Mở trình đơn chính

Ái Tân Giác La Dận Ngã (chữ Hán: 爱新觉罗胤䄉; 28 tháng 11 năm 1683 - 18 tháng 10 năm 1741), là Hoàng tử thứ 10 tính trong số những người con sống tới tuổi trưởng thành của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế.

Dận Ngã
Hoàng tử nhà Thanh
Prince Yine.JPG
Thông tin chung
Phối ngẫuBát Nhĩ Tế Cát Đặc thị
(博爾濟吉特氏)
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La Dận Ngã
(爱新觉罗胤䄉)
Ái Tân Giác La Doãn Ngã
(爱新觉罗允䄉)
Thân phụThanh Thánh Tổ
Khang Hi Đế
Thân mẫuÔn Hi Quý phi
Sinh28 tháng 11 năm 1683
Mất18 tháng 10 năm 1741

Tiểu sửSửa đổi

Dận Ngã còn có tên khác là Dận Hề, là con trai duy nhất của Ôn Hy Quý phi. Dận NhưngDận Ngã là hai Hoàng tử có gia thế bên ngoại uy quyền nhất trong triều đình. Ông ngoại của Dận NgãÁt Tất Long (遏必隆), một trong Tứ trụ đại thần phò tá cho Khang Hi Đế khi còn nhỏ. Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu, chị ruột của Ôn Hi Quý phi, là Hoàng hậu thứ hai của Khang Hi Đế. Bản thân sinh mẫu ông cũng là sủng phi của Khang Hi Đế lúc đương thời. Trái lại, Dận Ngã không có gì nổi bật trong số các Hoàng tử của Khang Hi Đế.

Năm 1709, Dận Ngã được phong làm Đôn Quận vương (敦郡王).

Năm 1722, Ung Chính Đế lên ngôi. Để tránh húy kỵ, tất cả Hoàng tử anh em của Ung Chính Đế đã phải thay đổi chữ "Dận" trong tên thành "Doãn". Do đó Dận Ngã bị đổi thành Doãn Ngã

Vào năm đầu sau khi Ung Chính Đế lên ngôi (1723), Triết Bố Tôn Đan Ba Hồ Đồ Khắc qua đời, Ung Chính Đế chỉ định Doãn Ngã sang Mông Cổ làm sứ thần. Doãn Ngã cáo bệnh không đi.

Năm 1724, Doãn Ngã bị buộc tội đứng về phía Bát gia đảng của Doãn Tự, một trong những đối thủ của Ung Chính Đế trong việc tranh giành ngai vàng. Doãn Ngã đã bị tước hết danh hiệu và bị quản thúc tại nhà.

Năm Càn Long thứ 2 (1737), Doãn Ngã được phóng thích và phục vị cho ông làm Phụ Quốc công (輔國公).

Doãn Ngã qua đời vì bệnh tật vào năm 1741 thọ được 59 tuổi và đã được táng theo nghi lễ dành cho Bối tử (贝子).

Gia quyếnSửa đổi

Đích Phúc tấnSửa đổi

  • Đích Phúc tấn: Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), con gái của A Ba Cát hữu kỳ Trát Tát Khắc Quận vương Ô Nhĩ Cát Lạt Phổ (烏爾噶喇普)

Dắng thiếpSửa đổi

  • Quách Lạc La thị (郭絡羅氏), con gái của Viên ngoại lang Vĩnh Bảo (永保)
  • Vương thị (王氏), con gái của Hộ quân giáo Lăng Bảo (凌保)

Hậu duệSửa đổi

Con traiSửa đổi

  1. Trưởng tử (1701), qua đời khi được 6 ngày tuổi, mẹ là Quách Lạc La thị.
  2. Hoằng Húc (17021708), chết yểu, mẹ là Quách Lạc La thị.
  3. Tam tử (17031709), chết yểu, mẹ là Quách Lạc La thị.
  4. Tứ tử (1706), chết khi được 6 ngày tuổi, mẹ là Vương thị.
  5. Hoằng Huyên (弘暄; 17081735), mẹ là Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị, có một con trai.
  6. Hoằng Thuân (弘晙; 17101771), mẹ là Quách Lạc La thị, có ba con trai.

Con gáiSửa đổi

  1. Trưởng nữ (17061743), mẹ là Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị, lấy Nhất đẳng Di Cát Lạp Lý Thế (台吉拉里达) của Khoa Nhĩ Thấm thuộc Mông Cổ.
  2. Nhị nữ (17071727), mẹ là Vương thị, chưa kết hôn.
  3. Tam nữ (17111719), chết yểu, mẹ là Vương thị.

Tham khảoSửa đổi