Mở trình đơn chính

Wikipedia β

Đế quốc Bồ Đào Nha là đế quốc ra đời sớm nhất và kéo dài nhất trong lịch sử những đế quốc thực dân Châu Âu, kéo dài gần 6 thế kỉ, bắt đầu từ vụ chiếm Ceuta năm 1415 đến cuộc giao trả Ma Cao cho Trung Quốc Đại Lục năm 1999.

Đế quốc Bồ Đào Nha
Império Português
Portuguese coat of arms (1481–1910)
Quốc huy
     thực sự sở hữu     khám phá     khu vực chịu ảnh hưởng và thương mại     lãnh thổ thừa nhận     các trạm giao thương      vùng biển chính được khai phá và khu vực ảnh hưởng.
     thực sự sở hữu
     khám phá
     khu vực chịu ảnh hưởng và thương mại
     lãnh thổ thừa nhận
     các trạm giao thương
     vùng biển chính được khai phá và khu vực ảnh hưởng.
Thủ đô Lisboaa
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Bồ Đào Nha
Chính phủ Chủ nghĩa thực dân
 -  Vua
 -  Tổng thống
Mốc sự kiện
 -  Cuộc xâm chiếm Ceuta 1415 
 -  Đường biển đến Ấn Độ 1498 
 -  Khám phá Brasil 1500 
 -  Liên minh Iberia 1580–1640 
 -  Chiến tranh Anh-Tây Ban Nha 1585–1604 
 -  Chiến tranh Hà Lan-Bồ Đào Nha 1588–1654 
 -  Cuộc chiến tranh Phục hồi 1640–1668 
 -  Brasil độc lập 1822 
 -  Mất tỉnh Ấn Độ 1961 
 -  Chiến tranh thuộc địa Bồ Đào Nha 1961–1974 
 -  Cách mạng Hoa cẩm chướng 1974–1975 
 -  Nhượng lại Ma Cao 1999 
a. ^ Thủ đô được đặt de facto tại Rio de Janeiro từ năm 1808 đến năm 1821.
Bản đồ giả về Đế quốc Bồ Đào Nha (1415-1999). Đỏ - thực sự sở hữu; Hồng - khai phá, khu vực ảnh hưởng và thương mại và tuyên bố chủ quyền; Xanh - vùng biển chính được khai phá và khu vực ảnh hưởng. Sự khám phá ra châu Úc đang được tranh cãi nên không hiển thị ở đây.

Những nhà thám hiểm Bồ Đào Nha bắt đầu thám hiểm eo biển Châu Phi năm 1419, đặt nền tảng cho sự phát triển của ngành hàng hải, nghiên cứu bản đồ và công nghệ hàng hải (như thuyền buồm), mục đích là để họ có thể tìm được một lộ trình đường biển tới những nguồn giao thương các sản phẩm gia vị. Năm 1488, Bartolomeu Dias đi vòng quanh mũi Hảo Vọng, và tới năm 1498, Vasco da Gama đặt chân tới Ấn Độ. Năm 1500, do một cuộc cập bến tình cờ vào bờ biển Nam Mỹ, vì mục đích bí mật của quốc vương, Pedro Álvares Cabral đã phát hiện và thành lập thuộc địa Brasil. Qua vài thế kỷ sau đó, những thủy thủ Bồ Đào Nha tiếp tục thám hiểm các đảo và eo biển tại Đông Á, họ đã lập nên những công sự và trạm giao thương khi đi qua những nơi đó. Vào năm 1571, một chuỗi các tiền đồn đã kết nối Lisboa với Nagasaki: đế chế này đã thực sự có tầm ảnh hưởng toàn cầu, quá trình đó đã đem về một sự thịnh vượng cho đất nước Bồ Đào Nha.

Giữa giai đoạn 1580 và 1640, Bồ Đào Nha trở thành đối tác bậc dưới với Tây Ban Nha trong liên minh Iberia của quốc vương hai nước. Mặc dù hai đế chế tiếp tục được điều hành riêng biệt, những thuộc địa của Bồ Đào Nha trở thành mục tiêu tấn công của ba đế quốc châu Âu hùng mạnh đồng thời là đối thủ sừng sỏ của Tây Ban Nha là: Hà Lan (tham gia chiến tranh Độc Lập chống Tây Ban Nha), AnhPháp. Vì có dân số nhỏ hơn, Bồ Đào Nha đã không thể bảo vệ hệ thống kết nối những trạm giao thương và các đại lý ở nước ngoài, vì vậy đế chế này bắt đầu dần suy tàn. Việc đánh mất Brasil năm 1822-thuộc địa lớn và thu lợi nhiều nhất của Bồ Đào Nha-vào thời điểm các phong trào Độc lập đang lan tỏa khắp châu Mỹ, là một đòn giáng mạnh vào Bồ Đào Nha và đế chế của nó mà sau đó đã không bao giờ có thể phục hồi được nữa.

Cuộc tranh giành châu Phi bắt đầu cuối thế kỉ 19 đã để lại cho Bồ Đào Nha một ít thuộc địa tại lục địa này. Sau đệ nhị thế chiến, độc tài quân sự cánh tả Bồ Đào Nha là António Salazar đã cố gắng duy trì đê chế Bồ Đào Nha khi mà các quốc gia châu Âu khác đang bắt đầu rút khỏi những thuộc địa của họ. Năm 1961, một lực lượng nhỏ quân Bồ Đào Nha đóng tại Goa đã không thể chặn quân Ấn Độ tiến vào thuộc địa, nhưng Salazar quyết định tiến hành một cuộc chiến dài và đẫm máu nhằm dập tắt các lực lượng chống chủ nghĩa thực dân tại các thuộc địa Phi Châu. Cuộc chiến này kéo dài cho đến tận cuộc lật đổ chế độ cai trị Bồ Đào Nha năm 1974, được biết đến với cái tên cách mạng hoa Cẩm Chướng. Sau cuộc lật đổ, chính quyền mới lập tức thay đổi chính sách và công nhận nền độc lập cho tất cả các thuộc địa, bao gồm Đông Timor, rồi trao trả Ma Cao về Trung Quốc năm 1999, đánh dấu sự chấm hết của đế chế Bồ Đào Nha.

Cộng đồng các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha (CPLP) chính là sự kế thừa về văn hóa của đế chế Bồ Đào Nha.

Mục lục

Nguồn gốc (1139–1415)Sửa đổi

 
Cuộc xâm chiếm Ceuta, 1415, dẫn đầu bởi Henrique Nhà hàng hải, và thứ mấu chốt khởi phát đế quốc Bồ Đào Nha.

Ngọn nguồn của Vương quốc Bồ Đào Nha xuất phát từ reconquista, cuộc tái chiếm từ từ bán đảo Iberia từ Al-Andalus.[1] Sau khi nó được thiết lập như một vương quốc tách biệt vào năm 1139, Bồ Đào Nha đã hoàn thành việc tái chiếm lãnh thổ từ người Moor vào năm 1249, chiếm lại được Algarve. Tuy nhiên, nền độc lập của vương quốc tiếp tục bị đe dọa bởi người láng giềng Castile cho đến tận Hòa ước Ayllón năm 1411.[2]

Giải thoát khỏi các mối đe dọa sự tồn tại của mình và không bị thách thức bởi các cuộc chiến tranh của các nước Châu Âu khác, Bồ Đào Nha hướng sự chú ý về phía biển và việc khai phá quân sự những vùng đất Hồi giáo Bắc Phi.[3] Đã có rất nhiều lý do có thể có để họ thực hiện cuộc tấn công đầu tiên của họ lên vương triều Marinid (Maroc ngày nay). Nó cho họ cơ hội tiếp tục các cuộc thập tự chinh chống lại đạo Hồi; đối với giới quân đội, nó hứa hẹn sự vinh quang trong chiến đấu và chiến lợi phẩm;[4] và đây cũng là một cơ hội để Bồ Đào Nha mở rộng giao thương và giải quyết suy thoái kinh tế.[3]

Năm 1415, một cuộc tấn công được tiến hành lên Ceuta, một lãnh thổ Hồi giáo Bắc Phi chiến lược dọc biển Địa Trung Hải, là một trong các trạm cuối của đường giao thương vàng và nô lệ xuyên Sahara. Cuộc xâm chiếm là một thành công quân sự, và đánh dấu bước đầu sự bành trướng của Bồ Đào Nha ra khỏi bán đảo Iberia,[5] nhưng nó cũng cho thấy tốn kém trong việc bảo vệ khỏi các lực lượng người Hồi giáo đã sớm bao vây nó. Người Bồ Đào Nha đã không thể nào sử dụng được Ceuta như một bàn đạp để tiến sâu vào nội địa,[6] và các đoàn bộ hành xuyên Sahara chỉ đơn thuần chuyển hướng đi của họ khỏi Ceuta hoặc dùng các trạm mậu dịch Hồi giáo khác.[7]

Thời kì đầu (1415–1663)Sửa đổi

Mặc dù Ceuta được xem như là một sự thất vọng của người Bồ Đào Nha, họ lại quyết định tiếp tục giữ nó khi đi khám phá bờ biển Châu Phi phía Đại Tây Dương. Một nhân vật có vai trò quan trọng trong việc ủng hộ quyết định này là ngài Henrique Nhà hàng hải, người đã tham gia vào cuộc xâm chiếm Ceuta, là người đứng đầu trong việc thúc tiến và tài trợ các chuyến thám hiển hàng hải Bồ Đào Nha cho đến tận cái chết của ông ấy vào năm 1460. Thời điểm bấy giờ, người Châu Âu không biết được gì nhiều về Châu Phi xa hơn mũi Bojador. Henrique muốn tìm hiểu xem lãnh thổ Hồi giáo ở Châu Phi trải dài đến tận bao xa, và liệu có khả thi để đến Châu Á bằng đường biển; cả hai là để đạt được nguồn xuất xứ của Con đường gia vị hái ra tiền; và có lẽ là để gia nhập với vương quốc Kitô truyền thuyết của Prester John đang được đồn rằng nằm ở đâu đó tại "Indies". Dưới sự tài trợ của ông, những hòn đảo Đại Tây Dương Madeira (1419) và  Azores (1427) đã được vươn đến và bắt đầu sản xuất lúa mì xuất khẩu về Bồ Đào Nha.

