Cách mạng Pháp

Cuộc đại cách mạng tư sản diễn ra ở Pháp từ 1789-1799.

Cách mạng Pháp (tiếng Pháp: Révolution française) là thời kì rối loạn xã hội chính trị sâu xa ở trong Pháp, các thuộc địa của Pháp, và khắp châu Âu vào cuối thế kỉ 18. Theo lệ thường, Cách mạng Pháp bắt đầu lúc Hội đồng ba giai cấp mở màn vào ngày 5 tháng 5 năm 1789 và kết thúc lúc Napoléon Bonaparte đảo chính vào ngày 9 tháng 11 năm 1799 (ngày 18 tháng 2 năm VIII theo lịch cộng hoà). Cách mạng Pháp lật đổ Chế độ Cũ, dựng lên một loạt chế độ mới, như Đệ nhất Cộng hoà chỉ ba năm sau trận đánh chiếm nhà tù Bastille.

Cách mạng Pháp để lại các tư tưởng chính trị hoàn toàn mới. Ví dụ: Tuyên ngôn quyền con người và quyền công dân năm 1789 tuyên bố tất cả công dân đều bình đẳng trước mặt pháp luật, có các quyền tự do cơ bản, và nắm giữ chủ quyền quốc gia. Hiện nay, chính trị Pháp vẫn chịu sự chi phối của các giá trị và thể chế của Cách mạng Pháp. Cách mạng Pháp lật đổ chế độ phong kiến giai cấp, chia lại đất đai, hạn chế chính quyền, đặt lại quan hệ giữa Giáo hội Công giáo và chính phủ Pháp, và thay đổi cấu trúc gia đình.

Cách mạng Pháp trải qua các giai đoạn đổ máu lớn, nhất là vào Thời Khủng bố, có Nội chiến Vendée phản cách mạng, làm hàng trăm nghìn người chết, có các cuộc nổi dậy ở những tỉnh ngoài Paris, có các cuộc đấu đá giữa các phe cách mạng, dẫn tới các nhân vật cách mạng chính chết liên tiếp.

Các cuộc chiến tranh Cách mạng Pháp ảnh hưởng phần lớn đất liền châu Âu, truyền bá tư tưởng cách mạng, lật đổ chế độ phong kiến, đầu tiên ở Tây Âu, rồi ở các “cộng hoà em”, rồi khắp châu Âu.[1]

Cách mạng Pháp “khác những cuộc cách mạng khác ở chỗ nguyện vọng của nó là phổ cập phúc lợi cho toàn loài người”.[2] Ngay từ đầu, phe ủng hộ ca ngợi tầm quan trọng phổ quát của các ý tưởng của Cách mạng Pháp, phe gièm pha thì nhấn mạnh hậu quả.[3]

Cách mạng Pháp vẫn là chủ đề gây tranh luận[4] trong suốt hai thế kỷ ở Pháp và trên cả thế giới,[5] lập tức gây ra chia rẽ lâu dài giữa phe cách mạng và phe bảo thủ, phe chống giáo hội và Giáo hội Công giáo. Số đông nhà sử học nhận định Cách mạng Pháp là một trong những sự kiện trọng đại trong lịch sử thế giới.[6]

Cách mạng Pháp mở đầu thời kỳ bất ổn nặng về thể chế ở Pháp và ở châu Âu. Pháp trải qua liên tiếp ba chế độ vua chúa lập hiến, hai nền cộng hoà ngắn ngủi và hai đế quốc, cho đến khi Đệ tam Cộng hoà ra đời vào năm 1870. Hầu hết các phong trào cách mạng đương đại đều chịu ảnh hưởng của di sản của Cách mạng Pháp, đều nhận là sự kiện tiên phong. Những khẩu hiệu và biểu tượng của Cách mạng Pháp được mượn dùng trong những biến động lớn khác vào cận đại, ngay cả Cách mạng Nga hơn một thế kỷ sau.[7]

Pháp vào thập niên 1780Sửa đổi

Xã hội PhápSửa đổi

 
Ba giai cấp dưới chế độ phong kiến.

Xã hội Pháp dưới Chế độ Cũ chia người dân làm ba giai cấp: giáo sĩ, quý tộc, và giai cấp thứ ba. Giai cấp thứ ba chiếm 97% dân số.[8] Các đoàn thể trong xã hội (toà án, cộng đồng, thị trấn, trường đại học, phường hội) được hưởng các đặc quyền,[9] mỗi tỉnh có thể có đặc quyền riêng, tất cả đều là di sản của xã hội thời trung cổ và sự mở rộng liên tiếp của Pháp. Chỉ giai cấp thứ ba chịu thuế, và phải nộp thuế cho hai giai cấp kia.

Vào thế kỷ 18, các giai cấp xã hội mới hình thành trong các thành phố và các thị trấn lớn. Trong giai cấp tư sản mới, có hai loại. Một là tư sản tài chính buôn bán, thu lợi nhờ sự làm giàu toàn cầu, một vài người nhờ việc đầu cơ chứng khoán dưới thời Louis XVI, nhờ thợ, và nhờ phú nông có tiền cho con đi học. Một là tư sản làm công chức và luật sư, khao khát tham gia chính trị.[10]

Đối mặt với sự cạnh tranh, giới quý tộc khẳng định lại nguyên tắc xuất thân thắng sự giàu có và học vấn.

Chịu ảnh hưởng của thuyết kinh tế trọng nông, các chủ đất quý tộc cũng tìm cách tăng thu nhập của việc khai thác đất đai và lấy lại các đặc quyền như độc quyền dùng đất chung. Hậu quả là nông dân không có đất mất quyền dùng đất chung, trở nên nghèo khó hơn.[11]

Vào cuối thập niên 1780, vụ thu hoạch kém ảnh hưởng nặng giai cấp nghèo của cộng đồng. Nhà sử học Jean Nicolas gọi thế kỷ 18 là là “thế kỷ bất an”, liệt kê 8.528 cuộc nổi dậy nông dân. Nông dân ngày càng bước vào chính trị.[12] Năm 1788, khí hậu khắc nghiệt, có đợt hạn hán vào mùa xuân và những cơn bão dữ dội vào ngày 13 tháng 7, gây ra mùa màng kém và đẩy cao giá thóc gạo bánh mì. Mùa đông khắc nghiệt về sau cũng đẩy lên giá củi. Những sự việc này khiến cho dân tình thêm náo động,[13] chính sách chính phủ bị coi là nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu thóc gạo. Các cuộc nổi dậy năm 1788 cũng chứng tỏ một phần nguồn gốc của Cách mạng Pháp là khủng hoảng lương thực,[14] bắt nguồn từ chính sách bỏ hạn chế buôn bán thóc gạo do Chế độ Cũ thi hành vào năm 1763.[15]

 
Tiền Louis vào thời Louis XVI (năm 1788)

Hơn nữa, các ngân hàng ở Paris đang phát triển rất đáng kể, giúp cho Jacques Necker được bổ nhiệm làm bộ trưởng tài chính.[16] Đối mặt với khủng hoảng ngân sách phát sinh từ khoản nợ khổng lồ của chính phủ,[17] một phần vì Pháp dự vào Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ, và lạm phát cao phát sinh từ lượng tiền lưu thông nhiều chưa từng có,[18] ông buộc phải đặt ra thuế mới để trả nợ. Để thực hiện thì phải triệu tập Hội đồng ba giai cấp: đây là bối cảnh căng thẳng của các sự kiện châm ngòi Cách mạng Pháp.

Chống đối chế độ vua chúa tuyệt đối và nguyện vọng cải cáchSửa đổi

 
Louis XVI mặc lễ phục đăng quang, có biểu chương hoàng gia và Huân chương Thánh thần, tranh Antoine-François Callet (năm 1781).

Năm 1788, chính quyền trong tay chế độ vua chúa tuyệt đối thiên mệnh: nhà vua là người thay mặt Chúa trên Trái Đất, một mặt được “giải phóng khỏi luật pháp”, một mặt phải giữ gìn “luật cơ bản của Vương quốc”.[19] Nhà vua là người bảo đảm an ninh, công lý và đức tin cho thần dân. Một mặt chủ quyền của nhà vua không bắt nguồn từ bất cứ quyền lực con người nào, một mặt nhà vua phải có sự đồng ý của các đoàn thể đặc quyền để cai trị. Các mâu thuẫn vốn có của chế độ sẽ mở đường cho Cách mạng Pháp.[20]Phần lớn người dân Pháp vẫn chuộng chế độ vua chúa. Nhà vua được yêu mến và kính trọng, được coi là “người cha của nhân dân”, “Quốc phụ”,[21] “người cha của người Pháp”.[22] Năm 1788, có hy vọng nhà vua sẽ tán thành và thi hành cải cách nhà nước.[23]

Các đoàn thể đặc quyền chống lại vương quyền chủ yếu để bảo vệ lợi ích riêng, thực tâm không nghi ngờ hay phản đối chính thể vua chúa. Các toà án của Chế độ Cũ và các hội đồng tỉnh có quyền không ghi sổ đạo luật của nhà vua để làm trở ngại các cải cách của Hội đồng Cơ mật. Mặc dù bảo vệ trước tiên các đặc quyền của mình, họ tự cho mình là đại biểu của quốc dân, được dư luận ủng hộ, bênh vực người dân chống lại sự chuyên chế của các đại thần. Bất chấp sức ép tài chính, triều đình vẫn tôn trọng các đoàn thể đặc quyền cho đến khi Thủ tướng Maupeou ra tay cải tổ hệ thống vào năm 1771.[24] Các thành viên cấp tiến nhất lập “phe yêu nước”, là mũi nhọn sắt đi đầu các cuộc biểu tình trước Cách mạng Pháp. Trong bối cảnh các sự kiện năm 1789, đấu tranh và yêu cầu của họ tạo nền móng tư tưởng của Cách mạng Pháp.[25]

Một mặt, sự chống đối chế độ trước năm 1789 rất hiếm, chủ yếu phát sinh trong các phong trào triết học tôn giáo, không gây ra được lực lượng chính trị xã hội.[26] Mặt khác, người dân Pháp đồng lòng muốn cải cách chế độ. Các đại biểu của họ ủng hộ ý dân, muốn cải thiện nhà nước, phục hưng chế độ vua chúa.[27]

Năm 1789: chế độ vua chúa tuyệt đối và Chế độ CũSửa đổi

Cách mạng pháp lý (tháng 5 - đầu tháng 7 năm 1789)Sửa đổi

Hoạt động tranh cử Hội đồng ba giai cấpSửa đổi

 
Giai cấp thứ ba là gì?, sách nhỏ của linh mục Sieyès (tháng 1 năm 1789).

Tuy không có quyền lập pháp, Hội đồng ba giai cấp làm dấy lên hy vọng lớn trong người dân Pháp.[28] Nông dân thì mong Hội đồng sẽ hạn chế hay hoàn toàn xoá bỏ các đặc quyền của chủ đất mà cải thiện đời sống của họ.[29] Giai cấp tư sản thì mong Hội đồng sẽ quy định sự bình đẳng trước mặt pháp luật, nhưng nghịch lý là mong lập thêm nghị viện chia sẻ chính quyền cùng triều đình.[30] Giai cấp tư sản tính dựa vào bộ phận nhỏ giới quý tộc thụ giáo ý tưởng tiến bộ và các giáo sĩ cấp dưới hiểu rõ những khó khăn của người dân. Từ cuối năm 1788, ngày càng nhiều sách báo đưa tin cuộc họp sắp tới được in,[31] cập nhật thị trấn làng mạc của Pháp về các cuộc tranh luận thành viên và cách tổ chức Hội đồng ba giai cấp. Theo truyền thống, việc bỏ phiếu là theo giai cấp, tức là giai cấp thứ ba là số ít ở Hội đồng. Vào tháng 9 năm 1788, Toà án Paris xác nhận rằng phải tổ chức Hội đồng ba giai cấp theo hình thức của Hội đồng năm 1614.[32]

Giai cấp thứ ba một mặt đòi tăng gấp đôi số đại biểu của mình cho ứng với dân số thực, một mặt đòi bỏ phiếu theo đầu người, một đại biểu một phiếu. Louis XVI cho tăng gấp đôi số đại biểu, nhưng giữ im về thể thức bỏ phiếu. Triều đình án binh bất động, “phe yêu nước” bắt đầu xuất hiện ở Paris và các tỉnh. Dư luận gây ra các cuộc ẩu đả thành phố, nhất là ở Rennes và Dauphiné, trong khoảng thời gian vài tháng trước khi các đại biểu được gọi tới Versailles.[33]

Các đại biểu của giai cấp thứ ba chống đối nhà vuaSửa đổi

 
Hội đồng ba giai cấp ở Versailles vào ngày 5 tháng 5 năm 1789.

Vào ngày 1 tháng 5 năm 1789, các đại biểu đến Versailles. Giai cấp giáo sĩ có 291 đại biểu, giai cấp quý tộc có 270 đại biểu, giai cấp thứ ba có 584 đại biểu. Đại biểu của giáo sĩ và quý tộc được tiếp đãi tốt, đại biểu của giai cấp thứ ba thì bị phớt lờ.[34] Vào ngày 5 tháng 5, nhà vua mở màn Hội đồng ba giai cấp, phát biểu răn dạy các đại biểu tránh tinh thần đổi mới, không nói tới việc cải cách chính trị. Bài phát biểu của Necker chỉ bàn về vấn đề tài chính. Triều đình vẫn không nói rõ thể thức bỏ phiếu là gì. Các đại biểu của giai cấp thứ ba bắt đầu chống đối làm trở ngại nghị trình, do Barnave, Mounier, Mirabeau, và Rabaut Saint-Étienne lãnh đạo. Họ không chịu họp riêng hai giai cấp kia. Vào cuối tháng 5, các đại biểu của giai cấp giáo sĩ và quý tộc chịu bỏ đặc quyền thuế. Sau một tháng thảo luận, giáo sĩ Sieyès kiến nghị giai cấp thứ ba tự chứng thực tư cách của các đại biểu, không cần hai giai cấp kia. Các đại biểu của giai cấp thứ ba tán thành. Vào ngày 13 tháng 6, có ba linh mục đồng ý, vào ngày 16 có mười người.

Vào ngày 17 tháng 6 năm 1789, các đại biểu của giai cấp thứ ba cùng một vài đại biểu của giai cấp giáo sĩ và quý tộc quyết định lấy tên “Quốc hội” theo ý của Legrand và Sieyès.[35] Vào ngày 19, tất cả đại biểu giáo sĩ, có số ít linh mục hiểu rõ khó khăn của nông dân, đồng ý chứng thực tư cách đại biểu cùng các đại biểu của giai cấp thứ ba. Vào ngày 20 tháng 6, nhà vua ra lệnh đóng cửa nhà Menus-Plaisirs là hội trường của giai cấp thứ ba. Họ chuyển đến nhà quần vợt.

 
Jacques-Louis David, Lời thề nhà quần vợt, Paris, Viện bảo tàng Carnavalet.

Trong bầu không khí hăng hái, cái đại biểu tuyên lời thề nhà quần vợt, quyết không bãi họp cho đến khi soạn xong hiến pháp thành văn cho Pháp.

Vào buổi triều ngày 23 tháng 6 năm 1789, Louis XVI lên tiếng,[36] đưa ra cho các đại biểu chương trình cải cách cụ thể để cải thiện kinh tế và ra lệnh ba giai cấp họp riêng. Các đại biểu của giai cấp giáo sĩ và quý tộc chịu, các đại biểu của giai cấp thứ ba thì không chịu. Hầu tước Dreux-Brézé đến gọi các đại biểu bãi họp, Chủ tịch Quốc hội Bailly trả lời “Quốc hội không chịu lệnh của bất cứ người nào”. Mirabeau quả quyết thêm rằng chỉ có quân lính mới buộc Quốc hội rời khỏi hội trường thôi.[37] Vào ngày 27 tháng 6, nhà vua chịu cho ba giai cấp thảo luận chung.[38]

Quốc hội bắt đầu làm việc lại ngay. Vào ngày 9 tháng 7, đổi tên thành Quốc hội Lập hiến. Nhiều đại biểu sợ hãi thời cuộc thay đổi, từ chức. Quốc hội Lập hiến tuyên bố rằng không phải bất cứ cá nhân đại biểu nào, mà là toàn quốc dân trao quyền lực cho Quốc hội Lập hiến, tức là nay chủ quyền thuộc về quốc gia như Diderot chủ trương.[39] Quốc hội Lập hiến dựa vào hy vọng của số đông quốc dân và mạng lưới “phe yêu nước”. Đối mặt với Quốc hội lập hiến, chỉ có quan thần bất hoà, chính phủ thiếu tiền, ông vua mềm yếu thôi. Tin đồn có lệnh truy nã các đại biểu giai cấp thứ ba lan từ Versailles ra Paris đến các tỉnh.[40]

Mùa hè năm 1789Sửa đổi

Khủng hoảng tháng 7Sửa đổi

 
Necker.

Louis XVI ra lệnh giải tán Quốc hội Lập hiến nhưng vẫn để cho họp, không cưỡng chế công khai. Vào ngày 25 tháng 5, Vệ binh Pháp diễu hành Paris ủng hộ các đại biểu phản kháng, để cho cử tri Paris lập hội đồng. Tuy nhiên, triều đình vào ngày 26 ra lệnh điều sáu trung đoàn cùng đội lính khoảng 20.000 người[41] đến đóng bên ngoài kinh đô để giữ trật tự ở Paris và Versailles.[42]

Người dân Paris lo sợ: tư sản thì sợ nhà vua sẽ đập nát Quốc hội Lập hiến, thường dân thì sợ lính sẽ chặn đường tiếp tế của dân Paris đương lúc giá bánh mì cao. Vào đầu tháng 7, bạo loạn nổ ra ở rào chắn đường. Nhà vua miễn chức các quan thần quá tiến bộ, nhất là Necker; vào ngày 11 tháng 7, ông được lệnh rời khỏi Pháp.[43] Vào ngày 12, tin đến tai Paris, người dân cầm vũ khí ra đường biểu tình. Vào buổi chiều, trong vườn Hoàng Cung, nhà báo Camille kêu gọi người dân chuẩn bị tự vệ. Ông coi việc miễn chức Necker là đòn đánh vào nhân dân. Trong vườn Cung Tuilleries và ở Nhà Phế binh, người dân Paris giáp chiến Trung đoàn Kỵ binh Pháp-Đức dưới quyền hoàng tử Lambesc, tố quân lính giết một vài người biểu tình.[44]

Vào ngày 13 tháng 7, rào chắn bị đốt sạch, kho thóc gạo của các tu viện bị vét.[45] Một đội dân quân tư sản được thành lập để phòng thủ kinh đô theo ý của Công xã Paris, có Mirabeau trong Quốc hội Lập hiến ủng hộ.[46]

Ngày 14 tháng 7: nhà tù Bastille thất thủSửa đổi

 
Trận đánh chiếm nhà tù Bastille, ngày 14 tháng 7 năm 1789.Tranh sơn dầu khuyết danh, năm 1789-1791.

Trận đánh chiếm nhà tù Bastille nguyên là để tìm thuốc súng cho dân quân tư sản của các quận, nhưng được công nhận ca ngợi ngay là phát súng khởi đầu Cách mạng Pháp.[47] Vào buổi sáng ngày 14 tháng 7, người dân cướp Nhà Phế binh, tìm thấy vũ khí và đại bác. Họ đến trước cổng của nhà tù Bastille và gặp những người dân khác tụ tập trước pháo đài của ngoại ô Saint-Antoine từ buổi sáng.[48][49][50]

Cai ngục Hầu tước Launay, đối mặt với đoàn dân trước nhà tù Bastille, chịu yêu cầu hoà giải, đến Phủ Thị chính viết giấy giao pháo đài có điều kiện người dân không được hại lính bên trong. Ông dẫn đám đông vào sân đầu tiên, nhưng đổi ý bắn đạn hoa cải, làm chết người. Vệ binh Pháp nổi loạn, mang đại bác từ Nhà Phế binh đến trước nhà tù. Vào năm giờ chiều, Hầu tước Launay chịu hạ cầu rút. Đám đông dẫn tù về Phủ Thị chính. Launay bị cắt đầu bằng dao bỏ túi.[51] Ở Phủ Thị chính, đám bạo loạn tố thị trưởng cũ Flesselles mưu phản quốc, rồi chặt đầu luôn đem cắm lên cây thương cùng với đầu của Launay. Cả ngày, rào chắn và các sở thu thuế ở Paris bị đập đốt.

Cách mạng ở các thành phốSửa đổi

 
Chân dung Jean Sylvain Bailly của Mosnier, Viện bảo tàng Carnavalet, 1789.
 
La Fayette.

Louis XVI chịu nhường bước, đích thân đến Quốc hội Lập hiến vào hôm sau để thông báo rút quân và kêu gọi lập lại trật tự. Ông cho Necker cùng những bộ trưởng khác phục chức. Ở Phủ Thị chính, tất cả nhân viên chính quyền cũ đã bỏ trốn, Chủ tịch Quốc hội Jean Sylvain Bailly nhất trí đắc cử “Thị trưởng Paris”. La Fayette được bổ nhiệm làm Tổng chỉ huy Vệ binh Quốc gia. Vào ngày 17 tháng 7, Louis XVI đến Paris, thừa nhận chính quyền mới. Bailly nhân dịp tặng ông huy hiệu có màu xanh đỏ của thành phố Paris, Louis XVI gắn trên mũ, liên kết hai màu này với màu trắng của chế độ. Cử chỉ này có vẻ xác định Paris chịu hoà với nhà vua. Tuy nhiên, trên thực tế thì nhà vua miễn cưỡng chấp nhận rằng quyền lực của ông bị một cuộc bạo động ở Paris hạn chế, các đại biểu thì phải chấp nhận rằng quyền lực của họ phụ thuộc vào bạo lực của nhân dân.

