Mở trình đơn chính
Nhiếp chính vương Tái Phong - thân sinh của Tuyên Thống Đế.

Triều đại nhà Thanh của Trung Quốc đã phát triển một hệ thống xếp hạng quý tộc rất phức tạp. Tất cả các tước hiệu đều do con trai trưởng của nhà quý tộc thừa kế, nhưng bị giáng xuống một cấp. Tuy thế, vẫn có ngoại lệ khi hoàng đế phê chuẩn cho một tước hiệu được cha truyền con nối, và đây là một vinh dự rất lớn cho người mang tước hiệu.

Các Thân vương được phép truyền tước hiệu cho con cháu của mình mà không bị giáng cấp được gọi là các Thiết mạo tử vương.

Hoàng tộcSửa đổi

Hoàng tộc nhà Thanh chia thành "Tông thất""Giác La", những người có dòng máu hoàng tộc[1], cụ thể là:

  1. Tông thất: những người đeo dây lưng vàng "Kim hoàng thinh đái", gọi là [Hoàng đái tử; 黃帶子]; bao gồm các con cháu trực hệ của Hoàng đế, bắt đầu từ con cháu của Thanh Tuyên Tổ Tháp Khắc Thế, tức là con cháu hoặc cháu anh em của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Từ đó, những Hoàng tử là con cháu thế hệ trực tiếp của Hoàng đế đều mang Hoàng đái tử.
  2. Giác La: những người đeo dây lưng đỏ "Hồng thinh đái", gọi là [Hồng đái tử; 紅帶子]; gồm con cháu của các anh em thúc bá của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích, đây có thể xem là dòng dõi xa của Hoàng thất, tương tự chế độ Tôn Thất của Hoàng tộc nhà Nguyễn.

Tông thất có địa vị cao hơn Giác La và có nhiều ưu đãi hơn trong việc phong tước, bổ nhiệm chức vụ.

Nguyên tắcSửa đổi

Việc kế thừa về cơ bản dành cho con trưởng nhưng vẫn có những ngoại lệ do Hoàng đế quyết định. Các người con khác chỉ có thể nhận được tước vị ngoài "Bát phân" tuỳ theo xuất thân và kết quả kỳ khảo phong tức kì thi đánh giá tài năng của Hoàng tộc của họ hoặc được đặc biệt ban ân. Thông thường, các tước vị cha truyền con nối sẽ giảm dần qua các thế hệ cho đến khi trở thành vĩnh viễn hoặc truyền thêm 3 đời nữa rồi kết thúc.

  • Các tước vị thuộc "Bát phân": thừa kế giảm xuống 4 lần rồi trở thành vĩnh viễn. Ví dụ như [Thân vương] giảm đến [Phụng ân Trấn quốc công], [Quận vương] giảm đến [Phụng ân Phụ quốc công].
  • Các tước vị "Bất nhập Bát phân": sẽ giảm đến [Phụng ân Tướng quân] rồi thành vĩnh viễn nếu là Tông thất, hoặc truyền 3 đời nữa rồi kết thúc nếu là Giác La.

Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp việc kế thừa đời đời không bị giáng gọi là Thiết mạo tử vương; trong lịch sử nhà Thanh có 12 trường hợp như vậy. Nếu như một chi trong Hoàng tộc không có người thừa kế thì Hoàng đế sẽ chỉ định một nam nhân trong hoàng tộc làm người thừa tự.

Nam nhân Hoàng tộcSửa đổi

Danh vị Nhập bát phân công (入八分公), là các tước vị quý tộc Mãn Thanh cho nam giới, thường là các Hoàng thân. Những tước vị này có nhiều đặc quyền và được thiện đãi lớn. Bao gồm 8 tước vị:

  • Hoà Thạc Thân vương (giản thể: 和硕亲王; phồn thể: 和碩親王; bính âm: Héshuò Qīnwáng) thường được gọi tắt là Thân vương. Từ [Hoà Thạc; Heshuo, Hošoi] có nghĩa là "người được đặc biệt tôn kính" trong tiếng Mãn Châu.
    • Thế tử (tiếng Trung: 世子; bính âm: Shìzǐ) là người kế vị hoặc con trai trưởng của Thân vương. Trong lịch sử Thanh triều, đời Càn Long, trưởng tử vua Quang Trung là Nguyễn Quang Toản được ưu ái ban cho chức này. Điều đó khẳng định vị thế của người cha. Bản thân của Quang Trung cũng hưởng đặc ân của Càn Long Đế ban cho tước "trên Quận vương, dưới Thân vương" này.
  • Đa La Quận vương (giản thể: 多罗郡王; phồn thể: 多羅郡王; bính âm: Duōluó Jùnwáng), thường được gọi tắt là Quận vương. Từ [Đa La; Duoluo, Doroi] có nghĩa là "bốn phương", "bốn mặt" trong tiếng Mãn châu.
  • Đa La Bối lặc (giản thể: 多罗贝勒; phồn thể: 多羅貝勒; bính âm: Duōluó Bèilè), có nghĩa là "Chúa tể" trong tiếng Mãn Châu, thường được gọi tắt là Bối lặc. Bối lặc trước khi nhà Thanh thành lập dùng để gọi các vị thủ lĩnh của các bộ lạc người Nữ Chân, bản thân Nỗ Nhĩ Cáp Xích khi chưa xưng Đại hãn đã được gọi là Bối lặc.
  • Cố Sơn Bối tử (giản thể: 固山贝子; phồn thể: 固山貝子; bính âm: Gùshān Bèizǐ), thường được gọi tắt là Bối tử. Từ [Cố Sơn; Gushan, Gūsai] có nghĩa là "cờ" trong tiếng Mãn Châu, để chỉ một trong số Bát Kỳ. Từ [Bối tử; Beizi, Beise] là dạng số nhiều của Bối lặc, vốn được dùng để chỉ các vị Bối lặc nói chung hoặc những quý tộc bẩm sinh (quý tộc dòng dõi nhà Bối lặc) nhưng kể từ năm 1636 cả Bối lặc và Bối tử đều được dùng để chỉ hai cấp độ tước hiệu khác nhau.
  • Phụng ân Trấn quốc công (giản thể: 奉恩镇国公; phồn thể: 奉恩鎮國公; bính âm: Fèng'ēn Zhènguó Gōng; tiếng Mãn Châu: Kesi-be Tuwakiyara Gurun-be Dalire Gung) thường được gọi tắt là Trấn quốc công.
  • Phụng ân Phụ quốc công (giản thể: 奉恩辅国公; phồn thể: 奉恩輔國公; bính âm: Fèng'ēn Fǔguó Gōng; tiếng Mãn Châu: Kesi-be Tuwakiyara Gurun-de Aisilara Gung) thường được gọi tắt là Phụ quốc công.

Ngoài ra còn 2 tước vị, tuy thấp hơn 8 tước trên nhưng đều cao hơn 4 tước bên dưới, gồm:

  • Bất nhập Bát phân Trấn quốc công (giản thể: 不入八分镇国公; phồn thể: 不入八分鎮國公; tiếng Mãn Châu: Jakūn Ubu-de Dosimbuhakū Gurun-be Dalire Gung);
  • Bất nhập Bát phân Phụ quốc công (giản thể: 不入八分辅国公; phồn thể: 不入八分輔國公; tiếng Mãn Châu: Jakūn Ubu-de Dosimbuhakū Gurun-be Aisilara Gung);

Bốn tước vị đầu tiên chỉ được ban cho "Tông thất"; hai tước vị đặc biệt "Thế tử""Trưởng tử" đến đời Càn Long bị bãi bỏ; người thừa kế được phong tương ứng Bối lặc và Bối tử. Một Hoàng tử khi đến tuổi trưởng thành sẽ căn cứ theo thứ tự, địa vị của người mẹ, tài năng, công trạng, sự yêu quý của Hoàng đế mà sẽ sơ phong (phong tước lần đầu) một trong 4 tước kể trên. Thông thường, các Hoàng tử chỉ được ban lần đầu là "Bối lặc" hoặc "Bối tử", sau đó có thành tích mới được phong Vương. Việc một Hoàng tử được phong tước Vương ngay lần phong đầu thường là con lớn hoặc do Hoàng hậu sinh ra; một số trường hợp là do Hoàng đế niệm tình sắp mất như Vinh Thuần Thân vương Vĩnh Kỳ. Hai tước vị "Bất nhập Bát phân" đều thường phong cho con trai là con vợ lẽ của Thân vương, hoặc con vợ chính của Thế tử và một số Trấn quốc công, Phụ quốc công bị giáng vị.

Các tước vị trên đều là siêu phẩm tước vị (trên nhất phẩm), 4 tước dưới đây tương đương từ Chính nhất phẩm đến Chính tứ phẩm.

