Cố Cung (Bắc Kinh)

hoàng thành ở tại Bắc Kinh, Trung Quốc, là cung đình của nhà Minh và nhà Thanh

Cố Cung Bắc Kinh hay Tử Cấm thành là cung điện của 24 vị hoàng đế trong triều đại nhà Minhnhà Thanh. Tử Cấm thành được xây dựng vào năm thứ 4 đời Minh Thành Tổ Chu Đệ. Toàn bộ Tử Cấm thành nằm ở trung tâm trục trung tâm của Bắc Kinh, nó có diện tích 720.000 mét vuông và diện tích xây dựng khoảng 150.000 mét vuông. Đây là kiến trúc kiểu cung điện lớn nhất hiện có trên thế giới. Tử Cấm thành ở Bắc Kinh là lô đơn vị bảo vệ di tích văn hóa trọng điểm quốc gia đầu tiên và lô du lịch du lịch cấp quốc gia cấp 5A đầu tiên. Nó được đưa vào danh sách "Di sản văn hóa thế giới" năm 1987. Tử Cấm thành hiện là Bảo tàng Cung điện,

Từ Cấm thành
故宫
Forbidden City Beijing Shenwumen Gate.JPG
Cổng Thần Vũ môn, cổng phía Bắc. Bảng bên dưới ghi dòng chữ "Bảo tàng Cố Cung"
Forbidden City1.JPG
Cổng Thần Vũ môn, cổng phía Bắc. Bảng bên dưới ghi dòng chữ "Bảo tàng Cố Cung"
Thành lập1925
Vị trí4 Jingshan Front St, Đông Thành, Bắc Kinh,  Trung Quốc
Tọa độ39°55′00″B 116°23′27″Đ / 39,91658°B 116,39072°Đ / 39.91658; 116.39072Tọa độ: 39°55′00″B 116°23′27″Đ / 39,91658°B 116,39072°Đ / 39.91658; 116.39072
KiểuBảo tàng nghệ thuật, Hoàng cung, địa danh lịch sử
Lượng khách16.7 triệu[1]
Phụ tráchWang Xudong
Cố Cung (Bắc Kinh)
Diện tích72 hecta
Xây dựng1406–1420
Kiến trúc sưKuai Xiang
Phong cách kiến trúcKiến trúc Trung Quốc
Một phần củaCung điện Hoàng gia của triều đại nhà Minh và nhà Thanh ở Bắc Kinh và Thẩm Dương
Tiêu chuẩnCultural: i, ii, iii, iv
Tham khảo439-001
Công nhận1987 (Kỳ họp 11)
Cố Cung (Bắc Kinh)
Forbidden City (Chinese characters).svg
Các ký tự tiếng Trung tại Tử Cấm Thành
Tên tiếng Trung
Tiếng Trung 紫禁城
Nghĩa đen "Purple [North Star] Forbidden City"
Tên tiếng Mãn
Tiếng Mãn ᡩᠠᠪᡴᡡᡵᡳ
ᡩᠣᡵᡤᡳ
ᡥᠣᡨᠣᠨ

Văn vật lưu trữ chủ yếu dựa trên bộ sưu tập cung đình của triều đại nhà Minh và nhà Thanh, đây là một bảo tàng hạng nhất quốc gia và được biết đến là năm bảo tàng lớn nhất thế giới, cùng với Bảo tàng Emitash của Nga, Bảo tàng Louvre ở Pháp, Bảo tàng Metropolitan ở Hoa Kỳ.

Năm 2012, lượt khách ghé thăm mỗi ngày cao nhất vượt quá 180.000 khách.[2]Năm 2019, lưu lượng khách vượt quá 19 triệu lượt,[3] có thể nói rằng đây là bảo tàng bận rộn để đón khách du lịch nhất thế giới. [4] Kể từ ngày 18 tháng 5 năm 2013, vật gây cháy hay lửa sẽ bị cấm trong Bảo tàng Cố Cung. Tất cả nhân viên, đơn vị hợp tác và khách ghé thăm, bất kể trong nhà hay ngoài trời, không có sự phân biệt giữa khu vực mở và khu vực làm việc.[5]

Tổng quanSửa đổi

Vào đầu triều đại nhà Minh, thủ đô được đặt tại phủ Ứng Thiên, Nam Kinh. Niên hiệu Kiến Văn, Yến Vương Chu Đệ từ Bắc Bình phát động Chiến dịch Tĩnh Nan.

