Mở trình đơn chính

Át Tất Long

Chính trị gia và công thần khai quốc nhà Thanh

Át Tất Long (chữ Hán: 遏必隆; tiếng Mãn: ᡝᠪᡳᠯᡠᠨtiếng Mãn ChâuEbilun; ? – 1673), còn gọi là Ngạc Tất Long (鄂必隆), Nữu Hỗ Lộc thị, Tương Hoàng kỳ Mãn Châu, là người con thứ 16 của Ngạch Diệc Đô, một trong 5 vị Khai quốc công thần của Hậu Kim.

Ông nổi tiếng trong lịch sử không chỉ vì là con trai của Đệ nhất công thần, mà còn là vì về sau ông trở thành 1 trong 4 vị Phụ chính đại thần, có nhiệm vụ nhiếp chính giúp Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế trị vì trước khi thân chính. Con gái của ông, lần lượt trở thành Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậuÔn Hi Quý phi của Khang Hi Đế. Hoàng thập tử, Đôn Quận vương Dận Ngã - con trai Ôn Hi Quý phi, chính là cháu ngoại của ông.

Tiểu sửSửa đổi

Át Tất Long nguyên quán Núi Trường Bạch, thân phụ là Hoàng Nghị công Ngạch Diệc Đô, có tổng 17 đứa con trai, và Át Tất Long là con trai thứ 16 của ông. Mẫu thân là Hòa Thạc công chúa, Tứ Cách cách Mục Khố Thạp, con gái của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Sau khi Ngạch Diệc Đô qua đời, vì có lệ kế tục hôn nhân mà Mục Khố Thạp lấy con trai thứ 8 của Ngạch Diệc Đô, tên Đồ Nhĩ Cách.

Năm Thiên Thông thứ 8 (1634), ông tập ấm tước vị Nhất đẳng Ngang bang Chương kinh (一等昂邦章京) của phụ thân, giữ chức vụ Thị vệ. Sau bị tội mất chức. Năm Sùng Đức thứ 6 (1641), Át Tất Long đi theo Hoàng Thái Cực tiến đánh triều Minh, lập nhiều chiến công được ban thưởng trọng hậu. Năm thứ 7 (1642), phụng mệnh Đại Tướng quân A Ba Thái xâm nhập Trường Thành, chiếm được Kế Châu, lại tiến vào Sơn Đông, đánh lấy Hạ Tân, lập công đầu phong chức Ngưu lục Chương kinh.

Năm Thuận Trị thứ 2 (1645), Át Tất Long đi theo Thuận Thừa Quận vương Lặc Khắc Đức Hồn tiến đánh Vũ Xương chém chết Lý Cẩm, là cháu của Lý Tự Thành, chiếu theo quân công tấn phong Nhị đẳng Giáp lạt Chương kinh (二等甲喇章京). Năm Thuận Trị thứ 5 (1648), kế thừa "Nhị đẳng Công" của anh trai là Đồ Nhĩ Cách sau khi ông ta qua đời, sửa thành ["Nhất đẳng Công"; 一等公]. Cùng năm ấy, Át Tất Long nhậm chức Nghị chính đại thần, Lĩnh thị vệ Nội đại thần, gia hàm Thiếu phó kiêm Thái tử Thái phó, đứng vào hàng Nội đại thần xử lý triều chính. Năm Thuận Trị thứ 18 (1661), Thuận Trị Đế bệnh nặng qua đời, để lại di chiếu cho Hoàng tử thứ 3 là Huyền Diệp lên ngôi, tức Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế. Nhưng do tuổi còn nhỏ, nên Át Tất Long cùng với Sách Ni, Ngao BáiTô Khắc Tát Cáp làm Phụ chính đại thần (辅政大臣).

Năm Khang Hi thứ 6 (1667), Khang Hi Đế chính thức thân chính, đặc phong Át Tất Long thêm một Nhất đẳng Công, hàm Thái sư. Ông luôn tránh nộ khí của Ngao Bái, lại hùa theo hắn mà độc đoán chuyên quyền, nhiều lần tùy tiện tru sát đại thần. Át Tất Long thân là cố mệnh đại thần, không bao giờ phát biểu ý kiến, luôn co đầu rút cổ, theo thanh mà phụ hoạ. Năm thứ 8 (1669), Hoàng đế trừng trị Ngao Bái, Át Tất Long vì là đồng đảng của Ngao Bái cũng bị giam vào ngục. Khang Thân vương Kiệt Thư chiếu theo mười hai hạng tội danh hạch hỏi Át Tất Long, bị xử vào tội chết. Năm thứ 9 (1670), Hoàng đế niệm tình ông là cố mệnh đại thần tuy bị tước hết chức tước, nhưng riêng tước Nhất đẳng công vẫn cho con thế tập.