Tiếng tăm của “Những người chiếm nhà tù Bastille” lan rộng khắp Pháp. Vũ lực đã giúp phe cải cách được thắng lợi. Nhà tù Bastille được diễn giải lại thành biểu tượng của sự lộng quyền của chế độ. Những tin đồn viễn vông nhất lan truyền, như dưới nhà tù có các ngục tối chứa đầy xương người. Nhân vật Bá tước Lorges được hư cấu nên làm nạn nhân tiêu biểu của chế độ. “Người yêu nước” Palloy làm giàu bằng cách phá dỡ nhà tù Bastille và bán nhiều món đồ lưu niệm.

Trận đánh chiếm Bastille là một phần của làn sóng bất ổn xã hội ảnh hưởng tất cả các tỉnh. Từ đầu tháng 7, khủng hoảng lương thực khiến cho người dân bạo động, tranh giành chính quyền thành phố.[52] Ở nhiều thành phố, phe yêu nước tự lập các uỷ ban thường trực, cướp chính quyền thành phố. Dân tình đối với các biến ở Paris, như việc Necker bị miễn chức, góp phần tăng cường hoạt động, gây nên cách mạng thực sự ở một số thành phố. Trận đánh chiếm nhà tù Bastille được chào đón nhiệt tình, đưa phong trào lên đến đỉnh điểm. Ở Rennes và Strasbourg, các nhóm đánh cướp các kho vũ khí không chịu kháng cự; các nhóm khác chiếm các thành lũy của Bordeaux, Nantes hoặc Marseilles có quân lính đóng. Vệ binh Quốc gia được thành lập. Antoine Barnave khuyên Grenoble rằng chỉ nên nhận “tư sản tốt”. Trên thực tế, Vệ binh Quốc gia thường kiểm soát các uỷ ban thường trực và các phong trào quần chúng.[53]

Nỗi kinh sợ ở nông thôn Pháp và đêm ngày 4 tháng 8 năm 1789Sửa đổi

 
Phiên họp Quốc hội Lập hiến đêm ngày 4 tháng 8 năm 1789.
 
Tuyên ngôn quyền con người và quyền công dân.

Những sự kiện này gây ra đợt di cư đầu tiên: Bá tước Artois là em trai của Louis XVI cùng những tên tuổi lớn của Pháp như Hoàng tử Condé, Công tước Polignac, và Công tước Enghien đều trốn đến Anh, Hà Lan hoặc Đức. Tất cả đều dự kiến về nước trong ba tháng.

“Nỗi kinh sợ” dần dần lan khắp vùng nông thôn từ ngày 20 tháng 7 năm 1789 đến ngày 6 tháng 8. Nông dân nghe đồn giới quý tộc đang mưu trả đũa diễn biến ở Paris hay có “băng cướp” nông sản, bắt đầu mang vũ khí, rồi đánh phá nhiều lâu đài quý tộc, đốt giấy tờ ghi chép quyền chủ đất hoặc thuế. Các cuộc nổi dậy này đánh dấu vương quyền sụp đổ, gây ra đợt di cư quý tộc.[54]

Quốc hội Lập hiến ứng biến, vào đêm ngày 4 tháng 8 năm 1789 thủ tiêu các đặc quyền giai cấp, các quyền lợi phong kiến, cấm bán chức quyền, chia đều lại thuế, chấm dứt xã hội Chế độ Cũ.

Vào ngày 26 tháng 8 năm 1789, Quốc hội Lập hiến ra Tuyên ngôn quyền con người và quyền công dân. Chịu ảnh hưởng của Phong trào Khai sáng, bản tuyên ngôn lên án chế độ vua chúa tuyệt đối và xã hội giai cấp phong kiến, tuyên bố nguyên tắc dân chủ pháp lý và xã hội, phản ánh nguyện vọng của giai cấp tư sản: bảo vệ quyền tự do cá nhân và tài sản riêng, mở chức vụ công cho mọi người.

Cuộc diễu hành đàn bà đến Versailles vào ngày 5 và 6 tháng 10 năm 1789Sửa đổi

 
Cuộc diễu hành đàn bà đến Versailles, ngày 5 tháng 10 năm .

Vào tháng 9 năm 1789, Quốc hội Lập hiến thông qua những điều khoản đầu tiên của hiến pháp mới hạn chế vương quyền. Vào ngày 5 và 6 tháng 10 năm 1789, khó khăn tiếp tế thóc gạo cho Paris cùng tin đồn trung đoàn Flanders giẫm nát phù hiệu ba màu kích động đám đông đàn bà diễu hành đến Versailles xin diện kiến nhà vua. Ban đầu, nhà vua sẽ đáp ứng yêu cầu của họ.

 
Vệ binh Quốc gia.

Cùng ngày, Chủ tịch Quốc hội Lập hiến Mounier lại xin Louis XVI ban bố Tuyên ngôn quyền con người và quyền công dân cùng hai đạo luật ngày 4 và 26 tháng 8 về việc thủ tiêu chế độ giai cấp phong kiến. Buổi tối, La Fayette đến Versailles theo yêu cầu của Công xã Paris. Vào rạng sáng ngày hôm sau, người trong đám đông cố giết hoàng gia, làm hai vệ sĩ chết. Sau khi điều tra sự việc, Châtelet kết luận: “ơn cứu giúp nhà vua, hoàng hậu, và hoàng gia là của Vệ binh Quốc gia và vị chỉ huy của nó”, La Fayette. Nhà vua phải rời Versailles và được đám đông hộ tống đến Paris. Ông sẽ không bao giờ trở về nữa.

Về sau, nhà vua và Quốc hội Lập hiến đều ở Paris, một mặt được Vệ binh Quốc gia bảo vệ, một mặt bị bạo loạn uy hiếp.

Quyền lực triều đình vô cùng suy yếu. Pháp vẫn là nước vua, nhưng quyền lập pháp nay thuộc về Quốc hội Lập hiến. Các uỷ ban chuyên trách của Quốc hội kiểm soát ngành hành chính, vương quyền ngày càng bị coi nhẹ. Các quan thần chỉ là người thừa hành lệnh do Quốc hội giám sát. Tuy nhiên, nhà vua vẫn giữ quyền hành pháp. Luật và nghị định do Quốc hội thông qua cần nhà vua ban bố để có hiệu lực. Ngoài ra, những nhân viên chính quyền khác của Chế độ cũ được lưu nhiệm cho đến khi có chính quyền mới. Cho đến mùa hè năm 1790, những nhân viên hành chính chưa từ chức tiếp tục làm việc, mặc dù quyền hạn đã giảm đi nhiều.

Chấn hưng PhápSửa đổi

Cải tổ đơn vị hành chínhSửa đổi

 
Các tỉnh mới.
 
Louis XVI đi dự Quốc hội Lập hiến, ngày 4 tháng 2 năm 1790 (Viện Lưu trữ quốc gia).

Quốc hội Lập hiến do tư sản lãnh đạo tiến hành công trình cải cách rộng lớn, áp dụng các ý tưởng của các nhà triết học và kinh tế học của thế kỷ 18. Trên khắp Pháp, trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng. Từ năm 1789 đến năm 1792, báo chí được hoàn toàn tự do xuất bản.