Vào năm Vĩnh Lạc thứ 1 (1403), Chu Đệ đã ban hành một sắc lệnh để thay đổi Bắc Bình thành Bắc Kinh. Từ năm đầu tiên đến năm thứ 3, liên tục ra lệnh nhập cư từ nhiều nơi khác nhau đến Bắc Kinh.

Vào tháng 7 năm thứ 5 là năm nhuận, Chu Đệ ban hành sắc lệnh bắt đầu xây dựng Tử Cấm thành. Chủ trì xây dựng công trình gồm Trần Khuê, Công bộ thị lang Ngô Trung, Hình bộ thị lang Trương Tư Cung, kiến trúc sư Thái Tín. Những nghệ nhân nổi tiếng như thợ điêu khắc đá Lục Tường, thợ nề Dương Thanh và nhiều nghệ nhân khác đã đến Bắc Kinh vào tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 5.[6] Việc xây dựng Tử Cấm thành và cải tạo Bắc Kinh được tiến hành cùng một lúc, dựa trên Kinh đô gốc. Ngay sau khi bắt đầu dự án Tử Cấm thành thì đã bị chậm lại do việc xây dựng Trường Lạc và hai cuộc chinh phạt Mông Cổ năm thứ 8 và thứ 11, mãi đến tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 16 mới bắt đầu khởi động lại.

Vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420), Tử Cấm thành được hoàn thành vào tháng 12. Ngày đầu tiên của tháng âm lịch năm Vĩnh Lạc thứ 19 (1421), Vĩnh Lạc nguyên đô đã hoàn thành; Vào tháng 5 cùng năm, đã có một vụ sét đánh và hỏa hoạn diễn ra, ba điện phía trước bị thiêu rụi.[6] Năm 1440, đời vua Minh Anh Tông niên hiệu Chính Thống thứ 5, tái thiết 3 phần điện phía trước và Điện Càn Thanh.

Năm 1459 (năm Thiên Thuận thứ 3) xây dựng Tây Uyển. Năm 1557 tức năm Gia Tĩnh thứ 36, Tử Cấm thành gặp hỏa hoạn, 3 điện phía trước, Phụng Thiên Môn, Văn Vũ Lâu, Ngọ Môn tất cả đều bị thiêu rụi. Đến năm 1561 mới được xây dựng lại hoàn toàn. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 25 (1597), Tử Cấm thành lại cháy lớn, đốt cháy 3 điện phía trước, tam cung phía sau. Việc khôi phục công trình chỉ hoàn thành cho đến năm Thiên Khởi thứ 7 (1627).[6]

Vào năm Sùng Trinh thứ 17 (1644), Lý Tự Thành chiếm được Bắc Kinh và nhà Minh bị diệt vong. Không lâu sau, Tổng binh (chức quan võ) Sơn Hải Quan nhà Minh là Ngô Tam Quế đã dân quân Thanh vào cửa thành; Lý Tự thành đã phóng hỏa đốt Tử Cẩm thành trước khi rút lui về Thiểm Tây, chỉ có điện Vũ Anh, điện Kiến Cực, điện Anh Hoa, điện Nam Huân, xung quanh Giác Lâu và Hoàng Cực Môn không bị cháy.[7][8]

Cùng năm đó, Hoàng đế Thuận Trị đến Bắc Kinh, lấy Hoàng Cực Môn làm nơi đặt triều đại dài lâu và điện Kiến Cực không bị cháy thành "Vị Dục cung" (位育宫), làm tẩm cung của Thuận Trị; Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn dùng điện Vũ Anh làm nơi bàn công chuyện.[7] Từ năm Thuận Trị thứ nhất đến năm thứ 14, xây dựng lại Ngọ Môn, Thiên An Môn, khu vực chầu tiền tam điện, từ Vị Dục Cung khôi phục làm điện Kiến Cực, đổi tên thành điện Bảo Hòa;đồng thời sửa sang lại Nội đình, đường phía đông và phía tây.[7] Năm Khang Hi thứ 6, xây dựng lại Đoan Môn.

