Mở trình đơn chính

Ngô Văn Sở

Là một danh tướng và công thần khai quốc của nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam

Ngô Văn Sở (chữ Hán: 吳文楚, ?[1] - 1795), còn có tên là Ngô Hồng Chấn, Ngô Văn Tàng là một danh tướng của nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam.

Ngô Văn Sở
吳文楚
Ích Quốc công
Ngô Văn Sở.jpg
Tượng thờ Đại tư mã Ngô Văn Sở trong Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt (Bảo tàng Quang Trung, Bình Định)
Binh nghiệp
Năm tại ngũ1771-1795
Cấp bậcĐại tư mã
Tham chiếnChiến tranh Tây Sơn - Nguyễn
Thông tin chung
Tên khácNgô Hồng Chấn
Ngô Văn Tàng
Chức quanĐại đổng lý
Tước hiệuÍch Quốc công
Sinh?
 Bình Khê, Quy Nhơn (nay thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định)
Mất1795
Nguyên nhân mấtbị Võ Văn Dũng xử tử

Mục lục

Thân thế và sự nghiệpSửa đổi

Ông sinh trưởng tại Bình Khê, Quy Nhơn (nay thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). [cần dẫn nguồn]

Tổ tiên ông là người ở Trảo Nha, huyện Thiên Lộc (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) di cư vào huyện Tây Sơn lúc nào chưa rõ [2]. Thuở trai trẻ ông học võ với Đô thống Ngô Mạnh, tức bạn đồng môn với Bùi Thị Xuân.

Ngô Văn Sở quê gốc Trảo Nha, nay là thị trấn Can Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Cha Ngô Văn Sở là Ngô Văn Diễn được nhà Lê-Trịnh cử làm trấn thủ trấn Quảng Nam. Ngô Văn Diễn có bốn con trai là Ngô Văn Sở, Ngô Văn Trị, Ngô Văn Ngữ và Ngô Văn Dần. Con cháu Ngô Văn Ngữ hiện ở phường Nhơn Bình, TP Qui Nhơn. Ngô Văn Sở và Ngô Văn Ngữ được thờ ở ngôi nhà khi xưa các ông sống tại nơi nói trên. Còn con cháu 3 vị khác đều trốn chạy khỏi quê hoặc không sống ở quê trước khi nhà Tây Sơn sụp đổ năm 1801 ‹Phả hệ họ Ngô Việt Nam›.

Gian lao với phong trào Tây SơnSửa đổi

Năm 1771, ba anh em Tây SơnNguyễn Nhạc, Nguyễn HuệNguyễn Lữ cùng khởi binh, Ngô Văn Sở đến đầu quân ngay từ buổi đầu. Theo GS. Nguyễn Khắc Thuần, thì sau đó ông tham gia đánh nhau với quân Nguyễn tại Quy Nhơn (1773).

Năm 1775, ông lại theo Nguyễn Huệ và rồi cùng đánh tan hơn hai vạn quân Nguyễn do tướng Tống Phúc HiệpPhú Yên.

Kể từ lúc ấy, Ngô Văn Sở trở thành một trong những tướng lĩnh cao cấp của Bộ chỉ huy quân Tây Sơn. Và ông đã có mặt trong trận tấn công vào Phú Xuân (1786), vượt sông Gianh đánh ra Bắc Hà (1786), diệt Nguyễn Hữu Chỉnh (1787), diệt Vũ Văn Nhậm (1788).

Sau đó, ông được Nguyễn Huệ phong làm Đại tư mã thống lĩnh quân đội, tổng quản công việc ở Bắc Hà. Cùng tham gia Bộ chỉ huy này còn có các Đô đốc như Võ Văn Dũng, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Tuyết và các văn thần, mà nổi bật là Ngô Thì Nhậm.

Năm 1788, vua Lê Chiêu Thống dẫn nhiều vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy vào xâm lược Việt Nam. Sau khi bàn bạc với các cộng sự, Ngô Văn Sở đem quân rút về phòng tuyến Tam Điệp để bảo toàn lực lượng.

Được tin cấp báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (21 tháng 12 năm 1788) Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung. Ngay sau khi làm lễ đăng quang tại núi Bân (Phú Xuân), nhà vua trực tiếp mang đại quân ra Bắc để đánh đuổi quân xâm lược.

Trong chiến dịch phản công này, Đại tư mã Ngô Văn Sở được ở bên cạnh vua Quang Trung để cùng chỉ huy đạo quân chủ lực đánh vào hai thành trì quan trọng của đối phương, đó là Hà HồiNgọc Hồi.