  • Phụng ân Trấn quốc Tướng quân (giản thể: 镇国将军; phồn thể: 鎮國將軍; bính âm: Zhènguó Jiāngjūn) chia làm 3 đẳng.
  • Phụng ân Phụ quốc Tướng quân (giản thể: 辅国将军; phồn thể: 輔國將軍; bính âm: Fǔguó Jiāngjūn) chia làm 3 đẳng, kiêm Nhất vân Kỵ úy (一雲騎尉) là đẳng riêng.
  • Phụng quốc Tướng quân (giản thể: 奉国将军; phồn thể: 奉國將軍; bính âm: Fèngguó Jiāngjūn) chia làm 3 đẳng, kiêm Nhất vân Kỵ úy (一雲騎尉) là đẳng riêng.
  • Phụng ân Tướng quân (giản thể: 奉恩将军; phồn thể: 奉恩將軍; bính âm: Fèng'ēn Jiāngjūn), kiêm Nhất vân Kỵ úy (一雲騎尉) là đẳng riêng.

Do vấn đề thừa tước, đích-thứ và đại tông tiểu tông, sẽ khiến không ít Tông thất không được phong tước, và họ gọi chung là Nhàn tản tông thất (閒散宗室), được ban cho quan phục mũ mão võ quan tứ phẩm. Nguyên bản, họ không có tước vị mũ áo nào cả, là dạng Tông thất địa vị thấp kém, nên hay ra ngoài dân gian làm bậy, đến năm Càn Long thứ 22 (1755) đã đến hơn 700 người. Càn Long Đế vì quá mất mặt mà vào năm Càn Long thứ 47 (1782), lấy cớ "Hoàng tộc mà không có chức tước cùng áo mũ, há khác nào dân thường" mới chính thức ban quy định mũ áo cùng trợ cấp.

Căn cứ theo Khâm định Đại Thanh hội điển sự lệ, lương bổng của các tước vị trên như sau, đều là theo năm[2]:

  1. Thân vương: bổng vạn lượng bạc, lộc vạn hộc gạo;
  2. Thế tử: bổng 6000 lượng bạc, lộc 6000 hộc gạo;
  3. Quận vương: bổng 5000 lượng bạc, lộc 5000 hộc gạo;
  4. Trưởng tử: bổng 3000 lượng bạc, lộc 3000 hộc gạo;
  5. Bối lặc: bổng 2500 lượng bạc, lộc 2500 hộc gạo;
  6. Bối tử: bổng 1300 lượng bạc; lộc 1300 hộc gạo;
  7. Trấn quốc công: bổng 700 lượng bạc, lộc 700 hộc gạo;
  8. Phụ quốc công: bổng 500 lượng bạc, lộc 500 hộc gạo;
  9. Nhất đẳng Trấn Quốc Tướng quân: bổng 410 lượng bạc, lộc 410 hộc gạo;
  10. Nhị đẳng Trấn Quốc Tướng quân: bổng 385 lượng bạc, lộc 385 hộc gạo;
  11. Tam đẳng Trấn Quốc Tướng quân: bổng 360 lượng bạc, lộc 360 hộc gạo;
  12. Nhất đẳng Phụ Quốc Tướng quân kiêm Nhất vân Kỵ úy: bổng 335 lượng bạc, lộc 335 hộc gạo;
  13. Nhất đẳng Phụ Quốc Tướng quân: bổng 310 lượng bạc, lộc 310 hộc gạo;
  14. Nhị đẳng Phụ Quốc Tướng quân: bổng 285 lượng bạc, lộc 285 hộc gạo;
  15. Tam đẳng Phụ Quốc Tướng quân: bổng 260 lượng bạc, lộc 260 hộc gạo;
  16. Nhất đẳng Phụng quốc Tướng quân kiêm Nhất vân Kỵ úy: bổng 235 lượng bạc, lộc 235 lượng bạc;
  17. Nhất đẳng Phụng quốc Tướng quân: bổng 210 lượng bạc, lộc 210 hộc gạo;
  18. Nhị đẳng Phụng quốc Tướng quân: bổng 185 lượng bạc, lộc 185 hộc gạo;
  19. Tam đẳng Phụng quốc Tướng quân: bổng 160 lượng bạc, lộc 160 hộc gạo;
  20. Phụng ân Tướng quân kiêm Nhất vân Kỵ úy: bổng 135 lượng bạc, lộc 135 hộc gạo;
  21. Phụng ân Tướng quân: bổng 110 lượng bạc, lộc 110 hộc gạo;

Nữ nhân Hoàng tộcSửa đổi

Các tước hiệu sau được ban cho nữ nhân trong Hoàng tộc:

  • Cố Luân Công chúa (giản thể: 固伦公主; phồn thể: 固倫公主; bính âm: Gùlún Gōngzhǔ), tương đương Bối tử, thường được ban cho Công chúa do Hoàng hậu sinh ra. Cố Luân có nghĩa là "thiên hạ" trong tiếng Mãn Châu. Tuy nhiên vẫn có ngoại lệ, nhiều công chúa là con gái trưởng hoặc con gái được Hoàng đế đặc biệt yêu quý đã được phong tước vị này, Cố Luân Hòa Hiếu Công chúa là một ví dụ điển hình.
  • Hoà Thạc Công chúa (giản thể: 和硕公主; phồn thể: 和碩公主; bính âm: Héshuò Gōngzhǔ), tương đương siêu phẩm công, thường được ban cho công chúa do các phi tần sinh ra. Hoà Thạc (Heshuo, Hošoi) có nghĩa là "người được đặc biệt tôn kính" trong tiếng Mãn Châu. Con gái của một số Thân vương được nhận làm nghĩa nữ cũng được phong tước vị này.

Hai tước vị trên là siêu phẩm tước vị, 5 tước sau đây tương đương từ chính nhất phẩm đến chính ngũ phẩm.

  • Quận chúa (tiếng Trung: 郡主; bính âm: Jùnzhǔ) thường được ban cho con gái của Thân vương do Đích Phúc tấn sinh ra[3].
  • Huyện chúa (giản thể: 县主; phồn thể: 縣主; bính âm: Xiànzhǔ) thường được ban cho con gái của Quận vương hoặc Thế tử, do Đích Phúc tấn sinh ra.
  • Quận quân (tiếng Trung: 郡君; bính âm: Jùnjūn) thường được ban cho con gái của Thân vương do thiếp thất sinh ra, hoặc con gái sinh ra bởi chính thất của Bối lặc.
  • Huyện quân (giản thể: 县君; phồn thể: 縣君; bính âm: Xiànjūn) thường được ban cho con gái của Quận vương do thiếp thất sinh ra, hoặc do chính thất sinh ra của Bối tử.
  • Hương quân (giản thể: 鄉君; phồn thể: 乡君; bính âm: xiãngjũn) thường được ban cho con gái do chính thất sinh ra của Phụng ân Trấn Quốc công và Phụng ân Phụ Quốc công, hoặc con gái của Bối lặc do thiếp thất sinh ra.
  • Tông nữ (tiếng Trung: 宗女; bính âm: zõngnǚ): tên gọi chung cho con gái Hoàng tộc không được phong tước.

Đầu đời Thanh, từ Hương quân trở lên đều gọi là Cách cách. Chồng của Cố Luân Công chúa đến Hương quân đều được gọi là Ngạch phò (giản thể: 额驸; phồn thể: 額駙; bính âm: Éfù), tương đương Phò mã triều trước, có phẩm hàm tuỳ theo tước vị của vợ họ, như chồng của Cố Luân Công chúa được gọi là Cố Luân Ngạch phò (固伦额驸), chồng của Hòa Thạc Công chúa cùng Quận chúa gọi là Hòa Thạc Ngạch phò (和硕额驸),...

Năm Đạo Quang thứ 24 (1844), quy định rằng về sau khi xưng hô Công chúa, phong hiệu viết ở đằng trước, mà "Cố Luân" cùng "Hòa Thạc" đều viết ở sau và chỉ ngay trước hai chữ Công chúa, tức [Mỗ mỗ Cố Luân Công chúa; 某某固伦公主] và [Mỗ mỗ Hòa Thạc Công chúa; 某某和硕公主].

Quý tộcSửa đổi

Quan viên nam giớiSửa đổi

Có 9 bậc quý tộc được ban thưởng tuỳ theo lòng dũng cảm, thành tích hoặc sự xuất chúng. Trừ hai bậc cuối cùng, tất cả các bậc còn lại đều được chia thành nhiều cấp khác nhau.

  • Dân công (tiếng Trung: 民公; bính âm: Mín Gōng) thường được gọi tắt là Công. Tước "Công" được ban cho dân thường, còn tước "Quốc công" chỉ dành cho thành viên hoàng tộc. Chia làm 3 đẳng, vị siêu phẩm;
  • Hầu (tiếng Trung: ; bính âm: Hóu), chia làm 3 đẳng, kiêm Nhất vân Kỵ úy (一雲騎尉) là đẳng riêng, vị siêu phẩm;
  • (tiếng Trung: ; bính âm: ), chia làm 3 đẳng, kiêm Nhất vân Kỵ úy (一雲騎尉) là đẳng riêng, vị siêu phẩm;
  • Tử (tiếng Trung: ; bính âm: ), chia làm 3 đẳng, kiêm Nhất vân Kỵ úy (一雲騎尉) là đẳng riêng, vị Chính nhất phẩm;
  • Nam (tiếng Trung: ; bính âm: Nán), chia làm 3 đẳng, kiêm Nhất vân Kỵ úy (一雲騎尉) là đẳng riêng, vị Chính nhị phẩm;
  • Khinh xa đô uý (giản thể: 轻车都尉; phồn thể: 輕車都尉; bính âm: Qīngchē Dūwèi), chia làm 3 đẳng, kiêm Nhất vân Kỵ úy (一雲騎尉) là đẳng riêng, vị Chính tam phẩm;
  • Kị đô uý (giản thể: 骑都尉; phồn thể: 騎都尉; bính âm: Qí Dūwèi), phân làm Kị đô úy kiêm Nhất vân Kỵ úyKị đô úy, vị Chính tứ phẩm;
  • Vân kị uý (giản thể: 云骑尉; phồn thể: 雲騎尉; bính âm: Yún Qíwèi), vị Chính ngũ phẩm;
  • Ân kị uý (giản thể: 恩骑尉; phồn thể: 恩騎尉; bính âm: Ēn Qíwèi) thường không ban thưởng bởi công lao mà được ban cho con trai thừa kế của Vân kị úy khi Vân kị úy qua đời, vị Chính thất phẩm;

Các tước vị quý tộc thường ban cho quan võ nhiều hơn là quan văn. Trong lịch sử nhà Thanh, quan văn có tước vị cao nhất là Tăng Quốc Phiên chỉ là "Nhất đẳng Hầu tước". Ngoài ra, các quý tộc đôi khi cũng được ban chế độ gọi là [Thế tập võng thế; 世襲罔替], tức là tước vị đó truyền đời mà không bị giáng tước. Những ngoại thích khi gia ân tước, đều có thành tố [Thừa Ân; 承恩] vào đằng trước, như "Thừa Ân công" hay "Thừa Ân hầu", cũng tùy vào ân sủng mà gia cho Nhất đẳng hay Tam đẳng, theo mặc định đều là thế tập truyền đời.

Căn cứ Khâm định Đại Thanh hội điển sự lệ, lương bổng các tước theo năm như sau[4]:

  1. Nhất đẳng Công: 700 lượng bạc;
  2. Nhị đẳng Công: 685 lượng bạc;
  3. Tam đẳng Công: 660 lượng bạc;
  4. Nhất đẳng Hầu kiêm Nhất vân Kỵ úy: 635 lượng bạc;
  5. Nhất đẳng Hầu: 610 lượng bạc;
  6. Nhị đẳng Hầu: 585 lượng bạc;
  7. Tam đẳng Hầu: 560 lượng bạc;
  8. Nhất đẳng Bá kiêm Nhất vân Kỵ úy: 535 lượng bạc;
  9. Nhất đẳng Bá: 510 lượng bạc;
  10. Nhị đẳng Bá: 485 lượng bạc;
  11. Tam đẳng Bá: 460 lượng bạc;
  12. Nhất đẳng Tử kiêm Nhất vân Kỵ úy: 435 lượng bạc;
  13. Nhất đẳng Tử: 410 lượng bạc;
  14. Nhị đẳng Tử: 385 lượng bạc;
  15. Tam đẳng Tử: 360 lượng bạc;
  16. Nhất đẳng Nam kiêm Nhất vân Kỵ úy: 335 lượng bạc;
  17. Nhất đẳng Nam: 310 lượng bạc;
  18. Nhị đẳng Nam: 285 lượng bạc;
  19. Tam đẳng Nam: 260 lượng bạc;
  20. Nhất đẳng Khinh xa Đô úy kiêm Nhất vân Kỵ úy: 235 lượng bạc;
  21. Nhất đẳng Khinh xa Đô úy: 210 lượng bạc;
  22. Nhị đẳng Khinh xa Đô úy: 185 lượng bạc;
  23. Tam đẳng Khinh xa Đô úy: 160 lượng bạc;
  24. Kị đô úy kiêm Nhất vân Kỵ úy: 135 lượng bạc;
  25. Kị đô úy: 110 lượng bạc;
  26. Vân kị úy: 85 lượng bạc;
  27. Ân kị úy: 60 lượng bạc;

Ngoài ra, còn có các tước không liệt phẩm, lương bổng gồm:

  1. Nhàn tản Công (閑散公): 255 lượng bạc;
  2. Nhàn tản Hầu (閑散侯): 230 lượng bạc;
  3. Bá phẩm cấp thế chức (伯品級世職): 205 lượng bạc;
  4. Tử phẩm cấp thế chức (子品級世職): 180 lượng bạc;
  5. Nam phẩm cấp thế chức (男品級世職): 155 lượng bạc;
  6. Khinh xa đô úy phẩm cấp thế chức (輕車都尉品級世職): 130 lượng bạc;
  7. Kị đô úy phẩm cấp thế chức (騎都尉品級世職): 105 lượng bạc;
  8. Vân kị úy phẩm cấp thế chức (雲騎尉品級世職): 80 lượng bạc;

Những tước vị khácSửa đổi

Mông Cổ thế tước
  1. Thân vương (親王);
  2. Quận vương (郡王);
  3. Bối lặc (貝勒);
  4. Bối tử (貝子);
  5. Trấn quốc công (鎮國公);
  6. Phụ quốc công (輔國公);
  7. Trát Tát Khắc Đài cát (札薩剋颱吉);
  8. Nhất đẳng Đài cát (一等颱吉);
  9. Nhị đẳng Đài cát (二等颱吉);
  10. Tam đẳng Đài cát (三等颱吉);
  11. Tứ đẳng Đài cát (四等颱吉);
Công thần thế tước
  1. Diễn Thánh công (衍聖公): tước vị dành cho hậu duệ của Khổng Tử, nhánh ở Khúc Phụ.
  2. Hải Trừng công (海澄公): tước vị dành cho Trịnh Khắc Sảng và con cháu.
  3. Nhất đẳng Trung Dũng công (一等忠勇公): tước vị cho Phó Hằng và hậu duệ.
  4. Nhất đẳng Trung Tương công (一等忠襄公): tước vị cho Hòa Thân và hậu duệ. Bị Gia Khánh Đế giải trừ.
  5. Nhất đẳng Nghị Dũng hầu (一等毅勇侯): tước vị dành cho Tăng Quốc Phiên và con cháu.
  6. Nhị đẳng Khác Tĩnh hầu (二等恪靖侯): tước vị dành cho Tả Tông Đường và con cháu.
  7. Nhất đẳng Túc Nghị hầu (一等肅毅候): tước vị dành cho Lý Hồng Chương và con cháu.
  8. Tĩnh Hải hầu (靖海侯): tước vị dành cho Thi Lang và con cháu.
  9. Diễn Ân hầu (延恩侯): tước vị dành cho người đứng đầu của dòng họ Chu thị, hoàng tộc nhà Minh.
  10. Trung Thành bá (忠誠伯): tước vị dành cho Phùng Tích Phạm và con cháu.
  11. Chiêu Tín bá (昭信伯): tước vị dành cho Lý Thị Nghiêu (李侍堯), hậu duệ của Lý Vĩnh Phương (李永芳).
  12. Thế tập Quả Cảm huyện lệnh (世襲果敢縣令): dành cho Dương Quốc Hoa (楊國華) và con cháu.

Ngoại mệnh phụSửa đổi

Thê thất của quan viên triều Thanh cũng theo hạng ngạch của chồng mà được triều đình cân nhắc phong tặng, họ được gọi là Mệnh phụ hay Ngoại mệnh phụ (外命婦).

Thời Thanh cơ bản noi theo cách cũ của đời Minh, dùng [Cáo mệnh; 诰命] và [Cáo sắc; 诰敕] làm cơ sở. Đời Thanh quy định, phàm là triều đình quan viên, khi đạt được chức quan thì cũng có đãi ngộ hạng ngạch tương ứng. Xuất phát từ ưu đãi mà suy xét, quan viên có thể thông qua “Đàm ân cáo sắc” (覃恩诰敕) để có thể xin ban ân cho thành viên trong gia đình mình. Căn cứ triều đình quan viên phẩm cấp bất đồng, phạm vi “Đàm ân cáo sắc” cùng hình thức cũng bất đồng.

Chúng ta có:

  • Quan viên từ Nhất phẩm đến Ngũ phẩm xưng là “Cáo mệnh”. Theo đó, trừ việc có thể phong tặng cho Thê tử, quan viên Nhất phẩm có thể truy phong cho 3 đời (ông cố, ông nội và cha), Nhị phẩm cùng Tam phẩm truy phong 2 đời (ông nội và cha) và Tứ phẩm cùng Ngũ phẩm chỉ truy được 1 đời.
  • Quan viên từ Lục phẩm đến Cửu phẩm xưng là “Sắc mệnh". Trong đó Bát phẩm cùng Cửu phẩm không có quyền xin cho Thê tử và gia đình, chỉ có thể hưởng đãi ngộ cho chính mình. Còn Lục phẩm và Thất phẩm ngoài xin được gia phong cho Thê tử, còn có thể xin truy phong cho cha mẹ.

Về nội dung phong tặng, nam giới cùng nữ giới bất đồng. Nam giới được truy phong, bất luận từng nhậm chức gì, có nhậm hay không, khi truy phong đều gọi “Tán quan” ứng vào thứ bậc của người được ân phong tặng, chia làm hai ban văn-võ. Còn nữ giới chỉ có một hình thức hạng ngạch Mệnh phụ chung. Lấy ví dụ mà nói, vị quan A được quan Nhất phẩm, liền có được đãi ngộ phong tặng 3 đời. Thế là ông cố, ông nội cùng cha, tất cả đều phong tặng chức quan hàm Nhất phẩm. Còn bà cố, bà nội, mẹ cả cùng vợ cả của vị A này, đều là “Nhất phẩm Cáo Mệnh phu nhân”.

Vào đời Thanh, trừ bỏ những nữ tử được gả vào hoàng gia và có được tước vị tương ứng, thì Thê thất quan viên khác đều phải trải qua “Đàm ân cáo sắc” này mới có được tước hiệu. Nói cho cùng, các nữ nhân này có được vinh quan đều do chồng hoặc con cái mình mang lại, do đó để đánh giá nữ tử ấy có được địa vị thế nào người ta đều sẽ xem địa vị của chồng trước.

Tổng quan các mệnh phụ triều Thanh, dựa theo:

Phong hiệu Ngoại mệnh phụ triều Thanh
Địa vị của Phu quân Tước vị mệnh phụ tương ứng
Thân vương và Quận vương Phúc tấn (福晋)
Bối lặc, Bối tử, Trấn Quốc công, Phụ Quốc công Phu nhân (夫人)
Công tước Công thê Nhất phẩm Phu nhân (公妻一品夫人)
Hầu tước Hầu thê Nhất phẩm Phu nhân (侯妻一品夫人)
Bá tước Bá thê Nhất phẩm Phu nhân (伯妻一品夫人)
Quan viên Nhất phẩm, Trấn Quốc tướng quân, Tử tước Nhất phẩm Phu nhân (一品夫人)
Quan viên Nhị phẩm, Phụ Quốc tướng quân, Nam tước Nhị phẩm Phu nhân (二品夫人)
Quan viên Tam phẩm, Phụng Quốc tướng quân, Khinh xa Đô úy Tam phẩm Thục nhân (三品淑人)
Quan viên Tứ phẩm, Phụng Ân tướng quân, Kỵ đô úy Tứ phẩm Cung nhân (四品恭人)
Quan viên Ngũ phẩm, Vân kỵ úy Ngũ phẩm Nghi nhân (五品宜人)
Quan viên Lục phẩm Lục phẩm An nhân (六品安人)
Quan viên Thất phẩm, Ân kỵ úy Thất phẩm Nhụ nhân (七品孺人)

Một số quy định gia phong Ngoại mệnh phụ triều Thanh:

  • Đời Thanh quy định, khi trong nhà có trên 1 người được quan vị và được ân phong, thì dựa vào ai có phẩm vị cao nhất để tiến hành phong tặng. Ví dụ như trong nhà của cặp vợ chồng già kia cùng lúc 2 người con được phong chức quan, một người quan Ngũ phẩm, một quan Nhị phẩm, thì đôi vợ chồng già kia sẽ được án theo chức quan Nhị phẩm mà phong tặng.
  • Năm Thuận Trị thứ 9, quan viên bị tội liền tước bỏ phong tặng.
  • Năm Thuận Trị thứ 9 cũng quy định, nếu một phụ nữ do có chồng hoặc con đạt được chức quan mà thụ phong tặng, thì người phụ nữ ấy không có quyền tái giá. Nếu tái giá, toàn bộ phong tặng đều bãi bỏ. Nói cách khác, “Cáo mệnh” cùng “Cáo sắc” đều là tài sản của nhà chồng, người phụ nữ một khi tái giá thì không được mang đi.
  • Năm Thuận Trị thứ 10, quy định phụ nữ nào đã tái giá, hoặc xuất thân ca kỹ vô loài, hoặc tỳ thiếp đê hèn, đều không được phong tặng.
  • Năm Thuận Trị thứ 16, quy định quan viên nào trong nhà từng có hành vi “đi bước nữa”, thì phong tặng kế phụ hay kế mẫu trước. Sau khi kế phụ hoặc kế mẫu đều có phong tặng, mới ân phong cha mẹ ruột.
  • Năm Khang Hi thứ 8, sửa lại quy định Năm Thuận Trị thứ 16, quy định mẹ cả, mẹ kế và mẹ đẻ không thể cùng nhau tấn phong, hơn nữa thứ tự cũng trước sau theo trình tự. Theo đó, chỉ có thể phong tặng “chính thất”, nếu đã có vợ kế, thì cho phép phong tặng cùng lúc vợ cả (nguyên phối) cùng vợ kế.
  • Năm Ung Chính thứ 3, sửa lại quy định năm Khang Hi thứ 8, cho phép phong tặng mẹ cả, mẹ kế cùng mẹ đẻ trong cùng một đợt. Như vậy, thiếp thất cũng được dự vào khả năng ân phong, song không thể từ chồng, mà là từ con cháu.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 清代觉罗别称。天聪九年(1635年),清太宗规定觉罗皆束红带,以示身份。故称。凡觉罗皆系红色带为标志,故俗称觉罗为红带子。清朝的皇族,是从太祖努尔哈赤父亲塔世克辈份开始算起,然后按嫡旁亲疏,分做“宗室”和“觉罗”两大类。凡属塔世克本支,即努尔哈赤及嫡亲兄弟以下子孙,统统归入“宗室”;再就是塔世克叔伯兄弟支系的,都叫“觉罗”。按照清朝政府的规定,宗室腰系黄带子,觉罗身系红带子,用以显示身份的特殊。故此宗室也俗称黄带子,觉罗呼红带子。不过比较起来,觉罗的血缘要远一些。
  2. ^ 《欽定大清會典事例》卷五十一 宗室俸禄。親王嵗給俸銀萬兩。世子六千兩。郡王五千兩。長子三千兩。貝勒二千五百兩。貝子千三百兩。鎮國公七百兩。輔國公五百兩。一等鎮國將軍四百十兩。二等鎮國將軍三百八十五兩。三等鎮國將軍三百六十兩。一等輔國將軍兼一雲騎尉三百三十五兩。一等輔國將軍三百十兩。二等輔國將軍二百八十五兩。三等輔國將軍二百六十兩。一等奉國將軍兼一雲騎尉二百三十五兩。一等奉國將軍二百十兩。二等奉國將軍一百八十五兩。三等奉國將軍一百六十兩。奉恩將軍兼一雲騎尉一百三十五兩。奉恩將軍一百有十兩。宗室雲騎尉八十五兩。宗室雲騎尉品級八十兩以上每銀一兩給米一斛○順治七年議準親王歲給俸銀萬兩禄米萬二千斛郡王銀四千兩米八千斛貝勒銀二千兩米二千八百斛貝子銀千兩米千六百斛公銀五百兩米千二百斛○八年議準親王俸銀仍舊郡王嵗給銀五千兩貝勒三千兩貝子二千兩公千兩以上每俸銀二兩給祿米三斛○九年議準給親王世子俸銀六千兩郡王長子三千兩○十年議準親王等俸銀仍舊貝勒嵗給銀二千五百兩貝子千三百兩鎮國公七百兩輔國公五百兩一等鎮國將軍四百十兩以下各遞減二十五兩每俸銀一兩給禄米一斛
  3. ^ 《康熙朝實錄/卷之259》:「甲戌封和碩恒親王允祺之女為郡主」
  4. ^ 《欽定大清會典事例》卷五十一 世爵俸禄。一等公七百兩。二等公六百八十五兩。三等公六百六十兩。一等侯兼一雲騎尉六百三十五兩。一等侯六百十兩。二等侯五百八十五兩。三等侯五百六十兩。一等伯兼一雲騎尉五百三十五兩一等伯五百十兩二等伯四百八十五兩三等伯四百六十兩一等子兼一雲騎尉四百三十五兩一等子四百十兩二等子三百八十五兩。三等子三百六十兩。一等男兼一雲騎尉三百三十五兩一等男三百十兩。二等男二百八十五兩。三等男二百六十兩。一等輕車都尉兼一雲騎尉二百三十五兩。一等輕車都尉二百十兩。二等輕車都尉一百八十五兩。三等輕車都尉一百六十兩騎都尉兼一雲騎尉一百三十五兩騎都尉百有十兩雲騎尉八十五兩恩騎尉四十五兩閒散公二百五十五兩閒散侯二百三十兩伯品級官二百五兩子品級官一百八十兩男品級官一百五十五兩輕車都尉品級官一百三十兩騎都尉品級官百有五兩雲騎尉品級官八十兩以上每銀一兩給禄米一斛○......。三年議準八旗世爵二十嵗以下者於各該旗官學敎習清漢文繙譯竢學習三年後該旗都統考列等第引見如有賦性愚魯習於便安者發囘本旗仍照年幼襲爵例只給半俸令其効力行走如行走勤謹三年無過者奏。聞準給全俸其在學三年賦性聰明因年未及十八歳未便請