Năm Khang Hi thứ 12 (1673), Át Tất Long lâm trọng bệnh, Khang Hi Đế thân hành tới phủ viếng thăm. Ông qua đời vì bạo bệnh vào năm đó, thụy hiệuKhác Hy (恪僖). Khang Hi Đế ngự chế văn bia, làm mộ ca ngợi công đức. Không lâu sau, con gái ông trở thành Hoàng hậu, Át Tất Long vì là cha của Hoàng hậu mà được sắc lập từ đường theo quy cách ngoại thích, đồng thời Khang Hi Đế cũng đích thân ban ngự thư bảng.

Đao Át Tất LongSửa đổi

Tương truyền, có một thanh đao mang tên của ông, vỏ dài 94 cm, lưỡi dài 60 cm, tương truyền đây là thanh đao chỉ huy mà Át Tất Long từng sử dụng bên mình. Sau khi ông mất, thanh đao được cất giữ trong hoàng cung.

Kinh lược Đại học sĩ Phó Hằng chinh phạt Kim Xuyên, Đại học sĩ Tái Thượng A đánh dẹp Thái Bình Thiên Quốc, từng được Càn Long ĐếHàm Phong Đế ban thưởng đao Át Tất Long, vì vậy một mặt của thanh đao có khắc hàng chữ ["Át Tất Long linh lung đao nhất, Càn Long thập tam niên tứ Kinh lược Đại học sĩ công Phó Hằng bình định Kim Xuyên dụng quá"; 遏必隆玲珑刀一,乾隆十三年赐经略大学士公傅恒平定金川用过], mặt còn lại khắc chữ ["Hàm Phong"; 咸丰] in ở một bên và bốn chữ Thần Phong Ác Thắng (神锋握胜).

Gia quyếnSửa đổi

  • Thê thiếp:
  1. Nguyên phối, Quận chúa, con gái Anh Thân vương A Tế Cách. Kết hôn xong thì qua đời.
  2. Kế phối, Huyện chúa, con gái Dĩnh Thân vương Tát Cáp Liêm. Sinh năm Thiên Mệnh thứ 6 (1621), kết hôn với Át Tất Long năm Sùng Đức thứ 4 (1639) và qua đời năm Khang Hi thứ 6, khi 46 tuổi.
  3. Kế phối, Ba Nhã Lạp thị (巴雅拉氏).
  4. Trắc thất, Thư Thư Giác La thị (舒舒觉罗氏).
  • Con trai:
  1. Sắc Lượng [色亮].
  2. Con thứ hai, chết yểu.
  3. Pháp Khách [法喀; 1664 - 1713], mẹ là Thư Thư Giác La thị. Kế tục Nhất đẳng Công, vợ kế là em gái Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu.
  4. Nhan Châu [颜珠; 1665 - 1696], không rõ mẹ. Vợ là em gái của Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu.
  5. Phú Bảo [富保; 1668 - 1716], mẹ không rõ.
  6. Doãn Đức [尹德; 1670 - 1727], mẹ không rõ. Triều Ung Chính thụ Nghị chính đại thần, tập tước Nhất đẳng Công, có cháu gái là Thuận Quý nhân của Càn Long Đế.
  7. A Linh A [阿靈阿; ? - 1716], mẹ là Ba Nhã Lạp thị. Năm Khang Hi thứ 25 (1686), thừa tước Nhất đẳng Công. Vợ là em gái của Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu, có con gái là Phúc tấn của Quả Nghị Thân vương Doãn Lễ.
  • Con gái:
  1. Trưởng nữ, không rõ mẹ, gả cho Ba Lâm Quận vương Ngạc Tề Nhĩ (鄂齐尔), con trai Cố Luân Thục Tuệ Trưởng công chúa A Đồ - con gái Hiếu Trang Văn Hoàng hậu.
  2. Thứ nữ, Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu, mẹ là Thư Thư Giác La thị, Hoàng hậu thứ 2 của Khang Hi Đế. Không con.
  3. Tam nữ, Ôn Hi Quý phi, mẹ là Thư Thư Giác La thị, phi tần của Khang Hi Đế, mẹ đẻ của Hoàng thập tử, Đôn Quận vương giáng Bối tử Dận Ngã.
  4. Tứ nữ, mẹ là Ba Nhã Lạp thị, gả cho Phụ Quốc công Vân Thăng (雲升) - con trai thứ 3 của Trấn Quốc công Cao Tắc, con trai thứ 6 của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực.
  5. Ngũ nữ, gả cho Nhất đẳng tử A Ngọc Thạp (阿玉什) ở Tương Bạch kỳ.
  6. Lục nữ, gả cho Phụng ân Phụ Quốc công Phổ Xương (普昌) - chắt của Quảng Lược Bối lặc Chử Anh.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi