Mở trình đơn chính

Phương phi Trần thị (chữ Hán: 芳妃陳氏, ?, - 13 tháng 8, năm 1801), là một phi tần của Thanh Cao Tông Càn Long Đế.

Thanh Cao Tông Phương phi
芳妃陳氏
Càn Long Đế phi
Thông tin chung
Phối ngẫuThanh Cao Tông
Càn Long Hoàng đế
Tước hiệu[Thường tại;常在]
[Quý nhân; 貴人]
[Phương tần; 嬪]
[Phương phi; 芳妃]
Thân phụTrần Đình Luân
Sinh?
Dương Châu
Mất13 tháng 8, năm 1801
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An tángPhi viên tẩm của Dụ lăng

Tiểu sửSửa đổi

Trở thành tần phiSửa đổi

Phương phi Trần thị vốn chỉ là dân thường, xuất thân ở Dương Châu (扬州; nay thuộc phía Nam của Bảo Ứng, Giang Tô). Cha bà là Trần Đình Luân (陳廷綸). Cũng như Thuần Huệ Hoàng quý phiKhánh Cung Hoàng quý phi, Trần thị được một quan viên địa phương tiến cử nhập cung mới có thể trở thành tần phi, do bà không phải người Bát kỳ. Bà không rõ sinh năm bao nhiêu, chỉ biết sinh nhật của bà là ngày 24 tháng 9 (âm lịch).

Năm Càn Long thứ 31 (1766), ngày 26 tháng 11 (âm lịch), Trần thị được thụ phong làm Minh Thường tại (明常在). Trước đó không rõ phân vị của bà là gì. Sang năm thứ 40 (1775), thụ phong Quý nhân. Khoảng năm thứ 43 (1778), ngày 28 tháng 6 (âm lịch), mẹ của Minh Quý nhân bệnh mất, được thưởng bạc 200 lượng để lo chi phí an táng[1]. Cùng năm tháng 7, một anh trai trong nhà Minh Quý nhân là Trần Tế (陳濟) không tuân thủ quản thúc tại Dương Châu, điều vào kinh sư, trong khi một anh khác là Trần Hạo (陳浩) nhậm chức ở Dương Quan, an nhàn mà sống[2][3].

Năm Càn Long thứ 44 (1779), ngày 1 tháng 2, Càn Long Đế ra chỉ dụ: ["Gian thị tẩm của Thuận phi tại Dưỡng Tâm điện nay cấp cho Đôn tần, chỗ của Đôn tần cấp cho Thuận phi. Minh Thường tại ở gian thứ trong chỗ của Thuận phi. Chỗ ở của Dung phi tại Viên Minh viên cấp cho Đôn tần, chỗ của Đôn tần chuyển cho Dung phi. Thuận phi đem Minh Thường tại trụ tại Vĩnh Thọ cung"; 養心殿順妃住處給惇嬪,惇嬪住處給順妃。明常在住順妃次間。圓明園容妃住處給惇嬪住,惇嬪住處給容妃。順妃帶明常在住永壽宮].

Năm Càn Long thứ 59 (1794), ngày 20 tháng 11 (âm lịch), ghi chép "Phương tần Trần thị" được chuyển đến Vĩnh Hòa cung[4]. Ngày 22 tháng 12 (âm lịch) cùng năm, mệnh Lễ bộ Thượng thư Kỷ Vân (纪昀) làm Chính sứ, Hữu Thị lang Lưu Dược Vân (刘跃云) làm Phó sứ, tiến hành lễ sách phong cho Phương tần[5]. Trước mắt không có tài liệu chỉ dụ sách phong Tần, nhưng ngày 12 tháng 10 (âm lịch) năm ấy, đã có ghi lại Nội các dâng các chữ [Mậu; 茂], [Dực; 翊] và [Phương; 芳] để Càn Long Đế chọn làm phong hiệu cho Minh Quý nhân, ắt hẳn chỉ dụ tấn phong làm Tần có lẽ trước đó mấy ngày.

Thái thượng hoàng PhiSửa đổi

Năm Gia Khánh thứ 3 (1798), ngày 15 tháng 4 (âm lịch), chiếu thăng làm Phi. Lúc này Càn Long Đế đã trở thành Thái thượng hoàng, Phương phi Trần thị được xưng gọi tôn xưng khác để tránh nhầm lẫn, là Thái thượng hoàng Phương phi (太上皇芳妃). Tháng 10 cùng năm, mệnh Đại học sĩ Lưu Dung làm Chính sứ, Lễ bộ Thượng thư Kỷ Vân làm Phó sứ, tiến hành lễ tấn phong cho Phương phi.

Sách văn viết:

Năm thứ 6 (1801), ngày 13 tháng 8 (âm lịch), Phương phi Trần thị qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi. Ngày 27 tháng 11 (âm lịch) cùng năm, kim quan của Phương phi Trần thị được táng vào Phi viên tẩm của Dụ lăng.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 《內廷賞賜例》:乾隆四十三年闰六月二十八日,王成奉旨 赏明贵人银二百两 因伊阿妈 阿娘亡故七月
  2. ^ 《宫中檔奏摺》:奏為遵旨查明明貴人之兄陳濟來京其兄陳浩實不知情陳浩在揚關任事安分從事從無滋事事
  3. ^ 《宮中檔》:明貴人之兄陳濟來京,具呈懇求差,看來此人係不安分之人,若驅令回籍,不免招搖生事等語。令內務府大臣酌量將陳濟留京賞給差使安插,不許在外生事,並詢知其家屬現在揚州伊岳母處,伊既已留京,家屬不便仍居原籍。著交伊齡阿即行查明,遇便送京,交福隆安辦理。再據陳濟稱,尚有伊兄在揚關管事。今陳濟來京具呈,伊兄自必與聞,安知不藉此名色在彼多事,亦未可定。朕於宮眷等親屬管束極嚴,從不容其在外滋事。恐伊等不知謹飭,妄欲以國戚自居,則大不可。凡妃嬪之家尚不得稱為戚畹,即實係後族,朕亦不肯稍為假借,況若輩乎?著傳諭伊齡阿,如陳濟之兄在揚尚屬安靜,不妨仍令其在關管事,如有不安本分及藉端生事之處,即退其管關,交地方官嚴加管束,不得稍為姑容,致令在外生事。至四十五年朕巡幸江浙,不可令此等人沿途接駕,混行乞恩。又陸常在系蘇州籍貫,其有無親屬人等,亦詳悉查明,嚴加管柬.四十五年南巡時亦不可令其接駕乞恩。一併傳諭舒文照此辦理。
  4. ^ 《乾隆至嘉慶年添減底檔》:乾隆五十九年十一月二十日起,恭嬪娘娘居承乾宮,芳嬪娘娘住永和宮。每宮每日原有看宮黑炭三斤,煤十斤,俱於二十日止退。記此。
  5. ^ 乾隆帝晋封陈贵人为芳嫔册文:命礼部尚书纪昀为正使。右侍郎刘跃云为副使。持节册封贵人陈氏为芳嫔。册文曰、朕惟教德容以率属。表质椒庭。展功绪而分司。延休柘馆。纶言锡庆。翟采增辉。咨尔贵人陈氏、早备内官。夙襄中壶。俯丹墀之雅度。淑慎其身。昭紫室之光仪。柔嘉维则。兹晋封尔为芳嫔。锡之册命。尔其徽章用荷。计良月以承恩。懿范弥敦。瞻枢星而服职。钦哉。