Mở trình đơn chính

Minh Thế Tông (chữ Hán: 明世宗, 16 tháng 9, 1507 - 23 tháng 1, 1567), là vị Hoàng đế thứ 12 của nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông cai trị tổng cộng 45 năm, từ năm 1521 tới năm 1567, trở thành một trong những vị Hoàng đế Trung Quốc tại vị trên ngai vàng lâu nhất. Trong suốt thời gian trị vì, ông chỉ dùng một niên hiệuGia Tĩnh (嘉靖), nên chính sử cũng gọi ông là Gia Tĩnh Đế (嘉靖帝).

Minh Thế Tông
明世宗
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
明世宗像.jpg
Tranh vẽ Minh Thế Tông.
Hoàng đế Đại Minh
Tại vị27 tháng 5 năm 152123 tháng 1 năm 1567
(&0000000000000045.00000045 năm, &0000000000000241.000000241 ngày)[1]
Tiền nhiệmMinh Vũ Tông
Kế nhiệmMinh Mục Tông
Thông tin chung
Tên đầy đủ
Chu Hậu Thông (朱厚熜)
Niên hiệu
Gia Tĩnh (嘉靖: 28 tháng 1, 1522 - 8 tháng 2, 1567; &0000000000000045.00000045 năm, &0000000000000011.00000011 ngày)
Thụy hiệu
Khâm Thiên Lý Đạo Anh Nghị Thần Thánh Tuyên Văn Nghiễm Vũ Hồng Nhân Đại Hiếu Túc Hoàng Đế
(欽天履道英毅聖神宣文廣武洪仁大孝肅皇帝)
Miếu hiệu
Thế Tông (世宗)
Triều đạiNhà Minh (明)
Thân phụMinh Duệ Tông
Thân mẫuTừ Hiếu Hiến Hoàng hậu
Sinh(1507-09-16)16 tháng 9, 1507
Hưng vương phủ đệ, Bắc Kinh, Trung Quốc
Mất23 tháng 1 năm 1567(1567-01-23) (59 tuổi)
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Trung Quốc
An tángVĩnh lăng (永陵), Thập Tam Lăng

Trong quãng thời gian nhiều năm đầu cai trị, Thế Tông Gia Tĩnh Hoàng đế tiến hành cải cách, chăm lo quốc sự, chính sách quyết đoán, dẹp trừ hoạn quan, củng cố biên cương, xuất hiện 1 giai đoạn Trung hưng cục diện (中兴局面, Gia Tĩnh trung hưng), đưa Đại Minh quốc đi lên. Nhưng 18 năm cuối cùng trị vì, Thế Tông dần dần bỏ bê chính sự, không buồn thiết triều, pháp kỷ quốc gia cũng dần bị bãi bỏ.

Thân thếSửa đổi

 
Minh Thế Tông Gia Tĩnh Hoàng đế Chu Hậu Thông

Thế Tông Gia Tĩnh Hoàng đế tên thật là Chu Hậu Thông (朱厚熜), sinh ngày 16 tháng 9, năm 1507, là con trai thứ hai và cũng là người con trai duy nhất còn sống của Hưng vương Chu Hữu Nguyên, mẹ là Hưng Vương phi Tưởng thị. Xét theo vai vế, Chu Hậu Thông là em họ của Minh Vũ Tông Chính Đức đế. Chu Hậu Thông hồi nhỏ tính tình nhanh nhẹn, thông minh và biết tiết kiệm, lúc đó đã được vào Hoàng cung nhà Minh vài lần để biết mặt Hoàng đế.

Năm 1519, Hưng vương Chu Hữu Nguyên mất, truy tôn là Hưng Hiến vương (兴献王). Minh Vũ Tông đưa Chu Hậu Thông vào cung sống và Chu Hậu Thông đã thay Chu Hữu Nguyên làm Hưng vương (兴王).

Trong thời gian Minh Vũ Tông trị vì, tuy phi tần rất nhiều nhưng không ai sinh được con cho ông. Đến năm 1521, lúc lâm chung Vũ Tông đã để lại di chiếu cho thủ phụ Dương Đình Hòa để chỉ định em họ mình là Chu Hậu Thông lên kế vị. Cũng trong năm đó, Chu Hậu Thông được Dương Đình Hòa triệu vào cung và lên ngôi, lấy niên hiệu là Gia Tĩnh.

Trị vìSửa đổi

Bài chi tiết: Gia Tĩnh trung hưng

Sau khi Gia Tĩnh Đế kế vị, triều đình xảy ra sự kiện Đại lễ nghị (大礼议), kéo dài từ năm 1521 đến 1524, xoay quanh việc truy tôn thụy hiệu cho cha của Gia Tĩnh là Hưng Hiến vương làm Hưng Hiến đế (兴献帝). Triều đình chia làm hai phái: Hộ lễ duy trì lễ chế phong kiến và Nghị lễ ủng hộ nguyện vọng cá nhân của Hoàng đế. Kết quả Gia Tĩnh dựa vào hoàng quyền hùng mạnh, giành được thắng lợi cuối cùng, những người phản đối bị phạt trượng, bắt giam, đình bổng (cắt lương) và bãi nhiệm. Cuối cùng, Gia Tĩnh Đế có thể truy tôn cho Hưng Hiến vương làm Duệ Tông Hiến Hoàng đế (睿宗獻皇帝), tôn mẫu thân Tưởng phi làm Hưng Quốc Hoàng thái hậu (興國皇太后). Phụng thờ bài vị Duệ Tông được ở tại Thái miếu, đứng trên bài vị của Vũ Tông quá thế.

Tuy Gia Tĩnh lên ngôi lúc mới 15 tuổi và chưa có nhiều kinh nghiệm nhưng nhờ có Dương Đình Hòa làm nhiếp chính, Gia Tĩnh Đế đã sáng suốt vạch ra nhiều tệ nạn xấu thời Vũ Tông. Ngay sau đó, ông đã thực hiện hàng loạt những cải cách mới, sử xưng Gia Tĩnh tân chánh (嘉靖新政). Trong thời kì này, vua nghiêm minh dùng hình, điều chỉnh quan lại, chỉnh đốn luật lệ triều cương, đại xá thiên hạ, nghiêm cấm hoạn quan can dự triều chính, hoàn thiện chế độ khoa cử, giảm kinh phú dịch, thẩm tra trang viên hoàng thân quốc thích, chia công bằng cho dân chúng, củng cố quân đội đẩy lùi ngoại bang.

Mâu thuẫn xã hội dần dần được xoa dịu. Triều chính đổi mới, quốc khố tăng đáng kể, dân chúng ấm no, hạnh phúc. Thần dân thiên hạ tan dương vị vua mới anh minh, ca tụng công lao của Dương Đình Hòa. Triều Minh tạm thời thay đổi một diện mạo mới khiến hết thảy mọi người đều vui mừng. Thời đại này gọi là Gia Tĩnh trung hưng (嘉靖中兴), rất được các sử gia hậu Minh đánh giá cao.

Chỉnh đốn chính trịSửa đổi

Từ thời Minh Tuyên Tông Tuyên Đức Hoàng đế, chính trị rơi vào hình tam giác thế lực: Hoàng đế, văn quan và hoạn quan. Đặc biệt là văn quan, nắm trong tay nhiều quyền lực thông qua sử sách, quy củ, dùng pháp chế để khống chế ngai vị hoàng đế, cũng vì đó mà căn bản khiến các ngôn quan hình thành nên thế lực can chánh trọng yếu.

Từ khi Gia Tĩnh Đế kế vị, đả áp hoạn quan, nghiêm cấm hoạn quan can chính, triệt đi nhiều quyền hành. Điển hình là nhóm hoạn quan Bát hổ từng hoành hành trong thời Chính Đức, ông quyết định tước dần quyền lực của bọn chúng, sau đó lưu đày hoặc bắt phải về quê nghỉ hưu. Đối với văn quan, qua cuộc đại lễ nghị về việc danh vị cho cha mẹ, Gia Tĩnh Đế đả kích tập đoàn văn quan, từ đó nảy sinh sự mâu thuẫn vua tôi. Nhất là Dương Đình Hòa, vốn thuộc phe phái văn quan, ông luôn lo lắng vì thế nào cũng có ngày Gia Tĩnh sẽ hãm hại ông nên Dương Đình Hòa một mặt định làm hòa với vua, một mặt thì định từ quan. Gia Tĩnh nhận ra điều đó nên dần dần bãi trừ đi sự ảnh hưởng của Dương Đình Hòa, buộc ông ta cuối cùng phải quyết định từ quan và rút khỏi triều đình. Cuối cùng, Gia Tĩnh Đế thành lập nên cho mình các viên quan mới, đảm bảo hoàng quyền của mình. Từ thời Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc Đế, vì dùng hoạn quan để giành hoàng vị nên bãi bỏ nhiều quy chế của Minh Thái Tổ Hồng Vũ Đế, để hoạn quan lạm quyền, đến nay Gia Tĩnh Đế nhất quyết theo Hồng Vũ tổ chế, triệt giải hoàn toàn nhân lực gian nịnh đã tích lũy nhiều đời, mở ra cục bộ cải cách toàn diện.