Năm Khang Hy thứ 22 (1683) bắt đầu tái thiết lại một phần các tòa nhà bị phá hủy còn lại trong Tử Cấm thành。

Năm Ung Chính thứ 13 (1735), Thanh Cao Tông (Hoàng đế Càn Long) lên ngôi, trong 60 năm sau đó, Tử Cấm thành được mở rộng và xây dựng lại. Vào năm Gia Khánh thứ 18 (1813), "Thiên Lý Giáo Đồ" Lâm Thanh đã phát động một cuộc binh biến quân sự tấn công Tử Cấm thành.

Vào năm Quang Tự thứ 14 (1886), một đám cháy đã bùng phát từ phòng của lính canh cổng Thái Hòa. Do đồ dùng chữa cháy không hoàn thiện, ngọn lửa đã kéo dài trong hai ngày khiến cổng Thần Vũ, Thái Hòa và điện Chiêu Đức bị thiêu rụi. Thiệt hại phải đến năm Quang Tự thứ 20 mới khôi phục lại.

Vào năm Trung Hoa Dân Quốc đầu tiên (1912), Hoàng đế Phổ Nghi của nhà Thanh vẫn sống trong cung điện sau khi thoái vị.

Tới năm Dân Quốc thứ 13 tức ngày 5 tháng 11 năm 1924, Nhiếp chính nội các Hoàng Phủ tuyên bố tu chính (sửa đổi) Điều kiện ưu đãi Thanh thất thứ 5, phế trừ tôn hiệu Hoàng đế, thỉnh phế đế Phổ Nghi xuất cung. Đại biểu chính phủ Lý Dục Doanh, tư lệnh cảnh vệ kinh đô Lộc Chung Lân, cánh sát tổng giám Trương Bích tiếp quản cung điện vào ngày 6 và niêm phong các di tích văn hóa. Tới khi được Nội các nhiếp chính phê duyệt, sau một năm chỉnh lý thu thập, Bảo tàng Cố Cung đã chính thức khai trương vào ngày Quốc khánh năm Dân quốc thứ 14 (ngày 10 tháng 10 năm 1925).

Kiến trúcSửa đổi

 
Tử Cấm thành nhìn từ đồi Cảnh Sơn phía bắc
 
Sơ đồ Tử Cấm thành. Các ký hiệu màu đỏ để chỉ các địa điểm trong bài.
- – - Đường ước tính phân chia Hậu cung phía Bắc và Tiền triều phía Nam.

Tử Cấm thành có hình chữ nhật, chiều bắc - nam dài 961 m và đông - tây dài 753 m. Nó gồm 980 kiến trúc nhà ở với 8,886 phòng, được bao bọc bởi tường cao 7.9 m và dày 6 m, với hào sâu 52 m. Bốn góc là 4 tòa tháp (E) với kiểu mái phức tạp, tượng trưng cho Đằng Vương các (滕王阁) và Hoàng Hạc lâu (黄鹤楼). Mỗi mặt tường có một cổng: Ngọ môn (午门) (A); Thần Vũ môn (神武门)(B); Đông Hoa môn (东华门)(D) và Tây Hoa môn (西华门)(C).

Tử Cấm thành được chia làm hai phần: Ngoại đình (外廷) (còn gọi là Tiền triều 前朝) phía Nam dành cho các lễ nghi, thiết triều để họp bàn chính sự một cách trọng thể và Nội đình (内廷) (tức Hậu cung 后宫) phía Bắc là nơi ở của Hoàng đế và Hoàng thất, cũng là nơi Hoàng đế và các quan lại họp bàn việc triều chính hàng ngày.

