Thái hậu (chữ Hán: 太后; tiếng Anh: Queen Dowager, Queen Mother, Empress Dowager hoặc Empress Mother) là một tước hiệu, danh từ để chỉ đến mẹ hoặc bà nội của vua tại các quốc gia Hán quyển gồm Trung Quốc, Việt Nam, Nhật BảnHàn Quốc.

Tôn hiệu Thái hậu, qua phân định giữa ["Hoàng"; 皇] và ["Vương"; 王] được chia ra làm hai tước hiệu chính:

Ngoài ra, ["Thái hậu"] cũng là dạng viết tắt của tước hiệu Thái hoàng thái hậu.

Từ nguyênSửa đổi

Khái luận về xuất xứ của danh xưng Thái hậu được đề cập trong Sự vật khởi nguyên (事物紀原) của Cao Thừa (高承) thời nhà Tống:「"Sử ký - Tần bản kỷ viết: Chiêu vương mẫu Mị thị, hiệu Tuyên Thái hậu. Từ đó Vương mẫu đều gọi như vậy"; 《史記秦本紀》曰:昭王母羋氏,號宣太后。王母於是始以為稱。」[1].

Theo đó, thời Tiên Tần, khi Tần Chiêu Tương vương tôn mẹ là Mị thị làm Tuyên Thái hậu, thì khi đó mới có danh vị Thái hậu dùng để gọi mẹ của quân vương. Về sau, Triệu Hiếu Thành vương cũng theo cách của nhà Tần, tôn xưng mẹ ruột Hiếu Uy Thái hậu. Thời Tần vương Chính tại vị, Hoa Dương Thái hậu là tổ mẫu của Quốc vương, nhưng vẫn như cũ được gọi là Thái hậu, có thể thấy vào lúc này chưa có những tôn hiệu cụ thể cho các Tổ mẫu Thái hậu của Quốc vương.

Vào thời nhà Tần, khi Tần vương Chính lên ngôi Hoàng đế, đã quy định mẹ của Hoàng đế gọi là [Hoàng thái hậu]. Song khi đó Hoa Dương Thái hậu đã qua đời, còn mẹ của Thủy Hoàng là Triệu Cơ khi ấy cũng đã qua đời trước khi ông xưng Đế, và Thủy Hoàng chỉ có thể truy tôn bà làm Đế Thái hậu (帝太后). Từ thời nhà Hán, tôn vị quy định của Hoàng thái hậu rất chặt chẽ, và người đầu tiên trở thành Hoàng thái hậu khi còn sống là Lữ hậu - Hoàng hậu của Hán Cao Tổ Lưu Bang.

Chữ 「Thái; 太」, cũng giống chữ 「Đại; 大」, đều mang ý nghĩa to lớn, cộng thêm tư tưởng "Lấy hiếu vị Thiên" đã khiến địa vị của các Thái hậu rất đặc biệt trong triều đình của các quốc gia Đông Á, bao trùm và có khả năng ảnh hưởng đến Hoàng đế. Điều này đã khiến xuất hiện các hiện tượng Thái hậu chuyên quyền, Lâm triều công khai nhiếp chính, có ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa và lịch sử, mà điển hình là Từ Hi Hoàng thái hậu.

Các nước khácSửa đổi

Tại Châu ÂuSửa đổi

Tại Châu Âu, các góa phụ Vương hậu hoặc Hoàng hậu đều được gọi theo tước hiệu kèm 「Dowager」. Từ "Dowager" này, căn cứ theo bộ sách từ điển bách khoa năm 1902, The New International Encyclopædia, họ có giải thích:

  • "DOWAGER (OF. douagiere, from douage, dower, from douer, doer, Fr. douer, It., Lat. dotare, to endow, from Lat. dos, dower). A widow with a dower (q.v.). A title commonly applied only to the widows of persons of high rank. The Queen dowager in Great Britain, as the widow of the King, enjoys most of the privileges which belonged to her as Queen consort; but it is not high treason to conspire her death, because the succession to the crown is not thereby endangered"」.
  • DOWAGER, một góa phụ với của cải mà chồng để lại, nó chỉ dùng như một tước hiệu choc ác góa phụ của đàn ông có địa vị cao. Còn như "Queen dowager" tại Great Britain, vì là góa phụ của một Quốc vương (King), nên họ thừa hưởng các nghi lễ như hồi các bà còn là "Queen consort" (có thể dịch là Vương hậu); nhưng khi âm mưu giết các vị này thì người đó sẽ không bị phán "High treason", vì những người thừa kế (hay tại vị) không bị nguy hiểm tính mạng.

Có thể thấy kể từ khi là góa phụ, các vị Queen cùng Empress chỉ là "Dowager", nên họ không có chuyện càng cao thì hiển nhiên càng lớn như Thái hoàng thái hậu của Đông Á, do vậy họ cũng không được thêm kiểu "Thái hoàng" hay "Thái vương" trước tước hiệu góa phụ của mình. Địa vị của các "Dowager" tại Châu Âu đơn thuần chỉ là góa phụ, và dù họ vì từng là Queen hay Empress mà được tôn trọng, nhưng tính mạng của họ không còn là mối bận tâm lớn nhất nữa, và đôi khi họ cũng không phải lúc nào cũng được hưởng quyền lợi. Cũng có cách gọi đảo "Dowager" lên trước, như 「Dowager Queen」. Những đãi ngộ tiếp tục chỉ được duy trì khi họ có thân phận là mẹ của Tân vương, và lúc này họ thường sẽ được gọi là 「"Queen Mother"」 hay 「"Empress Mother"」, tương đương Vương thái hậu cùng Hoàng thái hậu nếu xét theo tước hiệu triều đại Đông Á.

Do các tước hiệu phụ nữ Châu Âu phần lớn là những tước hiệu nhã xưng (Courtesy title), họ chỉ có được khi hôn nhân, do đó chỉ 「Những người từng là Queen hay Empress mới được gọi thành Queen Dowager (Queen Mother) hay Empress Dowager (hay Empress Mother)」.

Điều ở trên hết sức quan trọng, vì địa vị của Thái hậu ở Châu Âu không phải lúc nào cũng là "mẹ" hay "bà nội" của quân chủ như các triều đại Đông Á. Các triều đại Đông Á dùng quan niệm đánh thép trong phép truyền ngôi là 「Cha truyền con nối」, nên dù "Thái hậu" có liên hệ máu mủ hay không thì Quân chủ được truyền kế vị đều phải xem họ như mẹ cả trên pháp lý, có trường hợp Hiếu Chiêu Thượng Quan hoàng hậu thời Hán Tuyên Đế (Tuyên Đế nhận Hán Chiêu Đế làm Tự phụ); cùng Từ An Hoàng thái hậu - Từ Hi Hoàng thái hậu thời Quang Tự (Quang Tự nhận Hàm Phong làm Tự phụ)[2]. Dĩ nhiên cũng có ngoại lệ, khi quốc chủ muốn tôn dòng dõi cha mẹ hơn bình thường, có Đại lễ nghị của nhà Minh. Thế nhưng trong đại đa số trường hợp thì các triều đại Đông Á đều xem "Cha truyền con nối" làm tọng, vị quốc chủ kế nhiệm đều phải có "thân phận" là con của người tiền nhiệm, hay người tiền nhiệm trước đó nữa.

Những người là "Mẹ của nhà Vua" tại Châu Âu, khi người Vua đó lên ngôi, nếu họ chưa từng là Queen hay Empress thì họ không thể được tôn xưng. Tuy nhiên địa vị "Mẹ của nhà Vua" khiến họ vẫn được tôn trọng tuyệt đối, thậm chí vượt trên "Thái hậu", đây cũng là điểm mấu chốt khiến Châu Âu coi trọng liên hệ thực tế hơn là liên hệ pháp lý. Ví dụ điển hình của chuyện này là Elizabeth Woodville cùng Lady Margaret Beaufort, một là mẹ vợ của Henry VII của Anh, một là mẹ ruột của nhà Vua. Vì là góa phụ của Edward IV của Anh, Elizabeth Woodville được gọi là "Thái hậu", nhưng bà mau chóng bị nhà Vua gạt đi để tôn mẹ ruột là Lady Margaret Beaufort lên trên, tuy vẫn phải dưới Vương hậu Elizabeth xứ York. Thời kỳ Henry VII, Lady Margaret Beaufort được hưởng một danh xưng nhằm nhấn mạnh địa vị "Mẹ của nhà Vua" của bà, là 「My Lady the King's Mother」, có thể được hiểu theo tiếng Việt thành 「"Đức bà Vương mẫu"」 hay 「"Đức bà, Thân mẫu của nhà Vua"」.

Cũng có khi các vị Vua quá phụ thuộc vào mẹ cũng như tôn trọng mẹ, không để các bà chỉ là "góa phụ", nên có nhiều hành động nâng cao địa vị vượt cả vợ mình. Trường hợp này có Quốc vương Charles XI của Thụy Điển đối với mẹ mình, Hedwig Eleonora xứ Holstein-Gottorp. Khi đó ông đã có QueenUlrika Eleonora của Đan Mạch, nhưng ông vẫn để mẹ mình là "The Queen" duy nhất, cùng tôn xưng 「Her Majesty the Queen, My Dear Lady Mother」, cháu trai bà là Charles XII gọi bà là 「"My Gracious Lady Grandmother"」. Catherine de Medici qua 3 đời con đều làm Quốc vương của Vương quốc Pháp, sở dĩ bà vẫn giữ được địa vị là vì bà có danh nghĩa nhiếp chính, tức 「Gouvernante de France」, và tiếp tục duy trì sự ảnh hưởng của mình qua quyền lực thực tế. Có thể nói "đặc quyền" của các Thái hậu tại Châu Âu được quyết định qua bởi bà ấy có được tín nhiệm bởi con trai hay không, có quan hệ máu mủ với Tân vương hay không.

Trung Nam ÁSửa đổi

 
Mô phỏng "triều đình" của một Valide Sultan, Cung điện Topkapı.

Tại các nước theo Hồi giáo như Đế quốc Ottoman hay Đế quốc Mughal, các mẹ của quốc chủ đều được tôn xưng địa vị tuyệt đối. Và vì hai quốc gia này dùng danh xưng bản ngữ, cũng như được phiên dịch qua tiếng Anh, đều tương đương "Hoàng đế" cùng "Hoàng hậu", nên các thân mẫu của quốc chủ đều có thể dịch thoải mái ra thành "Hoàng thái hậu" tương tự các triều đại Đông Á.

Tại chế độ của Đế quốc Ottoman, 「Valide Sultan; والده سلطان‎」, "Mẹ của Sultan" hay "Quốc mẫu", là danh hiệu dành cho những người mẹ còn sống của các Sultan đang trị vì. Và cũng như các triều đại Đông Á, thì danh xưng này như một tước hiệu độc lập và có địa vị trong hoàng thất rất cụ thể, họ thường là đứng đầu của cả hậu cung chứ không chỉ là "góa phụ" như Châu Âu, đồng thời chỉ những mẹ ruột của các vị Sultan mới có được danh xưng này[3]. Và cũng như các triều đại Đông Á xem trọng Nho giáo, lấy chữ "Hiếu" làm đầu và rất coi trọng người mẹ, các vị Sultan theo Hồi giáo cũng xem trọng quyền lợi của mẹ mình[4]. Từ những quan niệm đó, các vị Valide Sultan cũng có quyền hành tuyệt đối trong triều đình, họ đứng trên tất cả phụ nữ trong hậu cung, và khi Sultan còn nhỏ hoặc quá phụ thuộc vào họ thì họ hoàn toàn có thể can thiệp chính trị. Và cho dù 「"Sultan"; والده‎」 được dùng không chỉ mẹ, chị em, con gái của Sultan, mà một số Hậu phi của Sultan cũng được dùng danh xưng này kèm theo tên hiệu riêng. Từ sau thế kỉ 17, hậu cung Ottoman có danh hiệu riêng cho Hậu phi như "Kadin", thì "Sultan" chỉ còn dùng cho mẹ của Sultan cùng chị em hoặc con gái của Sultan mà thôi. Các Valide Sultan cũng là những người phụ nữ duy nhất không phải con gái Sultan mà vẫn có danh xưng này.

Chế độ của Đế quốc Mughal, ngoại trừ danh hiệu 「Padshah Begum」 chỉ dùng cho vợ cả của Hoàng đế, thì cũng không có các danh hiệu thực sự cụ thể dành cho Thê thiếp, kể cả mẹ của Hoàng đế. Thường thấy nhất, từ Chính thê, Thứ thê, Thị thiếp đến con gái của Hoàng đế đều có thành tố Begum sau tên hiệu chính thức, ngoài ra còn có Bai, Mahal, Nazuk Badan,... Tuy nhiên, đa phần lớn trong lịch sử Mughal, gia phong tước hiệu cho Thê thiếp hoặc Đế mẫu chỉ là mỹ hiệu tùy hứng mà không có thứ tự như chế độ Ottoman. Ví dụ Hamida Banu Begum, mẹ của Hoàng đế Akbar, được con trai dâng tôn hiệu 「Maryam Makani」, có nghĩa là "Đức mẹ của hai Thế giới", mẹ của Hoàng đế Shah JahanJagat Gosain được tôn xưng 「Bilqis Makani」, có nghĩa là "Quý phu nhân của nơi Thần thánh Pure Abodes", lại như Hoàng hậu Nur Jahan của Hoàng đế Jahangir ban đầu có phong hiệu 「Nur Mahal」 có nghĩa là "Ánh sáng của Hoàng cung", sau lại chuyển thành như hiện tại có nghĩa "Ánh sáng của Thế giới",... Những tước hiệu này hoàn toàn không có quy luật về địa vị, đơn giản là mỹ hiệu.

Nhân vật đáng chú ýSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 《事物紀原》劵一:「其後趙孝成王新立,亦有太后用事之說。是太后之號,自秦昭王始也。漢襲秦故號,皇帝故亦尊母曰皇太后也。」
  2. ^ Tự phụ, là danh từ chỉ người cha của người con nối dòng xưng hô, chữ "Tự" (嗣) nghĩa là thừa truyền. Xem kỹ bài Trữ quân.
  3. ^ Duy nhất có Perestu Kadın là mẹ nuôi của Abdul Hamid II vẫn được tôn danh xưng.
  4. ^ “Muslims can celebrate Mothers Day because honoring your mother comes right after worshipping God.”. Beliefnet.com. 17 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2015.