Chỉnh đốn sự tiêu cực của Hàn lâm viện đã tích lũy nhiều năm, Gia Tĩnh Đế đề cao năng lực thực thụ của Nội các Đại học sĩ, hành chỉnh lại thực quyền, đề cao hoàng quyền trung tâm của Hoàng đế. Đối với ngoại thích, Gia Tĩnh phế đi thế lực họ Trương của dòng dõi Hiếu Thành Kính Hoàng hậu, dẹp trừ nạn ngoại thích.

Khoa cử và Văn họcSửa đổi

Đối với chế độ Khoa cử, lấy Khoa bảng làm gốc, Gia Tĩnh Đế sau khi lên ngôi rất xem trọng việc này, nên đã ra sức cải cách và hoàn thiện chế độ khoa cử của nhà Minh. Ông trọng dụng những người ngay thẳng, khích lệ sĩ khí, phát triển giáo dục công năng.

Trong thời Gia Tĩnh, nhiều tác phẩm văn học lớn xuất hiện. Tam quốc diễn nghĩaThủy hử chính là thời kỳ này tạo nên. Lý Thời Trân (李时珍), Lý Khai Tiên (李开先), Từ Văn Trưởng (徐文长) là các văn sĩ nổi danh, tạo nên một thời kỳ văn hóa tự do phóng bút thịnh thế.

 
Hoàng đế Gia Tĩnh trên chiếc xà lan của mình, trong một cuộn sơn được vẽ vào năm 1538 bởi các họa sĩ không rõ danh tính

Đương thời, Gia Tĩnh Đế thập phần coi trọng Vĩnh Lạc đại điển (永乐大典), do bị đốt mất, Gia Tĩnh Đế tiến hành làm bản sao để cất giữ trong cung, ghi chép lại thời kỳ Vĩnh Lạc Đế trị vì về cách thức chính trị.

Nam uy Bắc lỗSửa đổi

Năm 1550, thủ lĩnh Yểm Đáp nhà Bắc Nguyên đem quân làm loạn ở biên giới nhà Minh. Chúng đã chiếm Đại Đồng, Kỳ Châu, Mật VânThông Châu, xông thẳng vào Yên Kinh. Gia Tĩnh lệnh cho đem 2 vạn quân giao cho Binh bộ thượng thư Đinh Nhữ Quỳ đánh dẹp, đồng thời kêu gọi quân đội các nơi đến trợ giúp. Tuy nhiên quân đội chi viện đã nghe theo sự chỉ đạo của gian thần Nghiêm Tung, kiên quyết không ra tiếp ứng, mặc cho quân Yểm Đáp hoành hành cướp phá. Sau 8 ngày cướp bóc liên tục, Yểm Đáp cảm thấy hài lòng nên cho quân rút lui.

Sau Loạn Yểm Đáp, Gia Tĩnh lại phải lo đến hải tặc Nhật Bản đang hoành hành ở bờ biển miền Đông Trung Quốc từ những năm thập niên 1550. Đây là một cuộc nổi loạn của bọn cướp biển Oa khấu của Nhật Bản gồm mấy ngàn tên cầm đầu, bao gồm những thành phần như thương nhân, rōnin, kẻ buôn lậu và có cả binh lính. Tuy nhà Minh gọi chúng là "Oa khấu" nhưng thực tế thì hai phần ba nhân lực của toán cướp này lại là người Trung Quốc. Trước đây, nhà Minh từng thiết lập chính sách hạn chế thương mại phi nhà nước với Nhật Bản để dập tắt nạn Oa khấu, trong khi vẫn cho phép buôn bán chính thức theo con đường nhà nước, gọi là Hải cấm. Tuy nhiên, những hạn chế nghiêm ngặt về những hoạt động giao thương trên biển đã nhiều thương gia Trung Hoa lén buôn bán phi pháp với Nhật Bản, để tự bảo vệ quyền lợi của mình. Việc này dẫn đến sự hình thành giai đoạn hai của Oa khấu, khi hải tặc Nhật Bản đồng lõa với hải tặc Trung Hoa và bành trướng lực lượng. Trong thời kỳ này, lực lượng và giới lãnh đạo Oa khấu thay đổi rõ rệt, với thành phần người Trung Quốc tăng lên rất nhiều. Đám cướp này từng đi quấy rối nhiều nước lân cận như Nhật Bản, Triều Tiên và bắt đầu chuẩn bị cướp phá hải phận của Trung Quốc. Nghe tin đó, năm 1552, Gia Tĩnh nghe lời các đại thần, tập trung một đội quân thường trực mạnh để bảo vệ vùng biển.

Năm 1554, giặc Oa đổ bộ vào đất Trung Quốc, đánh tan quân triều đình nhà Minh ở bờ biển, uy hiếp hai thành phố lân cận Nam KinhHàng Châu. Gia Tĩnh vô cùng lo lắng, phái quân đàn áp mãi nhưng không tiêu diệt được. Năm 1555, quân Nhật lại tấn công Hàng Châu, quân giặc hung hãn tấn công ào ạt như sóng dữ, giết chết nhiều người dân. Nhà Minh lại phái quân đàn áp, cũng bị chúng đánh bại. Năm 1556, thành Đồng Hương thất thủ. Năm 1553, Gia Tĩnh đòi Bộ binh thượng thư Nam Kinh là Trương Kinh đi tuần ở bờ biển, sau vì nghe lời gièm pha của con trai gian thần Nghiêm Tung là Triệu Văn Hoa. Gia Tĩnh đã chém đầu Trương Kinh vì lý do Sợ giặc làm lỡ cơ hội.

Lúc hải tặc Nhật Bản chưa dẹp yên thì trong quân đội triều Minh xuất hiện danh tướng lừng danh Thích Kế Quang. Ông ta huấn luyện quân lính nghiêm khắc và rất có tài thao lược, lại yêu thương quân sĩ hết lòng, Gia Tĩnh cho phép ông làm tổng chỉ huy. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Thích Kế Quang cùng các tướng Du Đại DuLưu Hiển, quân đội nhà Minh đã tạo nên chiến thuật "uyên ương trận", liên tục chiếm ưu thế nên mấy lần đánh Oa khấu đều thắng. Đầu năm 1558, quân Minh đánh thắng Oa khấu trong trận quyết định ở Chiết Giang, Phúc Kiến và đốt cháy thuyền chiến của chúng, tiêu diệt tổng cộng hơn mấy ngàn tên cướp. Giặc Oa cuối cùng cũng được dẹp yên.

Sùng phụng Đạo giáoSửa đổi

 
Một chiếc bình sứ với thiết kế cá tráng men, từ thời Gia Tĩnh.

Gia Tĩnh Đế sau nhiều năm trị vì, vào tuổi trung niên bắt đầu lao vào cuộc sống phóng túng, ăn chơi vô độ, không còn lưu tâm đến chính sự. Ông đâm ra mê đắm Đạo giáo, lạm dụng nhân sĩ, tôn sùng Đạo giáo trong cung, luyện đơn dược để mong trường sinh bất lão. Trong thời gian này, Gia Tĩnh đã xây dựng ba ngôi đền Đạo giáo bao gồm Nhật Đàn, Địa ĐànNguyệt Đàn và mở rộng diện tích của Thiên Đàn. Gia Tĩnh ngoài mê tín Đạo giáo, còn tin tưởng vào điềm lành. Rất nhiều tiểu nhân, gian thần đã bịa đặt ra điềm lành để được hoàng đế ban thưởng, còn những người có ý khuyên can như Hộ bộ chủ sự Hải Thụy thì bị tống vào nhà lao. Nhân sĩ Đào Trọng Văn (陶仲文) và nịnh thần Cố Khải Học (顾可学) do yêu mị chiều chuộng Gia Tĩnh, dần được cất nhắc chức vị.

Gia Tĩnh cũng ham muốn bất tử nên ông cho mời rất nhiều phương sĩ vào cung luyện đan. Do yêu cầu về nguyên liệu luyện đơn dược là lấy kinh lần đầu của phụ nữ, Gia Tĩnh thường xuyên sỉ nhục hành hạ các cung nữ và đối xử rất tàn bạo với họ. Có lần vào năm 1542, nhiều cung nữ vì quá oán hận hoàng đế nên nhân lúc vua đang ngủ đã cùng nhau xông vào hoàng cung lấy dải lụa siết cổ ông cho chết, nhưng bọn họ lại sơ ý thắt nhầm nút chết, nên may thay Gia Tĩnh chỉ ngất đi chứ chưa chết hẳn. Trong lúc ông chưa hồi tỉnh, tất cả các cung nữ tham gia vào vụ phản nghịch này đều bị triều đình xử tội chết. Đây là vụ Nhâm Dần cung biến (壬寅宮變) nổi tiếng trong lịch sử.

Do Gia Tĩnh bỏ bê chính sự nên khi nghe được lời gièm pha của gian thần 48 tuổi là Nghiêm Tung (严嵩), ông đã giao hết chính sự cho hắn vào năm 1539. Nghiêm Tung tuy mưu mô xảo quyệt nhưng lại là kẻ bất tài. Nhưng hắn đã chuyên chánh trong nhiều năm, tàn hại nhiều trung lương như Hạ Ngôn (夏玲), Dương Kế Thịnh (楊繼盛) và Thẩm Luyện (沈鍊). Sự tôn sùng của hoàng đế đối với Đạo giáo đã trở thành gánh nặng tài chính nặng nề cho chính quyền nhà Minh, khiến triều chính dần dần đi xuống, phong trào nhân dân đấu tranh chống triều đình ngày càng mạnh mẽ, nổi bật là Khởi nghĩa thợ mỏ Sơn Đông (山東礦工起義), Khởi nghĩa Trần Khanh (陳卿起義), Khởi nghĩa Thái Bá Quán (蔡伯貫起義).

Trận động đất kinh hoàng nhất mọi thời đại, trận động đất Thiểm Tây 1556 đã làm chết hơn 800.000 người, xảy ra dưới triều đại của Gia Tĩnh.

Diệt họ NghiêmSửa đổi

Do trung thần Hạ Ngôn khi còn sống từng tiến cử Từ Giai với Gia Tĩnh cho nên sau khi lật đổ Hạ Ngôn, Nghiêm Tung rất cảnh giác với ông ta. Từ Giai thấu hiểu được tình hình này nên bên ngoài vẫn tỏ ra vui vẻ thân thiện, không có biểu hiện gì chống đối Nghiêm Tung. Nghiêm Tung thấy vậy rất hài lòng, nghĩ rằng Từ Giai không có ý hại mình, liền tâu vua xin thăng chức cho Từ Giai lên làm Lễ bộ thượng thư Đông Các đại học sỹ, cho phép tham dự triều chính. Tuy nhiên bản thân Nghiêm Tung cũng không ngờ rằng Từ Giai đang tìm cách để trừ khử y.

Đầu năm 1560, Vĩnh Thọ cung nơi Gia Tĩnh Đế ở bị hỏa hoạn, ông đành chuyển qua sống ở Điện Ngọc Hy. Điện này vừa nhỏ vừa thấp, lại thiết kế sơ sài, không chắc chắn. Gia Tĩnh hỏi Nghiêm Tung, Nghiêm Tung khuyên Gia Tĩnh Đế đừng xây lại Vĩnh Thọ cung mà qua ở tạm tại Thành Nam cung (nơi mà Minh Anh Tông ở lúc trước khi mất ngôi hoàng đế). Gia Tĩnh tỏ ra không hài lòng điều này nên lại hỏi Từ Giai (徐階), y khuyên Gia Tĩnh nên cố chịu sống tạm ở Ngọc Hy điện một năm để lấy thời gian đó mà xây dựng lại cung Vĩnh Thọ. Gia Tĩnh thấy rất có lý nên bằng lòng. Năm 1561, Vĩnh Thọ cung đã hoàn thành, Gia Tĩnh đã đổi tên nó thành Vạn Thọ cung, ban thưởng rất hậu cho Từ Giai và trách Nghiêm Tung là kẻ tối dạ. Nghiêm Tung bắt đầu lo lắng cho địa vị sau này của mình.

Sự xuất hiện của một hàng loạt nhân tài khiến Gia Tĩnh thay đổi thái độ với Nghiêm Tung. Hắn bị thất sủng và dần bị cô lập hoàn toàn trong triều. Các đại thần trong triều cũng căm ghét ông ta, họ muốn kiên kết với nhau để trừ khử gia đình họ Nghiêm. Gia Tĩnh nhận ra nguyện vọng của các quần thần, liền hỏi Đại học sĩ Từ Giai, Thích Kế Quang và các đại thần cách trừng trị Nghiêm Tung, họ đồng thanh đáp: "Tội ác của cha con họ Nghiêm nhiều không kể xiết, bệ hạ nên xử lý thật đúng đắn và dứt khoát, nếu không hậu họa sẽ khó lường".

Gia Tĩnh làm theo lời Từ Giai, hạ lệnh cách chức Nghiêm Tung vào tháng 4 năm 1562 và ép phải từ quan về quê, đồng thời tống con ông ta là Nghiêm Thế Phan vào ngục, sau đày hắn tới bán đảo Lôi Châu, Quảng Đông. Như vậy, Gia Tĩnh đã trừng trị hết cha con họ Nghiêm. Sau khi lật đổ cha con Nghiêm Tung, Đại học sĩ Từ Giai nắm triều chính, với nhiều chính sách đổi mới của Từ Giai, triều Gia Tĩnh đã khởi sắc trong 5 năm cuối cùng.

Qua đờiSửa đổi

Về cuối đời, Gia Tĩnh rất khát khao được trường sinh bất lão. Để thỏa mong ước này, ông nhiều lần uống thuốc chế từ thủy ngân. Sau một thời gian dài uống thuốc, sức khỏe của hoàng đế bắt đầu suy kiệt; tứ chi sưng phù, sắc mặt xám xịt, chân bước không vững, nói năng cũng rất khó khăn.

Tháng giêng năm 1565, đạo sĩ Vương Kim (王针) ở Thiểm Tây đã bào chế ra thuốc kim thạch dựa vào Chư phẩm tiên phương, Dưỡng lão tân thư mà ông ta tự bịa ra. Thành phần của loại thuốc này không rõ ràng, sau khi Gia Tĩnh uống vào cảm thấy chóng mặt hoa mắt, chảy máu ở mũi, bất tỉnh, sau đó thì nằm liệt giường.

Năm 1567, Gia Tĩnh lại uống rất nhiều thuốc kim thạch để trường thọ nhưng sau đó trúng độc rất nặng, nhiều ngự y bó tay vì ông uống quá liều. Cuối cùng, vào ngày 23 tháng 1, một tuần trước Tết Nguyên Đán, Gia Tĩnh Đế lâm bệnh nặng và qua đời ở cung Vạn Thọ, thọ 60 tuổi.

Gia Tĩnh được dâng miếu hiệuThế Tông (世宗), thụy hiệuKhâm Thiên Lý Đạo Anh Nghị Thần Thánh Tuyên Văn Nghiễm Vũ Hồng Nhân Đại Hiếu Túc Hoàng đế (欽天履道英毅聖神宣文廣武洪仁大孝肅皇帝), được an táng ở Vĩnh Lăng (永陵) trong Thập Tam Lăng.

Thái tử Chu Tái Hậu lên kế vị, tức Minh Mục Tông.

Nhận địnhSửa đổi

Mặc dù thời gian cai trị 45 năm của Gia Tĩnh phần lớn đã mang lại cho Trung Quốc một giai đoạn thái bình và ổn định lâu dài, nhưng sự thờ ơ chính sự của ông vào những năm cuối đời đã gián tiếp dẫn đến sự suy tàn của vương triều nhà Minh vào đầu thế kỷ 17. Phong cách trị nước của ông đã được cháu nội Minh Thần Tông mô phỏng trong thời gian tại vị của mình.

Hình ảnh trong nghệ thuậtSửa đổi

Gia Tĩnh được miêu tả trong các bức tranh chân dung của triều đình đương đại, cũng như trong các tác phẩm nghệ thuật khác. Ví dụ, trong bức tranh toàn cảnh dưới đây, Hoàng đế có thể được nhìn thấy trong nửa bên phải cưỡi một con ngựa đen và đội mũ bảo hiểm. Ông được phân biệt từ đoàn tùy tùng vệ sĩ của mình với một lực lượng hùng hậu.

Nguyên bản – Bức tranh miêu tả cảnh Minh Thế Tông đi thăm Thập Tam Lăng với một đội kỵ binh khổng lồ và một chiếc xe ngựa kéo.

Gia quyếnSửa đổi

  • Thân phụ: Hưng Hiến vương Chu Hữu Nguyên, sau truy tôn làm Duệ Tông Hiến Hoàng đế (睿宗獻皇帝).
  • Thân mẫu: Từ Hiếu Hiến Hoàng hậu Tưởng thị (慈孝獻皇后, ? - 1538), người Đại Hưng, con gái của Trung binh mã Chỉ huy sứ Ngọc Điền bá Tưởng Ninh (蔣斅), chính thất của Hưng vương.Sau khi Gia Tĩnh Đế kế vị, tấn tôn Hưng Quốc Hoàng thái hậu (興國皇太后).
  • Hoàng hậu:
  1. Hiếu Khiết Túc Hoàng hậu Trần thị (孝洁肃皇后陈氏, 1508 - 1528), người Nguyên Thành, con gái của Tú tài Trần Vạn Ngôn (陳萬言). Tư sắc mỹ lệ, nhưng bị sẩy thai liên tục khiến Gia Tĩnh Đế ghét bỏ, có ý phế đi, nhưng quần thần can ngăn. Sau khi qua đời, sơ thụy Điệu Linh hoàng hậu (悼灵皇后), táng ở chỗ của Hoàng quý phi. Về sau Minh Mục Tông đã an táng lại Trần hoàng hậu theo đúng lễ nghi, cải thụy thành Hiếu Khiết (孝洁).
  2. Phế Hoàng hậu Trương thị (廢后張氏, ? - 1537), nhập cung cùng với Trần hoàng hậu và Cung phi Văn thị, lập làm Thuận phi (顺妃). Sau khi Trần Hoàng hậu băng được 3 tháng, được lập làm Hoàng hậu, đến năm 1534 thì bị phế. Có thuyết vì Trương hoàng hậu nói giúp em trai của Hiếu Thành Kính Hoàng hậu, khiến Gia Tĩnh Đế đại nộ.
  3. Hiếu Liệt Hoàng hậu Phương thị (孝烈圣皇后方氏, 1516 - 1547), người Giang Ninh, cha là Phương Thái (方泰). Năm 1531, Phương thị cùng 8 người nữa nhập cung, sách phong Đức tần (德嫔), đứng đầu Cửu tần. Sau khi Trương hoàng hậu bị phế, bà được lập làm Kế hoàng hậu, ra mắt tông miếu yết lễ.
  4. Hiếu Khác Hoàng hậu Đỗ thị (孝恪皇后杜氏, 1510 - 1554), nhập cung làm Khang tần (康嫔), sau phong Khang phi (康妃). Khi mất, truy phong Vinh Thục Khang phi (荣淑康妃). Sinh mẫu của Minh Mục Tông. Mục Tông kế vị truy phong làm Hiếu Khác Hoàng hậu.
  • Phi tần:
  1. Trang Thuận Hoàng quý phi Thẩm thị (莊順皇貴妃沈氏, 1520 - 1581), nhập cung năm 1531, sách phong Hy tần (僖嫔). Năm 1534, được tấn phong làm Thần phi (宸妃), rồi Quý phi (贵妃). Năm 1540, cùng Vương Quý phi đồng tấn thăng làm Hoàng quý phi. Năm 1542, Đoan phi Tào thị bị xử lăng trì, bà nhận nuôi con gái của Đoan phi là Ninh An Công chúa đến khi Công chúa xuất giá. Qua đời thọ 60 tuổi, thụy đầy đủ là Trang Thuận An Vinh Trinh Tĩnh Hoàng quý phi (庄顺安荣贞静皇貴妃).
  2. Vinh An Hoàng quý phi Diêm thị (榮安皇貴妃阎氏, ? - 1541), người Sơn Tây. Nhập cung năm 1531, Diêm thị được phong Lệ tần (丽嫔). Năm 1534, tấn phong Lệ phi (丽妃), vài năm sau tấn phong Quý phi (贵妃), khi chết truy tặng Hoàng quý phi. Sinh ra Ai Trùng Thái tử.
  3. Đoan Hòa Hoàng quý phi Vương thị (端和皇貴妃王氏, ? - 1553), nhập cung năm 1531, sách phong Trang tần (莊嫔). Năm 1536, sách phong Chiêu phi (昭妃). Năm 1540, cùng Thẩm thị sách phong Hoàng quý phi. Bà sinh ra Trang Kính Thái tử.
  4. Cung Hi Trinh Tĩnh Quý phi Văn thị (恭僖貞靖貴妃文氏), cung nữ của Tưởng Thái hậu. Sau khi Thái hậu qua đời, Gia Tĩnh Đế lập làm Kính phi (敬妃), sau tấn phong Quý phi (貴妃). Sau khi mất, táng ở Điệu lăng.
  5. Vinh An Quý phi Mã thị (榮安貴妃馬氏).
  6. Quý phi Chu thị (貴妃周氏).
  7. Điệu Ẩn Cung phi Văn thị (悼隱恭妃文氏, ? - 1532), cha là Văn Vinh (文荣), do Văn thị đắc sủng nên được thăng làm Tứ phẩm Cẩm y vệ Đới bổng Chỉ huy thiêm sự, mẹ là Quách thị. Năm 1522, nhập cung cùng Hiếu Khiết Túc Hoàng hậu Trần thị và Thế Tông Trương Hoàng hậu, sách phong Cung phi (恭妃). Sau vì có tội mà bị giam trong cung, qua đời khi hơn 20 tuổi, bị đưa tang theo lễ Tần vị. Không có con.
  8. Hoài Vinh Hiền phi Trịnh thị (懷榮賢妃鄭氏, ? - 1536), nhập cung làm Hiền tần (贤嫔). Mất sớm, truy phong Hiền phi.
  9. Vinh Chiêu Đức phi Trương thị (榮昭德妃張氏).
  10. Đoan Tĩnh Cung Huệ Thục phi Trương thị (端靜恭惠淑妃張氏).
  11. Cung Thục An Hy Vinh phi Dương thị (恭淑安僖荣妃楊氏, ? - 1566), vốn là cung nữ, về sau bị chết trong đám cháy, được Gia Tĩnh truy phong làm Vinh phi.
  12. Cung Hy Lệ phi Vương thị (恭僖麗妃王氏, ? - 1553).
  13. Đoan Huệ Vĩnh phi Từ thị (端惠永妃徐氏).
  14. Tào Đoan phi (曹端妃, ? - 1542), tư sắc diễm lệ, vốn là sủng phi của Minh Thế Tông, về sau bị Phương Hoàng hậu tuyên xử lăng trì do thông đồng trong vụ Nhâm Dần cung biến (壬寅宮變). Sinh ra Thường An Công chúaNinh An Công chúa.
  15. Lư Tĩnh phi (盧靖妃. ? - 1588), xuất thân bình dân. Lư thị nhập cung năm 1531, sách phong Hòa tần (和嫔), sau phong Tĩnh phi. Sinh ra Tứ hoàng tử Cảnh Cung vương Chu Tái Quyến.
  16. Giang Túc phi (江肅妃), cha là Cẩm y vệ Đô chỉ huy thiêm sự Giang Dương (江洋). Sơ phong Cung tần (恭嫔). Bà sinh ra Ngũ hoàng tử Dĩnh Thương vương Chu Tái Lữ.
  17. Triệu Ý phi (趙懿妃, ? - 1569).
  18. Triệu Vinh phi (趙荣妃).
  19. Trần Ung phi (陳雍妃, ? - 1586).
  20. Trần Tĩnh phi (陳靜妃, ? - 1550).
  21. Vương Ninh tần (王宁嫔, ? - 1542), bị xử lăng trì cùng Tào Đoan phi.
  22. Vương Dụ tần (王裕嫔).
  23. Tống Lệ tần (宋丽嫔).
  24. Dư Vinh tần (余榮嬪).
  25. Quách Ninh tần (郭寧嬪).

Hậu duệSửa đổi

Hoàng tửSửa đổi

TT Họ tên Tước vị Sinh Mất Mẹ Ghi chú
1 Chu Tái Cơ
朱載基
Ai Trùng Thái tử
哀沖太子
tháng 8, 1533 tháng 10, 1533 Vinh An Hoàng quý phi Chết non, táng tại Thiên Thọ Sơn, Thập tam lăng
2 Chu Tái Duệ
朱載壡
Trang Kính Thái tử
莊敬太子
1536 tháng 4, 1549 Đoan Hòa Hoàng quý phi Năm 1549, Thế Tông làm lễ trưởng thành cho Hoàng tử. Trong buổi lễ, bị cảm lạnh rồi qua đời 2 ngày sau đó
Táng tại Thiên Thọ Sơn, Thập tam lăng
3 Chu Tái Hậu
朱載垕
Mục Tông Trang Hoàng đế
穆宗莊皇帝
4 tháng 3, 1537 5 tháng 7, 1572 Hiếu Khác Hoàng hậu
4 Chu Tái Quyến
朱載圳
Cảnh Cung vương
景恭王
29 tháng 3, 1537 9 tháng 2, 1565 Lư Tĩnh phi Là một trong hai người con được phong Vương duy nhất còn sống của Thế Tông, không có con cái
5 Chu Tái Lỗ
朱載𪉖
Dĩnh Thương vương
颍殇王
8 tháng 9, 1537 8 tháng 9, 1587 Giang Túc phi Là một trong hai người con được phong Vương duy nhất lúc còn sống, được Hiếu Định Hoàng hậu chỉ định Chu Dực Lưu làm con thừa tự.
6 Chu Tái ? Thích Hoài vương
戚怀王
1 tháng 10, 1537 5 tháng 8, 1538 Triệu Ý phi Chết non
7 Chu Tái Quỳ
朱载㙺
Kế Ai vương
蓟哀王
29 tháng 1, 1538 14 tháng 2, 1538 Trần Ung phi Chết non
8 Chu Tái Túc Quân Tư vương
均思王
23 tháng 8, 1539 16 tháng 4, 1540 Triệu Vinh phi Chết non

Hoàng nữSửa đổi

TT Tước vị Họ tên Sinh Mất Năm kết hôn Phu quân Mẹ Ghi chú
1 Thường An Công chúa
常安公主
Chu Thọ Anh
朱壽媖
1536 1549 Tào Đoan phi Mất khi còn trẻ, chưa thành hôn
2 Tư Nhu Công chúa
思柔公主
Chu Phúc Viên
朱福媛
1538 1549 Vương Huy phi Mất sớm
3 Ninh An Công chúa
宁安公主
Chu Lộc Trinh
朱禄媜
1539 1607 1555 Lý Hoà (李和) Tào Đoan phi Con trai là Lý Thừa Ân (李承恩)
4 Quy Thiện Công chúa
归善公主
Chu Thụy Vinh
朱瑞嬫
1541 1544 Trần Ung phi Chết yểu
5 Gia Thiện Công chúa
嘉善公主
Chu Tố Chân
朱素嫃
1541 1564 1559 Hứa Tụng Thành (许从诚) Vinh An Đức phi Còn xưng là Yên Thái Công chúa (安泰公主)

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Ghi chú chung: Ngày tháng ở đây được lấy theo lịch Julius. Nó không phải là lịch Gregory đón trước.