Nhờ lập nhiều công lao, nên khi xét thưởng ông được nhà vua phong tới tước Ích Quốc công, và được cử làm Trấn thủ Thăng Long sau khi quân Thanh cùng vua quan nhà Lê rút chạy.

Tháng 1 năm 1790, Ngô Văn Sở lãnh giao nhiệm vụ đưa phái đoàn của giả vương Phạm Công Trị sang nhà Thanh.

Năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời, Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi (tức Cảnh Thịnh), thì Ngô Văn Sở được thăng chức Đại đổng lý, tước Quận công (Chấn Quận công) và vẫn ở giữ Bắc Hà.

Do nhà vua còn nhỏ, quyền hành nhanh chóng rơi vào tay người cậu vua là Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Kể từ đó, triều đình Tây Sơn sinh ra lục đục mãi.

Nội bộ lục đục, bị dìm chếtSửa đổi

Trong một cuộc đấu tranh nội bộ nơi vương triều, Đại đô đốc Võ Văn Dũng đã sai quân bắt cha con Bùi Đắc Tuyên hạ ngục. Cho rằng Ngô Văn Sở là người cùng phe cánh với Đắc Tuyên, Võ Văn Dũng đã làm giả chiếu vua triệu ông về Phú Xuân. Theo tài liệu của các giáo sĩ phương Tây có mặt tại Phú Xuân lúc bấy giờ cho biết: Bùi Đắc Tuyên muốn đổ vua Cảnh Thịnh, thanh trừ các công thần Tây Sơn để đưa con mình là Bùi Đắc Trụ lên làm vua, lập Ngô Văn Sở lên làm chúa.[3] Còn theo danh sĩ Nguyễn Trọng Trì (1854-1922) thì Ngô Văn Sở không phải là người có nhiều tham vọng.[4] Cho nên ông tự nguyện đi theo Bùi Đắc Tuyên hay bị viên Thái sư này gán ép (để tạo thanh thế), hoặc bị tướng Võ Văn Dũng vu oan (nhằm loại trừ một thế lực), cần phải tìm hiểu thêm.

Ngô Văn Sở và hai cha con Bùi Đắc Tuyên bị nhốt vào cũi sắt, đem xuống sông Hương dìm chết. Đó là năm 1795.

Nhận xétSửa đổi

Năm 1788, sau khi Vũ Văn Nhậm bị giết chết, Ngô Văn Sở được giao nhiệm cai quản Bắc Hà. Trong buổi trao quyền, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã tuyên bố rằng: (Ngô Văn) Sở và (Phan Văn) Lân đều là nanh vuốt của ta[5]. Điều này cho thấy tài năng của ông và sự tin cậy của cấp trên đối với ông.

Trong sách Tây Sơn lương tướng ngoại truyện của Nguyễn Trọng Trì cũng có đoạn chép về Ngô Văn Sở như sau:

Ngô Văn Sở làm quan không cầu danh lợi tiếng tăm, lúc nào cũng muốn tránh quyền thế. Thường ngày, (ông) yêu kính quân tử mà vẫn giữ lòng thương xót tiểu nhân. Ông cùng với Trần Quang Diệu, Võ Văn DũngBùi Thị Xuân đều là danh tướng, được người đương thời gọi là Tứ kiệt.[4]

Trùng tênSửa đổi

Mọi rắc rối về Ngô Văn Sở hi vọng sẽ được tháo gỡ nếu việc không phải chỉ có một mà là hai ông Ngô Văn Sở sống đồng thời được thừa nhận. Theo tác giả sách "Góp bàn chuyện trong sử cũ" của tác giả Ngô Vui, Nhà xuất bản Lao động/2012 thì có 2 ông Ngô Văn Sở: Ngô Văn Sở A của nhà Tây Sơn và Ngô Văn Sở B của nhà Nguyễn. Ban đầu 2 ông cùng phục vụ nhà Tây Sơn, nhưng do sự biến năm 1795 mà Ngô Văn Sở B đã phải rời bỏ Tây Sơn, trốn chết chạy về với Nguyễn Ánh. Tác giả tiến sĩ sử học Nguyễn Phương trong cuốn "Việt Nam thời bành trướng Tây Sơn" SG/1968 cho biết việc Võ Văn Dũng mạo chiếu ra Bắc Thành xin Quang Thuỳ cho Ngô Văn Sở về kinh, nhưng Sở biết trước đã liệu đầu hàng Nguyễn Ánh (1795)-tr. 352. Qua đó âm mưu dìm chết Ngô Văn Sở là có nhưng chưa được thực thi.

