Thanh Thái Tông Nguyên phi

Thanh Thái Tông Nguyên phi (chữ Hán: 清太宗元妃), Nữu Hỗ Lộc thị, là nguyên phối Phúc tấn của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực.

Tiểu sửSửa đổi

Nguyên phi Nữu Hỗ Lộc thị người Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, con gái cả của Hoằng Nghị công Ngạch Diệc Đô - một trong 5 vị khai quốc công thần hiển hách triều Thanh[1].

Năm Vạn Lịch thứ 39 (1611), Nữu Hỗ Lộc thị hạ sinh con trai thứ ba của Hoàng Thái Cực, tên Lạc Bác Hội (洛博會). Sang năm Thiên Mệnh thứ 2 (1617), Lạc Bác Hội qua đời, từ đấy Nữu Hỗ Lộc thị biến mất khỏi lịch sử. Có giả thiết bà mất vào năm Vạn Lịch thứ 40 (1612), tức chỉ 1 năm sau khi sinh ra Lạc Bác Hội, tuy nhiên không có nguồn tài liệu xác thực chứng minh.

Căn cứ theo Mãn văn lão đương (满文老档), ngày 9 tháng 5 (âm lịch), vào năm Thiên Mệnh thứ 8 (1623), khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích ở Bát Giác điện triệu tập em gái cùng mẹ Triêm Hà Cô và chư vị nữ quyến, trên đường đến thì em gái của Xa Nhĩ Cách Nghi (车尔格宜) đồng thời là mẹ cả của Hào Cách, tức Phúc tấn Nữu Hỗ Lộc thị, ngồi xe gặp phải Nỗ Nhĩ Cáp Xích cùng Dĩ Cách Anh Thân vương A Tế Cách nhưng lại không chịu hạ xe kiệu. Nỗ Nhĩ Cáp Xích cho rằng hành động này của bà là vô lễ, coi thường quy củ nên đã lập tức họp mặt để trách cứ con dâu, cuối cùng lệnh cho Hoàng Thái Cực phải ly hôn với bà[2]. Ban đầu thông tin này được cho là nói đến Thanh Thái Tông Kế phi Na Lạp thị, nhưng trong văn bản có nói "em gái của Xa Nhĩ Cách Nghi" thì người này chỉ có thể là Nữu Hỗ Lộc thị mà thôi. Về vế đối "mẹ của Hào Cách", thì theo Khang Hi hội điển (康熙会典), phần "Tam phụ Bát mẫu phục đồ" (三父八母服图) thì đời Thanh, trừ cha và mẹ ruột được gọi là Sinh phụ (生父) và Sinh mẫu (生母), thì một người bình thường còn có 3 cha và 8 mẹ khác. Tam phụ chỉ đến "Đồng cư Kế phụ" (同居继父), "Bất đồng cư Kế phụ" (不同居继父) và "Tòng Kế mẫu giá chi Kế phụ" (从继母嫁之继父). Còn như Bát mẫu nói đến "Đích mẫu" (嫡母), "Kế mẫu" (继母), "Dưỡng mẫu" (养母), "Từ mẫu" (慈母), "Giá mẫu" (嫁母), "Xuất mẫu" (出母), "Thứ mẫu" (庶母) và "Nhũ mẫu" (乳母). Luận theo việc này, chi tiết "mẹ của Hào Cách" ám chỉ việc Nữu Hỗ Lộc thị là Đích mẫu của Hào Cách. Ngoài ra, văn bản đề cập chính là dùng ["Di khí"; 遗弃], có nghĩa vứt bỏ đi như người dưng chứ không phải là ["Hưu khí"; 休弃] mang nghĩa ly hôn thông thường. Có lẽ đây là nguyên nhân bà bị bỏ đi tư cách truy phong.

Sau khi thành lập triều Thanh, bà và Kế phi Na Lạp thị, cùng hai vị chính thê của Nỗ Nhĩ Cáp XíchThanh Thái Tổ Nguyên phi Đông Giai thị và Thanh Thái Tổ Kế phi Phú Sát thị, trở thành 4 vị Đại phi duy nhất không được truy phong Hoàng hậu, dù sinh thời cả 4 người đều là vợ chính thức của Đại Hãn. Cách gọi ["Nguyên phi"] của Nữu Hỗ Lộc thị cùng Đông Giai thị, có nghĩa là "Người vợ đầu tiên" trong Hán ngữ.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 《爱新觉罗宗谱·星源集庆》(页二七)元妃.钮祜禄氏.巴图鲁宏毅公额宜都之女……第三子.洛博会.无嗣.辛亥年生.母.元妃.钮祜禄氏.巴图鲁宏毅公额宜都之女.天命二年丁巳卒.年七岁.
  2. ^ 《满文老档》第五十一册 天命八年五月......初九日......汗曰:“车尔格宜之妹豪格之母,来往其父家时乘拖床经大阿哥阿济格之门,也乘拖床进我之门,因其轻漫之恶行,以致获罪,被其夫弃之。诸贝勒勿辱新弟媳、子妇等;诸弟媳、子妇亦勿似昔致罪之福晋等,侮漫长者。”