Thám hiểm bờ biển Phi Châu thời kì đầuSửa đổi

Sự sợ hãi những gì nằm xa hơn mũi Bojador và liệu sẽ có trở về được hay không một khi đã vượt qua nó, đã được làm dịu đi vào 1434 khi nó được vòng quanh bởi Gil Eanes, một trong những thuyền trưởng của Henrique.[8] Vượt qua được nỗi sợ vô hình này, nó đã trở nên dễ dàng hơn cho việc quan sát dọc bờ biển. Năm 1443, hoàng tử Pedro, anh trai của Henrique và lúc đó là nhiếp chính của vương quốc phong cho ông ấy sự độc quyền hàng hải, chiến tranh và thương mại ở các vùng đất phía nam mũi Bojador. Về sau, sự độc quyền này được ban hành bởi các sắc lệnh giáo hội Dum Diversas (1452) và Romanus Pontifex (1455), cho phép Bồ Đào Nha độc quyền thương mại cho những vùng đất mới được khám phá.[9] Một thuận lợi lớn đã thúc đẩy quá trình này là sự phát minh của thuyền caravel giữa thế kỉ 15, một dạng thuyền có thể đi chịu gió hơn bất kì dạng thuyền nào khác đang được sử dụng ở Châu Âu;[10] các nhà hàng hải Bồ Đào Nha giờ đây dễ dàng trong việc đi đến các vĩ độ về phía nam, với tốc độ một vĩ độ trên một năm.[11] Sénégalbán đảo Cabo Verde đã được đi tới vào năm 1445.[12]

 
Bản đồ phía Tây Châu Phi bởi Lázaro Luis (1563). Tòa lâu đài lớn ở Tây Phi tượng trưng São Jorge da Mina.

Trạm giao thương đại lí vượt biển đầu tiên đã được thiết lập vào năm 1445 trên hòn đảo Arguim, nằm ngoài khơi Mauritanie để thu hút các nhà buôn Hồi giáo và xây dựng độc quyền làm ăn ở các con đường đã đi đến ở Bắc Phi. Năm 1446, Álvaro Fernandes đẩy xa khám phá đến tận Sierra Leone ngày nay, và Vịnh Guinea được đạt tới những năm 1460.[13] Quần đảo Cabo Verde được phát hiện 1456 và đặt chân đến năm 1462.

Sự phát triển của mía tại Madeira bắt đầu vào năm 1455, sử dụng các cố vấn từ Sicilia và thủ đô Genova để sản xuất "muối ngọt" đang hiếm ở Châu Âu thời ấy. Đã nhen nhóm ở Algarve, khả năng đến được Madeira thu hút các nhà buôn người Genoa và Flemish bỏ qua Veneto. Nô lệ được sử dụng, và số lượng nô lệ nhập khẩu vào lên đến 10% dân số Madeira cho đến cuối thế kỉ 16. Đến năm 1480 Antwerpen đã có khoảng bảy mươi thuyền tiến hành giao dịch trong việc mua bán đường Madeira, với phân phối tập trung chủ yếu ở Antwerpen. Cho tới những năm 1490 thì Madeira đã vượt mặt Cyprus như là nơi sản xuất đường nhiều nhất. Sự thành công của các hãng buôn đường như Bartolomeu Marchionni đã thúc tiến sự đầu tư trong tương lai.

Năm 1469, sau cái chết của hoàng tử Henrique và do kết quả nghèo nàn của các cuộc thám hiểm Phi Châu, vua Afonso V phong độc quyền thương mại ở phần Vịnh Guinea cho nhà buôn Fernão Gomes. Gomes, người đã phải đi thám hiểm 160 km bờ biển mỗi năm trong năm năm, phát hiện các hòn đảo của Vịnh Guinea, trong đó có São Tomé và Príncipe và tìm ra một giao dịch bồi tích tiền tàng với người bản địa, gặp gỡ các nhà buôn Ả Rập và Berber ở một trạm tên là Elmina (mỏ quặng), nơi mà ông ấy thiết lập một trạm giao thương.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 301
  2. ^ Newitt 2005, tr. 15–17
  3. ^ a ă Newitt 2005, tr. 19
  4. ^ Boxer 1969, tr. 19
  5. ^ Abernethy, p. 4
  6. ^ Newitt 2005, tr. 21
  7. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 55
  8. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 68
  9. ^ Daus 1983, tr. 33
  10. ^ Boxer 1969, tr. 29
  11. ^ Russell-Wood 1998, tr. 9
  12. ^ Rodriguez 2007, tr. 79
  13. ^ Diffie & Winius 1977, tr. 469

Tham khảoSửa đổi