm (英廉) làm Chính sứ, Lễ bộ Thị lang A Túc (阿肅) làm Phó sứ, tiến hành lễ sắc phong cho Thuận phi[7].

Sách văn viết:

Bị phế và qua đờiSửa đổi

Năm Càn Long thứ 52 (1787), gặp sinh nhật của Thuận phi, trong vật ban thưởng dự định có thêm ngân nguyên bảo cửu, nhưng Càn Long Đế đột ngột bỏ đi, chỉ án theo lễ vật như bình thường, bỏ đi ngân nguyên bảo cửu[8].

Năm Càn Long thứ 53 (1788), ngày 9 tháng 1, Tổng quản Thái giám Vương Thừa Nghĩa (王承義) truyền chỉ: [Tương Thuận phi hàng vi Tần, kỳ Phi phân sách, ấn triệt xuất, giao Nội vụ phủ đại thần]. Sang ngày 25 tháng 1 lại truyền chỉ dụ tiếp: [Tương Thuận tần hàng vi Quý nhân, kỳ Tần phân sách, ấn triệt xuất, giao Nội vụ phủ đại thần]. Theo đó, Nữu Hỗ Lộc thị đã bị hạ bậc từ [Thuận phi] xuống thành [Quý nhân] mà không rõ lý do. Không rõ ngày bà qua đời, chỉ biết là cũng vào năm Càn Long thứ 53, cả Tinh nguyên cát khánh (星源吉慶) cùng Thanh hoàng thất tứ phổ (清皇室四譜) cũng không xác minh được.

Năm Càn Long thứ 55 (1790), ngày 18 tháng 12 (âm lịch), Thuận Quý nhân được an táng tại Phi viên tẩm của Dụ lăng, Thanh Đông lăng.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 《清史稿 卷二百八十七 列傳三十六》:尹德初自佐領授侍衛,從聖祖征噶爾丹,扈蹕寧夏。尋自都統擢領侍衛內大臣,兼議政大臣。
  2. ^ 《清史稿 卷二百八十七 列傳三十六》:刑部尚書阿爾松阿以無心效力,奪職削爵,發往盛京,以其伯音德襲果毅公。……庚子,以音德、夸岱俱為領侍衛內大臣。
  3. ^ 《乾隆至嘉慶年添減底檔》...... 容嬪封妃。夏例日用紅羅炭五斛、黑炭二十五斛。冬例日用紅羅炭十斛、黑炭四十斛。常貴人封嬪。夏例日用紅羅炭五斛、黑炭二十斛。冬例日用紅羅炭八斛、黑炭三十斛。
  4. ^ 《清高宗实录》 命大学士陈宏谋。为正使。内阁学士柏琨。为副使。持节册封贵人钮祜禄氏为顺嫔。册文曰朕惟职修妇学聊九御以承恩。誉起壸仪。迓百祥而赞化。爰昭宠锡。用焕新纶。尔贵人钮祜禄氏。秉质柔和。持躬端慎。茂繁禧于兰殿。分秩内官。荷慈庆于璇宫。承华戚属。兹奉皇太后慈谕。册封尔为顺嫔。尚其祗崇令德。赞齍敦以无违。式受鸿庥膺翟褕而有恪。钦哉。
  5. ^ 《清宮恭王府檔案總匯永璘秘檔》乾隆三十七年十二月年例伺候。皇太后。皇貴妃。慶貴妃。舒妃、愉妃、穎妃、豫妃、容妃。婉嬪、順嬪、敦嬪。慎貴人、林貴人、蘭貴人。鄂常在、白常在、祿常在、新常在、寧常在、那常在、武常在、明常在、平常在。裕貴妃。郭貴人。李常在。三福晉、定安親王福晉、循郡王福晉、榮純親王福晉。循郡王長女、榮純親王長女。四阿哥、六阿哥、八阿哥、十一阿哥。十二阿哥、十五阿哥、十七阿哥。綿德阿哥、綿恩阿哥、綿憶阿哥、綿惠阿哥、綿聰阿哥。奕純阿哥。和敬固倫公主、和靜固倫公主、和恪和碩公主。四阿哥福晉、八阿哥福晉、十一阿哥福晉、十二阿哥福晉。綿德阿哥福晉、綿恩阿哥福晉。所內答應學生。王公大臣等
  6. ^ 《清宮內務府奏銷檔》:王成谨奏:四月二十二日午初二刻,协办大学士英廉,带领尚书余文仪至内右门口,告诉由报发来旨意:着余文仪看顺妃、敦妃脉息。着王成将二位妃娘娘过月不有喜及现今外样喜形告诉余文仪知道。随至内右门至九洲清晏值房,王成将敦妃至旧年八月有喜,至今每月荣分按期而行,至今三月、四月,荣分行后,外形不显,内形觉微小不动。顺妃至旧年六月有喜,每月荣分未行,外样喜形甚好,十一月二十六日,忽然腰酸腹痛,见血。大夫陈世官等随用芎归汤,荣分近止,喜形照旧,十二月荣分未见,正月,二月,三月荣分虽行不多,外样喜形照旧,其精神饮食都好,无病。以上等情,告诉余文仪请得敦妃娘娘。
  7. ^ 《清高宗實錄》 命協辦大學士英廉為正使。禮部侍郎阿肅為副使。持節冊封順嬪鈕祜祿氏為順妃。冊文曰、朕惟璇扉選德。承慶澤於椒塗。鏐冊鐫華。晉褒封於芝檢。秩膺申錫。典協榮稱。爾順嬪鈕祜祿氏。毓本世家。訓嫻內則。率箴規之令範。壼教彌敦。揚圖史之清芬。彝章式備。既鴻庥之克副。宜象服之增輝。茲奉皇太后懿旨。封爾為順妃。爾其煒管延禔。益茂柔嘉之譽。鳴璜奉職。倍昭敬慎之儀。欽哉。
  8. ^ 《賞賜底檔》乾隆五十二年十一月二十五日,順妃四十歲千秋,恩賜物。總管劉秉忠具順妃四十歲千秋紅片奏過,奉旨:銀元寶九個不賞,照尋常千秋例,賞銀三百兩,其餘俱照四十歲之例賞。欽此。