Tiền TriềuSửa đổi

 
Điện Thái Hòa

Đi vào từ Ngọ môn, sẽ thấy một con sông (Kim Thủy) được bắc qua bởi năm cây cầu, dẫn đến Thái Hòa môn, đằng sau là một quảng trường lớn. Phía cuối quảng trường là bậc thang làm bằng đá cẩm thạch trắng, dẫn vào Tam Đại điện (三大殿) là Thái Hòa điện (太和殿), Trung Hòa điện (中和殿) và Bảo Hòa điện (保和殿).[9]. Thái Hòa điện ban đầu có tên là Phụng Thiên điện (奉天殿) là điện lớn nhất, cao 30m so với quảng trường xung quanh, là nơi diễn ra các nghi thức và lễ tế quan trọng. Trung Hòa điện ban đầu có tên là Hoa Cái điện (华盖殿) nhỏ hơn, là nơi Hoàng đế chuẩn bị và nghỉ ngơi trong các buổi lễ. Phía sau là Bảo Hòa điện ban đầu có tên là Cẩn Thân điện (谨身殿), để tập dượt chuẩn bị cho các nghi lễ, và cũng là nơi tổ chức vòng thi cuối cùng của kỳ thi khoa cử. Cả ba điện đều có ngai vàng, và cái lớn nhất được đặt ở Thái Hòa điện.

Phía Tây Nam và Đông Nam của Tiền triều là Võ Anh điện (武英殿) (H) và Văn Hoa điện (文華殿) (J). Võ Anh điện là nơi Hoàng đế gặp các quan đại thần và thiết triều, còn Văn Hoa điện là nơi lưu trữ thư pháp của Hoàng đế. Phía Đông Bắc là Nam tam sở (南三所) (K), là nơi ở của Hoàng thái tử.

Hậu CungSửa đổi

 
Cung Càn Thanh

Hậu cung được phân cách với Tiền triều bởi một sân thuôn dài, là nơi ở của Hoàng đế và Hoàng thất. Ở triều Thanh, Hoàng đế ở và làm việc chủ yếu ở Hậu cung, còn Tiền triều chỉ được sử dụng cho các lễ nghi quan trọng.

Ở trung tâm của Hậu cung là ba cung lớn, gọi là cụm [Hậu tam cung; 后三宫], bao gồm: Càn Thanh cung (乾清宮), Giao Thái điện (交泰殿) và Khôn Ninh cung (坤寧宮). Hoàng đế, biểu thị cho Dương và Trời, ở Càn Thanh cung. Hoàng hậu, biểu thị cho Âm và Đất, ở Khôn Ninh cung. Giao Thái điện ở giữa hai cung, tượng trưng cho sự giao hòa Âm - Dương. Đây là nơi giữ 25 loại ấn quan trọng của nhà Thanh cũng như các vật dụng dùng cho các nghi lễ. Từ thời Ung Chính, Hoàng đế chuyển đến sống tại Dưỡng Tâm điện (养心殿) (N) phía tây để tỏ lòng kính trọng với Khang Hi. Càn Thanh cung trở thành nơi thiết triều của Hoàng đế. Vì vậy, Hoàng hậu cũng rời khỏi Khôn Ninh cung, nơi đây trở thành nơi tổ chức sách lập Hoàng hậu.

Đằng sau ba điện là một khu vườn khá nhỏ, tên là Ngự Hoa viên (M). Phía bắc của khu vườn là Thần Võ môn (B). Xung quanh Dưỡng Tâm điện là nơi làm việc của Bộ Quân Cơ (Quân Cơ Xứ 军机处) và các quan lại chủ chốt.

Mỗi bên Đông và Tây của Càn Thanh cung là sáu cung khác, gọi là Đông lục cung và Tây lục cung. Từ đời Ung Chính, Hoàng hậu sẽ chọn một trong mười hai cung này để ở. Đây còn là nơi ở của các phi tần và con cái của Hoàng đế.

 
Sơ đồ Hậu Cung

Tây lục cung nằm ở phía Bắc của Dưỡng Tâm điện, gồm:[10]

  • Vĩnh Thọ cung (永寿宫) - Palace of Eternal Longevity (1)
    • Vĩnh Thọ môn
    • Chính điện ở tiền viện
    • Đông điện và Tây điện
    • Chính điện ở hậu viện
    • Tỉnh đình (giếng).
  • Dực Khôn cung (翊坤宫) - Palace of Earthly Honour (2)
    • Dực Khôn môn
    • Chính điện (ở tiền viện)
    • Nguyên Hòa Điện (còn gọi là Đạo Đức đường)
    • Thể Hòa điện
    • Bình Khang thất
    • Ích Thọ trai
    • Thủy đình (giếng nước)
  • Trữ Tú cung (儲秀宮) - Palace of Gathering Elegance (3)
    • Thể Hòa điện (體和殿)
    • Phượng Quang thất
    • Y Lan quán
    • Lệ Cảnh hiên (麗景軒)
  • Thái Cực điện / Khải Tường cung (太極殿 / 啟祥宮) - Hall of the Supreme Principle (4)
    • Thể Nguyên điện (體元殿)
    • Thể Hòa điện (體和殿)
  • Trường Xuân cung (长春宫) - Palace of Eternal Spring (5)
    • Chính điện
    • Đông thứ gian
    • Tây thứ gian
    • Đông sao gian (sao gian là gian ở phía ngoài cùng)
    • Tây sao gian
    • Tuy Thọ điện (Ưng Thiên Khánh)
    • Thừa Hi điện (Tuy Vạn Bang)
    • Hí thai (sân khấu kịch)
    • Bình môn (cửa ngăn)
    • Di Tình Thư Sử
    • Ích Thọ trai
    • Lạc Chí hiên
    • Tỉnh đình (giếng)
  • Hàm Phúc cung (咸福宮) - Palace of Universal Happiness (6)
    • Hàm Phúc môn
    • Chính điện
    • Đông điện
    • Tây điện
    • Hậu điện
    • Đông điện, Tây điện (ở hậu viện)
    • Tỉnh đình (giếng)

Đông Lục Cung gồm:[11]

  • Cảnh Nhân cung (景仁宫) - Palace of Great Benevolence (7)
    • Cảnh Nhân môn
    • Đông điện, Tây điện
    • Chính điện (ở hậu viện)
    • Đông điện, Tây điện (ở hậu viện)
    • Phía Tây Nam hậu viện có 1 tỉnh đình (giếng)
  • Thừa Càn cung (承乾宫) - Palace of Heavenly Grace (8)
  • Chung Túy cung (钟粹宫) - Palace of Accumulated Purity (9)
    • Chung Túy môn
    • Chính điện
    • Đông tiền điện
    • Tây tiền điện
    • Hậu điện
    • Đông hậu điện
    • Tây hậu điện
    • Phía Tây Nam khoảng sân trước hậu điện có 1 tỉnh đình (giếng)
  • Diên Hi cung (延禧宫) - Palace of Prolonged Happiness (10)
    • Diên Hi môn
    • Chính điện (ở tiền viện)
    • Đông điện, Tây điện
    • Chính điện (ở hậu viện)
    • Đông điện, Tây điện (ở hậu viện)

Ngoài Diên Hi môn, các công trình trên vào thời Đạo Quang đều bị hỏa hoạn thiêu rụi. 

Diên Hi cung nằm gần Thương Chấn môn - cửa ra vào Tử Cấm thành dành cho cung nữ, thái giám và hạ nhân nên khá ồn ào và phức tạp. Nơi này từng nhiều lần xảy ra hỏa hoạn: năm Đạo Quang thứ 12 (1832), cháy lớn ở phòng bếp phía Nam của Đông điện, năm Đạo Quang thứ 25 (1845), Diên Hi cung xảy ra 1 trận đại hỏa hoạn, thiêu hủy toàn bộ Chính điện, hậu viện cùng với Đông Tây phối điện, tổng cộng 25 gian, cháy gần đến cửa cung. Sau khi trùng tu, đến năm Hàm Phong thứ 5 lại xảy ra hỏa hoạn. Năm Đồng Trị thứ 11 (1872), từng có đề nghị phục kiến Diên Hi cung nhưng chưa thực hiện được.