Ngô Văn Sở A quê gốc Trảo Nha, Thạch Hà, Hà Tĩnh, nay là thị trấn Can Lộc huyện Can Lộc. Cha ông là Ngô Văn Diễn được nhà Lê-Trịnh cử vào làm trấn thủ Quảng Nam, sinh bốn con: Ngô Văn Sở, Ngô Văn Trị, Ngô Văn Ngữ, Ngô Văn Dần. Ngô Văn Ngữ theo Nguyễn Ánh từ đầu, sau được Gia Long phong tước Ngữ Luận hầu trấn thủ trấn Kinh Bắc. Con cháu ông trú quán phường Nhơn Bình, thành phố Qui Nhơn. Ngô Văn Sở sinh thời cũng sống ở đó, ông có 6 bà vợ[6] nhưng chỉ có hai người con là Ngô Văn Đắc, Ngô Văn Nhật; Ngô Văn Đắc có hai con là Văn Chương, Văn Kỳ [7]

Ngô Văn Sở theo Tây Sơn trở thành một viên Đại tư mã tài ba lỗi lạc được phong tước Chấn Quận công. Sau khi nhà Tây Sơn thất bại năm 1801, con cháu ông trốn chạy khỏi Nhơn Bình, đến nay chưa tìm thấy một ai. Hành trạng của bản thân Ngô Văn Sở từ sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ cũng không được sử sách ghi nhận vì lo sợ sự trả thù của Gia Long đối với những người tham gia phong trào Tây Sơn. Phả họ Ngô Nhơn Bình có chép câu chuyện giữa Ngô Xuân Thụ (bố nhà thơ Xuân Diệu) với bà con họ Ngô Nhơn Bình là mộ Ngô Văn Sở ở Bắc Ninh. Từ đó gợi lên chuyện Ngô Văn Sở chính là người mang hài cốt 3 mẹ con Bắc cung Hoàng hậu của vua Quang Trung là Ngọc Hân từ Phú Xuân ra Bắc. Thời vua Gia Long có công bố sự kiện trên như sau: "Tỉnh Bắc Ninh có dân xã Phù Ninh thờ ngụy quỷ (Nguyên người xã ấy là Nguyễn Thị Huyền làm cung nhân của vua Lê Hiển Tông có người con gái là Ngọc Hân sau gả cho ngụy Huệ sinh được 1 trai, 1 gái cũng đều chết non cả. Khoảng năm đầu Gia Long, ngụy đô đốc tên là Hải ngầm đem hài cốt mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về táng trộm ở ở địa phận xã Phù Ninh. Thị Huyền ngầm sai xây mộ, dựng đền, khắc bia giả dối, đổi họ tên để làm mất dấu tích. Tới đây, việc ấy phát giác vua sai hủy đền thờ, đào bỏ hài cốt kẻ ngụy đi".[8][9].

Ngô Văn Sở B quê gốc làng Nành xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm, Hà Nội, gốc họ Ngô Thời Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội [10] Ngô Văn Sở B lấy vợ là bà Nguyễn Thị Đích người Thăng Long đến năm 1792 thì sinh con gái đầu lòng là Ngô Thị Chánh, sau đó sinh tiếp 2 người con trai là Ngô Văn Thắng và Ngô Văn Thọ.Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, Ngô Văn Sở được phong làm trấn thủ Thanh Hoa ngoại trấn (tức Ninh Bình), đến năm 1806 bị cách chức, năm 1822 thì chết, mộ ở thôn Hà Lỗ xã Hải Tân, huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị[11]

Năm 1806, bà Chánh được chọn vào hậu cung, sau khi bà Hồ Thị Hoa mất, bà Chánh trở thành sủng phi của vua Minh Mạng và có với vị vua này năm con trai và bốn con gái.30 năm sau được phong hiền phi (Sắc hiện được thờ ở phủ Vĩnh Tường Quận vương số 42A đường Nguyễn Chí Thanh, Huế (Gia phả họ Thuận Nhơn). Bà Ngô Thị Chánh mất năm 1843.

Ngô Văn Sở A về tuổi tác vào hàng cha Ngô Văn Sở B: Giả định, người em kề bà Chánh là Ngô Văn Thắng nhỏ hơn chị 1 tuổi, tức sinh năm 1793, thế thì đến khi nhà Tây Sơn bị diệt và Gia Long lên ngôi năm 1802 thì ông Thắng mới có 10 tuổi; trong khi đó Ngô Văn Sở A đã có 2 cháu nội là Ngô Văn Chương và Ngô Văn Kỳ phải trốn chạy khỏi Nhơn Bình để tránh sự truy sát của Gia Long.[12].