Trước tiên, Quốc hội Lập hiến bắt đầu cải cách đơn vị hành chính. Chế độ Cũ có rất nhiều khu vực hành chính lộn xộn. Đơn vị hành chính dân sự, quân khu, địa hạt tư pháp, và giáo phận chồng lên nhau mà lại khác ranh giới. Quốc hội tập trung vào thành phố, ra đạo luật ngày 14 tháng 12 thành lập đô thị. Từ tháng 1 năm 1790, mỗi xã ở Pháp tổ chức bầu cử các đại biểu của mình, là những cuộc bầu cử đầu tiên của Cách mạng Pháp.

Luật ngày 22 tháng 12 năm 1789 lập 83 tỉnh làm đơn vị hành chính, tư pháp, và thuế, lấy tên liên quan đến địa lý của vùng như sông, núi, biển, được chia thành các huyện, tổng, và xã. Vào mùa xuân năm 1790, Quốc hội lập uỷ ban phụ trách phân cấp Pháp và giải quyết các tranh chấp giữa các thị trấn tranh giành tư cách thủ phủ. Chính quyền mới bắt đầu nhậm chức từ mùa hè năm 1790 đến năm 1791, do công dân tham chính bầu lên, chiếm khoảng một phần bảy dân số bấy giờ.

Vấn đề tôn giáoSửa đổi

Vào ngày 11 tháng 8 năm 1789, thuế thập phân bị huỷ bỏ. Vào ngày 2 tháng 11, theo đề nghị của Talleyrand Giám mục Autun, tài sản giáo sĩ được nhà nước trưng dụng vào việc trả nợ công, sẽ bán theo lô để bù vào thâm hụt ngân sách. Cùng năm chính phủ phát hành tín phiếu làm tiền giấy. Tình hình tài chính buộc Quốc hội Lập hiến đem tài sản công làm bảo chứng cho tín phiếu, có thể đổi lấy đất. Lúc đầu tín phiếu được dùng làm trái phiếu kho bạc. Vào tháng 4 năm 1790, ngân hàng không cho đổi lấy vàng nữa mà trở thành tiền danh. 400 triệu tín phiếu được phát hành mệnh giá 1.000 đồng: đây là lúc bắt đầu thời kỳ lạm phát mạnh.

Quốc hội Lập hiến thành lập Uỷ ban Giáo hội. Vào ngày 13 tháng 2 năm 1790, bãi bỏ các lời thề tôn giáo, tạm thời giải tán các dòng tu, trừ các dòng tu chữa bệnh và dạy học ra. Các chính quyền thành phố bắt đầu kiểm kê tài sản trong những tháng sau, hay dùng các thư viện tư để tạo thành các thư viện thành phố đầu tiên. Nhà nước bắt đầu bán tài sản quốc gia vào tháng 10. Tư sản vốn có đủ tiền để mua nhanh, được miếng béo bở.[55]

Tranh in tay so sánh "linh mục yêu nước thật lòng tuyên lời thề công dân" với "linh mục quý tộc" trốn tránh tuyên thệ (năm 1790).

Vào ngày 12 tháng 7 năm 1790, Quốc hội Lập hiến thông qua Hiến luật Giáo sĩ, được nhà vua ban bố vào ngày 24 tháng 8 năm 1790.[56] Hiến luật biến giáo sĩ thành công chức ăn lương nhà nước. Các giáo sĩ thế tục nay phải được bầu chọn và phải tuyên thệ chấp nhận bảo vệ chế độ giáo sĩ mới. Các đại biểu không xin ý kiến của giáo hoàng về những cải cách hàng giáo phẩm Công giáo, một phần vì tư tưởng chống giáo hoàng của một bộ phận giai cấp tư sản, một phần vì chủ trương loại bỏ ảnh hưởng tôn giáo của Phong trào Khai sáng. Một số giáo sĩ không chờ giáo hoàng ra ý kiến bắt đầu tuyên thệ.

Vào ngày 27 tháng 11, Quốc hội Lập hiến ra lệnh các giáo sĩ lập hiến phải tuyên thệ, nếu không thì sẽ mất lương và tiền nghỉ hưu. Tất cả giám mục đều không chịu tuyên thệ, trừ bốn người bị ép ra. Các giám mục vẫn làm việc như thể không có Hiến luật, mặc dù 45 giáo phận đã bị bãi bỏ. Các đại biểu giáo sĩ trong Quốc hội Lập hiến phải tuyên thệ trước ngày 4 tháng 1 năm 1791. Trong số 250 đại biểu giáo sĩ, có 99 đã tuyên thệ. Tuy nhiên, giáo hoàng Pie VI vào tháng 3 năm 1791 lên án cải cách, khiến cho một số rút lời thề. Tuy khó thu thập được số liệu toàn diện, ước tính 52% số giáo sĩ[57] không chịu tuyên thệ.

Hiến luật Giáo sĩ chia rẽ Pháp làm hai phe đối địch. Các nhà sử học Michelet, Mignet, và Aulard nhận định đây là sai lầm lớn của Cách mạng Pháp. Hạt giống của biến năm 1792-1793 đã gieo. Ngay từ năm 1790, xích mích giữa đạo Tin Lành và Công giáo đã bộc phát ra ở Nimes.[58] Vấn đề tuyên thệ gây ra xung đột bạo lực ở miền Tây, dân thành phố thì ủng hộ tuyên thệ, dân nông thôn thì ủng hộ không tuyên thệ.

Chế độ vua chúa lập hiến thất bạiSửa đổi

Lễ hội Đoàn kếtSửa đổi

 
Lễ hội Đoàn kết, ngày 14 tháng 7 năm 1790.

Một năm sau trận đánh chiếm nhà tù Bastille, Pháp mở Lễ hội Đoàn kết vào ngày 14 tháng 7 năm 1790 trên công viên Champ-de-Mars để ăn mừng chế độ mới, một trong những sự kiện ăn mừng cách mạng hoành tráng nhất.

Sau buổi thánh lễ do Talleyrand chủ trì, Hầu tước La Fayette và các đại biểu thề hết lòng với Quốc gia, Pháp luật, và Vua. Louis XVI và Nữ hoàng thề hết lòng với Quốc gia và Pháp luật.[59] Tuy có vẻ nhà vua đã chấp nhận Cách mạng Pháp, nhưng thực ra Louis XVI thì chỉ tuỳ cơ ứng biến, phe cực bảo thủ thì cho rằng nhà vua bị cầm tù, phe cấp tiến thì có Marat gây chuyện công kích La Fayette[60] và dự đoán nhà vua sẽ bỏ trốn.[61]

Varennes và hậu quảSửa đổi

 
Louis XVI về lại Paris sau khi bỏ trốn thất bại đến Varennes.

Louis XVI lúc đó được hiến pháp đặt cho các quyền quan trọng, mọi người đều chấp nhận chế độ vua chúa,[62] các thành viên hoàng gia chỉ bị công kích nhẹ.[63] Tuy nhiên, vụ bỏ trốn của nhà vua vào ngày 20 và 21 tháng 6 năm 1791 phá vỡ mối liên hệ giữa nhà vua và Pháp,[64] làm mất vẻ uy nghiêm của địa vị hoàng gia,[65] khiến dư luận chống đối nhà vua,[66] và làm cho người dân sợ có nội gián đang chuẩn bị cho nước ngoài xâm lược mà dẫn tới một loạt các đạo luật khẩn cấp báo trước Thời kì Khủng bố.[67]

Vụ bê bối chia rẽ phe quân vua chúa lập hiến và phe dân chủ trong Hội Jacobin.[68] Người thuộc phe vua chúa lập hiến như Bailly, La Fayette hay Barnave muốn hạ màn cuộc Cách mạng, dựng lên chuyện nhà vua bị bắt cóc, ra các pháp lệnh ngày 15 và 16 tháng 7 cho ông trắng án và phục chức. Vào ngày 16 tháng 7 năm 1791, có đơn thỉnh cầu truy tố nhà vua và lập chính phủ mới, được một số lượng hội viên ít hơn của Hội Jacobin ủng hộ, khiến cho số đông hội viên tách ra mà lập Hội Feuillants.[69]

 
Vụ xả súng Champ-de-Mars, ngày 17 tháng 7 năm 1791. Tranh in tay do Jean-Louis Prieur vẽ, Pierre-Gabriel Berthault khắc, Paris, Thư viện Quốc gia .