    • Linh Chiểu hiên (Thủy Tinh cung)
    • Lầu chính
    • Đông lầu
    • Tây lầu
  • Vĩnh Hòa cung (永和宫) - Palace of Eternal Harmony (11)
  • Cảnh Dương cung (景阳宫) - Palace of Great Brilliance (12)
    • Cảnh Dương môn
    • Chính điện (ở tiền viện)
    • Trước chính điện có 1 đài ngắm trăng.
    • Đông điện
    • Tây điện
    • Chính điện (ở hậu viện)
    • Tịnh Quan trai
    • Cổ Giám trai
    • Phía Tây Nam hậu viện có 1 giếng nước.

Ngoài Đông Tây lục cung, Hậu cung còn gồm một số cung, điện khác như:

  • Từ Ninh cung (慈宁宫) Palace of Eternal Longevity (13): Phía Tây Nam của Dưỡng Tâm điện, là nơi ở của Hoàng hậu của các đời vua trước hoặc cũng có thể là mẹ của Hoàng đế tại vị.[12]
  • Thọ Khang cung (寿康宫) (14): Phía Tây Từ Ninh cung, xây dựng từ đời Ung Chính, là nơi ở của phi tần của các đời vua trước hoặc gọi đơn giản là các thái phi.[13]
  • Ninh Thọ cung (宁寿宫) (O): Phía Đông Nam của Hậu cung, xây dựng bởi Càn Long dùng để ở sau khi thoái vị, là một mô hình thu nhỏ của Tử Cấm thành với Tiền triều, Hậu cung và các đền điện. Cửa vào được trang trí bằng hình chín con rồng (Cửu Long Bích 九龙壁)
  • Phụng Tiên điện (奉先殿) (15): Phía Đông Nam của Đông lục cung, là nơi thờ cúng tổ tiên.[14]
  • Khâm An điện (钦安殿) (16): Nằm ở giữa Ngự Hoa viên, là nơi thờ cúng thần linh.[15]

Hình ảnhSửa đổi

Nhiều cảnh phim Hoàn Châu Cách cách hay Diên Hi công lược được lấy bối cảnh tại đây. Phim hoạt hình Công chúa Ori cũng lấy vài bối cảnh của cố cung. Ngoài ra bộ phim Hậu cung Như Ý truyện, Hậu cung Chân Hoàn truyện và 1 số bộ phim khác cũng lấy bối cảnh ở nơi này.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 故宫2017年接待观众逾1699万人次 创历史新纪录 (bằng tiếng zh-hans =China News Service). 31 tháng 12, 2017. Truy cập 24 tháng 3, 2018. 
  2. ^ “北京故宫试行淡季周一闭馆半天”. 新浪网. 7 tháng 1 năm 2013. 
  3. ^ “1900万!故宫年客流量创新高”. 新华网. 
  4. ^ “故宫安保设施已14年没有升级”. 凤凰网. 25 tháng 8 năm 2012. 
  5. ^ 《大高玄殿归还故宫》 Ngày 19 tháng 5 năm 2013 "Thời báo Bắc Kinh"
  6. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên 可爱北京
  7. ^ a ă â 中国建筑工业出版社《中国古代建筑史》清代卷(孙大章主编),第三章《宫殿》,第一节《北京紫禁城宫殿的复建与改建》
  8. ^ 中国建筑工业出版社《中国古代建筑史》明代卷(潘谷西 主编),第二章《宫殿》,第二节《明代宫殿》,p. 113;朱偰《明清两代宫苑建制沿革图考》第一章;《中国营造学社汇刊》第六卷第二期,刘敦桢 考证
  9. ^ p. 48, Yu (1984)
  10. ^ “Six Western Palaces, Xiliugong”. Truy cập 5 tháng 10 năm 2015. 
  11. ^ “Six Eastern Palaces, Dongliugong”. Truy cập 5 tháng 10 năm 2015. 
  12. ^ “慈宁宫_百度百科”. Truy cập 5 tháng 10 năm 2015. 
  13. ^ “寿康宫_百度百科”. Truy cập 5 tháng 10 năm 2015. 
  14. ^ “Hall for Ancestry Worship, Fengxiandian”. Truy cập 5 tháng 10 năm 2015. 
  15. ^ “钦安殿_百度百科”. Truy cập 5 tháng 10 năm 2015. 

Liên kết ngoàiSửa đổi