Theo gia phả nhà Nguyễn và nhà nghiên cứu về Huế Nguyễn Đắc Xuân thì Ngô Văn Sở không bị giết mà sau theo phò nhà Nguyễn, có con gái làm vợ vua Minh Mạng:[13]

"...Lịch sử 26 năm kháng chiến ấy tỏ rõ đức nhẫn nại, giàu ý chí không sợ gian khổ hiểm nguy, hoạn nạn, không ngã lòng, cố kết được nhân tâm, biết thu phục kẻ đối địch như Lê Chất, Ngô Văn Sở... để phục vụ cho sự nghiệp của mình..." (tr. 69, phần nhận xét về vua Gia Long)
"...Bà hoàng được vua Minh Mạng sủng ái nhất là bà Hiền Phi Ngô Thị Chính - con gái của Đại tư mã Ngô Văn Sở nổi tiếng thời Quang Trung (về sau theo vua Gia Long). Ông có với bà Ngô Thị Chính 9 người con (5 Hoàng tử và 4 Hoàng nữ)..." (trang 95)

Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng cùng thời với ông có tướng Ngô Văn Sở quê ở Gia Định gốc Thừa Thiên, từng theo quân Tây Sơn làm đến chức đô úy, sau đầu hàng, năm Kỷ Mùi (1799) theo Võ Tánh trấn giữ thành Bình Định[cần dẫn nguồn].

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Năm sinh Ngô Văn Sở, nhiều sách đều ghi không rõ. TS. Đinh Văn Liên ghi Ngô Văn Sở sinh năm 1764, nhưng không cho biết căn cứ vào nguồn nào (Bình Định: Đất võ trời văn. Nhà xuất bản Trẻ, 2008, tr. 444).
  2. ^ Theo GS. Nguyễn Khắc Thuần, Danh tướng Việt Nam (tập 3), tr. 284.
  3. ^ Theo bài viết của GS. Đỗ Bang trong Danh nhân Bình Trị Thiên, tr 92.
  4. ^ a ă Dẫn lại theo Danh tướng Việt Nam (tập 3), tr. 284.
  5. ^ Đại Nam chính biên liệt truyện (Sơ tập, quyển 30). Dẫn lại theo Danh tướng Việt Nam (Tập 3), tr. 285.
  6. ^ Nguyễn Thị Quý, Đặng Thị Vậy, Trương Thị Trà, Trần Thị Ngoạn, Lê Thị Yến và Huỳnh Thị Lan
  7. ^ Phả hệ họ Ngô Việt Nam Nhà xuất bản LD/2011),Tr. 77
  8. ^ Đại Nam thực lục chính biên Tập 24 đệ tam kỷ Tr. 183/ Q.23
  9. ^ Phả hệ họ Ngô Việt Nam. Nhà xuất bản LD/2011)
  10. ^ Phả hệ họ Ngô Việt Nam.Nhà xuất bản LD/2011)Tr.141-142
  11. ^ Thế giới Mới số 50/2/1993, tác giả Vĩnh Định tức Ngô Văn Xưng
  12. ^ "Góp bàn chuyện trong sử cũ". Ngô Vui. ↑Nhà xuất bản LĐ/2012
  13. ^ Nguyễn Đắc Xuân, "Chín đời chúa mười ba đời vua Nguyễn", Nhà xuất bản Thuận Hoá - Huế, 1998.

Sách tham khảoSửa đổi

  • Quách Tấn-Quách Giao, Nhà Tây Sơn. Bảo tàng Quang Trung (Bình Định) xuất bản, 2002.
  • Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (quyển 2). Nhà xuất bản Hồn Thiêng, Sài Gòn, 1967.
  • Nguyễn Đắc Xuân, Chín đời chúa mười ba đời vua Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hoá - Huế, 1988.
  • Nhiều tác giả, Danh nhân Bình Trị Thiên (tập I), Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1986.
  • TS. Đinh Văn Liên, Bình Định: Đất võ trời văn. Nhà xuất bản. Trẻ, 2008.
  • Nguyễn Khắc Thuần, Danh tướng Việt Nam (tập 3). Nhà xuất bản Giáo dục, 2005.
  • Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1992.

Liên kết ngoàiSửa đổi