Vào ngày 17 tháng 7, đơn thỉnh cầu được nộp ở công viên Champ-de-Mars, có đám đông 5.000 người tụ tập. Sau một vài vụ ẩu đả, chính quyền thành phố do Bailly lãnh đạo ra lệnh giới . La Fayette bắn đạn vào đám đông. Vụ bắn Champ-de-Mars làm chết 50 người,[70] gây rạn nứt lâu dài giữa phe vua chúa lập hiến và những nhà cách mạng dân chủ[71] như Danton, Marat, Robespierre hoặc những nhà cách mạng cộng hoà như Condorcet.

Dư luận ngày càng cực đoan. Các nhà viết sách báo cách mạng công kích thô tục Nhà vua và Nữ hoàng không dứt.[72] Các tờ báo bảo hoàng như “L'Ami du roi” hoặc “Les Actes des Apoles” kêu gọi công khai chống lại thay đổi. Quốc hội Lập hiến ra lệnh tạm thời đóng cửa Hội Cordeliers và đình bản các tờ báo. Danton, Momoro, Santerre, Hébert chạy trốn ra Anh; Marat trốn trong căn hầm, Robespierre nương náu với người bạn Duplay.[73] Vào tháng 9 năm sau sẽ có lệnh ân xá.[74] Vị thế của phe vua chúa lập hiến dường như được củng cố.[75] Số đông các đại biểu muốn tin nhà vua thật lòng theo chế độ mới.[76]

Hiến pháp năm 1791Sửa đổi

 
Cảnh ban bố hiến pháp năm 1791 ở Quảng trường Chợ các Thánh Anh Hài, tháng 9 năm 1791.
 
Vào năm 1791, Jean-François Carteaux vẽ bức chân dung Louis XVI cưỡi ngựa làm ông vua lập hiến, đội mũ ba sừng có phù hiệu ba màu. Nhà vua cầm thanh gươm có khắc từ "PHÁP LUẬT".

Vào ngày 3 tháng 9, Quốc hội Lập hiến soạn xong Hiến pháp năm 1791. Vào ngày 13, nhà vua chấp nhận hiến pháp, tuyên thệ trung thành.[77] Quốc hội Lập hiến mượn dùng chủ trương phân lập tam quyền của Montesquieu và chủ trương chủ quyền nhân dân cùng quyền tối cao cơ quan lập pháp của Rousseau.[78] Tuy nhiên, Hiến pháp áp dụng quá cứng nhắc, không quy định cách hoà giải tranh chấp,[79] nhất là trong trường hợp chiến tranh,[80] khiến cho ngành hành pháp và ngành lập pháp không thể khống chế lẫn nhau. Nhà vua nắm quyền hành pháp, tuy chịu nhiều quyền hạn, nhưng vẫn là nguyên thủ nước, được miễn trách nhiệm giải trình và trách nhiệm hình sự trước Quốc hội Lập pháp, có quyền phủ quyết tạm thời tất cả các đạo luật - một đạo luật bị phủ quyết không được đệ trình lại trong hai nhiệm kỳ tiếp theo, tức là gần 6 năm.[81] Nhà vua cũng giữ lại quyền bổ nhiệm các bộ trưởng ngoài Quốc hội Lập pháp, các đại sứ, các tướng lĩnh và các công chức cấp cao.[82]

Quốc hội Lập phápSửa đổi

Quốc hội Lập pháp là cơ quan làm luật, họp lần đầu vào ngày 1 tháng 10 năm 1791, gồm 745 đại biểu do đàn ông đóng thuế bầu lên. Luật bầu cử ngày 4 tháng 12 năm 1789 do Quốc hội Lập hiến thông qua chia công dân thành hai hạng: công dân “tham chính” đóng thuế, được bỏ phiếu; và công dân “ngoại chính” không đóng thuế, không được bỏ phiếu. Pháp lúc đó ước tính có 24 triệu dân, 4,3 triệu là “công dân tham chính”, 3 triệu là công dân “ngoại chính”.[83] Sở dĩ các đại biểu của khoá I giàu có và còn khá trẻ,[84] nhưng đều là tân binh không từng trải là Quốc hội Lập hiến đã cấm các đại biểu lập hiến ứng cử khoá thứ nhất của Quốc hội Lập pháp. Phe bảo thủ có 250 đại biểu là thành viên của Hội Feuillants, thật lòng ủng hộ chế độ vua chúa lập hiến, muốn kết thúc Cách mạng; phe độc lập có 345 đại biểu không đảng phái, còn gọi là “phe lập hiến”, là nhóm quan trọng nhất. Phe tiến bộ có 136 đại biểu là hội viên của Hội Jacobin, hầu hết về sau hợp thành phe Gironde. Phe cấp tiến có ít đại biểu, chủ yếu là những nhà cách mạng cấp tiến nhất.

Bất ổn xã hội và tôn giáoSửa đổi

Giá bánh mì vẫn cao. Các thị trấn và vùng nông thôn hay xảy ra động loạn.

Vào tháng 1, các tân giám mục được công dân tham chính bầu lên, vào tháng 2 được truyền chức, bắt đầu làm việc trong giáo phận. Họ phải tuyển mộ các linh mục và phong chức các chủng sinh chỉ được đào tạo sơ sài.[85] Các tân chánh xứ từ tháng 2 bắt đầu làm việc ở Paris. Ở các tỉnh tổ chức các cuộc bầu cử muộn hơn, nhiều người bỏ phiếu trắng, một số cuộc cho đến tháng 2 năm 1792 mới xong.[86] Trên hết, các giáo hạt được cải tổ và rất nhiều bị bãi bỏ theo các sắc lệnh ban bố từ năm 1790 đến 1792, gây ra làn sóng phản đối. Ở những vùng đóng cửa nhà thờ như La Fosse-de-Tigné (Maine-et-Loire), vị linh mục hiến luật được phụ nữ chào đón bằng lời doạ chết và ném đá.[87]

Tuyên chiếnSửa đổi

 
Leopold II, Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh.

Đảng di cư do Bá tước Artois lãnh đạo tập kết ở Koblenz, kêu gọi các vua chúa nước ngoài can thiệp vào Pháp.

Vào ngày 31 tháng 10 năm 1791, Quốc hội Lập pháp thông qua pháp lệnh yêu cầu đảng di cư trở về Pháp trong vòng hai tháng, nếu không sẽ bị tịch thu tài sản. Vào ngày 29 tháng 11, thông qua hai pháp lệnh nữa: thứ nhất yêu cầu Chư hầu Tuyển đế của Trier giải tán đội quân của đảng di cư,[88] thứ hai bắt buộc các linh mục bất tuân phải tuyên thệ hiến luật, không thì bị tước lương hưu hoặc đến cả bị đuổi ra khỏi nước nếu gây rối trật tự công cộng.

Nhà vua mặc xác lời khuyên của phe bảo thủ ôn hoà, phủ quyết pháp lệnh về đảng di cư và các linh mục bất tuân, nhưng chịu gọi Tuyển hầu của Trier vốn là chư hầu của Hoàng đế Áo, tạo thành dịp gây chiến.[89]

Các triều đình châu Âu thấy Pháp sáp nhập Avignon và Comtat Venaissin vào ngày 13 tháng 9 năm 1791, trước đó thuộc giáo hoàng, rồi vụ các chư hầu Đức mất quyền trong thái ấp bởi pháp lệnh thủ tiêu phong kiến của Quốc hội Lập hiến, nhất là ở Alsace, nay cảm thấy lo sợ pháp lệnh của Quốc hội Lập pháp.[90] Tuy nhiên, Hoàng đế Áo Leopold II kể từ đầu cuộc Cách mạng chỉ ra một bản tuyên bố thận trọng cùng Vua Phổ và vào ngày 21 tháng 12 năm 1791 không thừa nhận cái cớ chính có thể dùng để tuyên chiến.[91] Pháp vào mùa thu năm 1791 không bị bất cứ nước ngoài nào uy bức.[92]

Tuy nhiên, một số phe phái trong Pháp muốn có chiến tranh: nhà vua thì ngầm mong Pháp thua để được khôi phục vương quyền hoàn toàn; một bộ phận của phe Feuillants nắm quyền như Lafayette thì đi tìm vinh quang chiến trường; một bộ phận của phe Jacobins do Brissot và Vergniaud lãnh đạo thì muốn mượn dùng chiến tranh để phát động người dân, củng cố Cách mạng, truyền bá tư tưởng cách mạng khắp châu Âu,[93] đến cả mở cửa kinh tế.

 
Tranh in tay của phe bảo hoàng châm biếm cuộc tranh luận tuyên chiến ở Hội Jacobin vào tháng 1 năm 1792 (Paris, Thư viện Quốc gia, 1792).

Đây chính là lúc cuộc xung đột giữa phe Gironde và phe Thượng thành hình. Từ tháng 12 năm 1791, Robespierre, Billaud-Varenne, Camille Desmoulins, Georges Danton, François Nicolas Anthoine, Philibert Simond, François Amédée Doppet, Antoine Joseph Santerre, Étienne-Jean Panis bắt đầu vận động chống lại cuộc chiến[94] họ cho là trái với tinh thần chủ hoà của Cách mạng, có ghi trong hiến pháp năm 1791,[95] được các tờ báo ủng hộ, như Le Père Duchesne của Hébert, Les Révolutions de Paris của Louis Prudhomme và Sylvain Maréchal, L’Ami du peuple của Marat, L’Orateur du peuple của Fréron, La semaine politique et littéraire của Dusaulchoix, và Le Journal universel ôn hoà hơn của Pierre-Jean Audouin. Họ cũng nhận định cái nguy của phản cách mạng trong nước nặng hơn cái nguy của đảng di cư, cho nên cần ưu tiên diệt nội gian.

Tuy nhiên, Quốc hội Lập pháp nghiêng hẳn về chiến tranh, nhất là sau khi Leopold II chết vào ngày 2 tháng 3 năm 1792.[96] Louis XVI miễn nhiệm các bộ trưởng Feuillant phản chiến, bổ nhiệm các bộ trưởng Gironde hợp ý.

Vào ngày 20 tháng 4 năm 1792, Quốc hội Lập pháp biểu quyết đa số tuyệt đối tuyên chiến “Vua của Bohemia và Hungary” theo đề nghị của nhà vua, tức là chỉ đánh Áo chứ không phải toàn bộ Đế quốc La Mã Thần thánh.[97]

Quyền phủ quyết của nhà vuaSửa đổi

 
Quân nổi dậy và Louis XVI chạm mặt ở Cung Tuileries vào ngày 20 tháng 6 năm 1792.

Tình hình chiến tranh lúc đầu rất khó khăn: quân đội Pháp hoàn toàn vô tổ chức bởi một số sĩ quan quý tộc đã di cư, thua trận để hở biên giới phía bắc và đông bắc.

Những người yêu nước trong Pháp bắt đầu nghi ngờ triều đình, quý tộc và các linh mục kháng thệ âm mưu bán nước. Dưới sức ép của phe Gironde, Quốc hội Lập pháp thông qua ba pháp lệnh quốc phòng: vào ngày 27 tháng 5, thông qua pháp lệnh đuổi ra khỏi nước các linh mục kháng thệ; vào ngày 29 tháng 5, cách chức cận vệ của nhà vua; vào ngày 8 tháng 6, lập trại lính vệ binh quốc gia để bảo vệ Paris.[98]

Vào ngày 12 tháng 6, Louis XVI cách chức các bộ trưởng Gironde. Vào ngày 13, phủ quyết các pháp lệnh về linh mục kháng thệ và trại vệ binh; nhà vua bị gọi biệt danh là “Quý ngài Phủ quyết”. Vào ngày 20 tháng 6 năm 1792, ​​người dân tiếp quản Cung Tuileries. Tuy nhiên, nhà vua không chịu rút lại phủ quyết.[99] Phổ vào ngày 6 tháng 7 tham chiến cùng với Áo, Quốc hội Lập pháp buộc phải tuyên bố “tổ quốc lâm nguy” vào ngày 11 tháng 7 năm 1792, bãi bỏ quyền phủ quyết của nhà vua, gọi tất cả các lính tình nguyện đến Paris.

Ngày 10 tháng 8 năm 1792: chế độ vua chúa sụp đổSửa đổi

 
Trận đánh chiếm Cung Tuileries ngày 10 tháng 8 năm 1792, tranh sơn dầu của Jean Duplessis-Bertaux, viện bảo tàng ở Cung Versailles.

Vào ngày 25 tháng 7 năm 1792, Phổ ra bản tuyên ngôn Brunswick, soạn ở Koblenz, có Axel de Fersen góp ý.[100] Người dân Paris vào ngày 1 tháng 8 đọc được nội dung: sẽ có “cuộc hành binh công kích toàn diện” nếu hoàng gia chịu bất cứ bạo lực nào. Không còn ai yêu nước có thể ngờ âm mưu bán nước của nhà vua. Không những không uy hiếp được giai cấp lao công, văn kiện này vừa kích động bộ phận cách mạng ở Paris, vừa tạo cái cớ khởi động lại Cách mạng và lật đổ chế độ vua chúa.[101] Louis XVI tuy đọc trước văn kiện, nhưng không chịu điều tiết giọng văn và nội dung.[102]

 
Danton.

Trong khoảng đêm 9 đến rạng ngày 10 tháng 8, Công xã cách mạng được thành lập ở Tòa thị chính thay chính quyền hợp pháp. Vào lúc rạng sáng, quân nổi dậy gồm Vệ binh Quốc gia từ các vùng ngoại ô yêu nước và các tỉnh tập hợp trước Cung Tuileries do các lính tình nguyện quý tộc, Vệ binh Thụy Sĩ và một số Vệ binh Quốc gia bảo vệ. Mặc dù bị kiểm soát trong ít lâu và phải chịu thương vong nặng nề, quân nổi dậy xông vào cung điện, cướp phá đồ đạc và thảm sát một phần của Vệ binh Thụy Sĩ. Tuy nhiên, nhà vua cùng hoàng gia đã trốn đến Quốc hội Lập pháp. Quốc hội Lập pháp cho vào, nhưng đình chỉ chức vụ sau khi phong trào nổi dậy hoàn toàn thành công.[103]

Cùng lúc Quốc hội Lập pháp thông qua pháp lệnh ấn định tổ chức bầu cử Đại hội Toàn quốc có độc quyền quyết định việc phế truất nhà vua và soạn hiến pháp mới.[104] Vào tối ngày 10 tháng 8, Quốc hội Lập pháp tuyệt đại đa số lập Hội đồng Hành chính Lâm thời gồm sáu bộ trưởng làm chính phủ lâm thời. Nhưng chính quyền đã chuyển từ Quốc hội Lập pháp vào tay Công xã Paris.[105]

 
Les massacres de Septembre au Châtelet et à Bicêtre. Gravure anonyme, Paris, BnF, département des estampes et de la photographie, 1792.

Việc Phổ tham chiến cùng với Áo là quyết định của Vua Frederick William II, trái với lời khuyên của chú mình là Hoàng tử Henry. Henry ủng hộ cuộc cách mạng lập hiến, vào mùa đông năm 1788 đã tự mình đến Paris thảo luận các dự án cải cách với Necker.[106] Có động binh lại. Sau khi hội quân, Phổ và Áo vào ngày 19 tháng 8 tiến vào Pháp, lần lượt đánh hạ các thành trì.[107]

Danton tuyên bố vào ngày 2 tháng 9 năm 1792: “Mạnh dạn lên, táo bạo nữa, luôn táo bạo, sẽ cứu được Tổ quốc”. Một nhóm gồm 200 đến 300 người đổ lỗi tình hình chiến tranh cho kẻ thù bên trong Pháp,[108][109] vào cùng ngày đến chín nhà tù của Paris thảm sát một nửa số người bị giam giữ: tất cả các linh mục kháng thệ, những kẻ tình nghi phản cách mạng, những kẻ làm giả tín , tất cả nô lệ chèo thuyền cho nhà vua, tù chính trị và đến cả 60 trẻ em.[110][111][112] Vụ Thảm sát tháng 9 diễn ra đến ngày 6, chính quyền không dám ngăn cản.[113] Các đại biểu từ ngày 29 tháng 10 mới dám lên án.

Các đảng phái trong Đại hội Toàn quốcSửa đổi

 
Phòng Manège ở Cung Tuileries, hội trường của Đại hội Toàn quốc.
 
Jacques Pierre Brissot, nhân vật phe Gironde. Tranh vải của Fouquet, Lâu đài Versailles và Lâu đài Trianon, năm 1792.

Người dân bầu lên các hội đồng sơ tuyển, các hội đồng sơ tuyển vào ngày 2 tháng 9 bắt đầu bầu lên Đại hội Toàn quốc. Đây là lần đầu tiên tất cả đàn ông được bỏ phiếu, nhưng số cử tri đi bầu rất thấp. Phe Thượng tranh thủ được nhiều phiếu.[114] Có hai phe đối lập trong Đại hội. Phe Gironde nghi ngờ các hội chính trị, người dân Paris và Công xã Paris, cử tri là ở các tỉnh và tầng lớp tư sản giàu có nhờ buôn bán sản xuất, ủng hộ các quyền tự do cá nhân kinh tế, không thích chính trị phá lệ. Brissot, rồi Vergniaud, Pétion, Roland và Buzot lãnh đạo phe Gironde.

Phe Thượng ngồi trên băng ghế cao nhất, gồm các hội viên của Hội Jacobin. Cử tri ủng hộ phần lớn là người dân Paris, các nghệ nhân ở nông thôn và nông dân nhỏ. Phe Thượng giống như phe Gironde là phe của tư sản tỉnh lẻ, ủng hộ nguyện vọng nhân dân, tránh xa cực đoan.[115] Hiểu rằng Cách mạng cần phải có nhân dân giúp đỡ để giành được thắng lợi, phe Thượng tranh thủ được bình dân Paris gồm thợ thuyền, thợ thủ công, tiểu thương và sẵn sàng phá lệ để cứu Tổ quốc. Trong số các lãnh tụ có Robespierre, Danton, Marat và Saint-Just.

Ở giữa là số đông đại biểu, gọi là “phe độc lập”, cũng bị gọi là phe Đầm lầy hoặc phe Đồng bằng. Phe độc lập không có lập trường nhất quán,[116] có lúc thì theo phe Gironde để bảo vệ các quyền tự do và chế độ tư hữu, có lúc thì theo phe Thượng để giúp đỡ đất nước. Không thể xác định các nhóm trong phe độc lập bởi không nhóm nào có đường lối chính trị rõ ràng.[117]

 
Trận Valmy, ngày 20 tháng 9 năm 1792. Tranh của Horace Vernet, năm 1826.

Vào ngày 20 tháng 9 năm 1792, quân Pháp do tướng Dumouriez chỉ huy đánh bại quân Phổ ở Valmy, chặn đứng cuộc xâm lược. Vào ngày 8 tháng 10, quân Pháp tiến vào Bỉ để giải vây Lille và đánh đuổi quân Áo ra ngoài biên giới.[118] Tướng Custine vào ngày 30 tháng 9 chiếm giữ Speyer, vào ngày 5 tháng 10 Worms, rồi vào ngày 21 và 22 tháng 10 Mainz và Frankfurt, trấn giữ được bờ phía trái sông Rhine đương lúc Dumouriez giành chiến thắng quyết định ở Jemmapes vào ngày 6 tháng 11, chinh phục được Bỉ. Quân Pháp chiếm luôn Savoy, thuộc về Nhà Savoy. Lính Pháp đi đâu cũng tuyên truyền lý tưởng cách mạng. Người dân địa phương bắt đầu bàn tán về vẽ lại biên giới theo địa lý.[118]

Trước khi bãi họp, Quốc hội Lập pháp vào ngày 20 tháng 9 năm 1792 quy định nay các xã sẽ ghi chép hộ tịch, cho phép ly hôn và cải tổ hoàn toàn Công xã Paris. Ngày hôm sau, Đại hội Toàn quốc chính thức họp phiên đầu tiên. Tạm thời nắm quyền lập pháp hành chính, Đại hội Toàn quốc tuyên bố thủ tiêu chế độ vua chúa ngay, đẻ ra Đệ nhất Cộng hòa và quyết định rằng hiến pháp mới sẽ đưa ra người dân quyết định phê chuẩn. Ngày hôm sau, quy định năm 1792 là là năm I của nền Cộng hòa,[119] mở ra kỷ nguyên mới.

Đệ nhất Cộng hòaSửa đổi

Phe Gironde và phe ThượngSửa đổi

Phiên xử và cái chết của nhà vuaSửa đổi

 
Phiên xử Louis XVI ở Đại hội Toàn quốc, ngày 26 tháng 12 năm 1792. Tranh, Paris, Thư viện Quốc gia Pháp, năm 1793.
 
Cảnh xử tử Louis XVI, ngày 21 tháng 1 năm 1793. Tranh, Paris, Viện bảo tàng Carnavalet, năm 1793.

Nhà vua bị bỏ tù. Mạng sống của nhà vua treo lủng lẳng.[120] Phe Gironde lúc đó kiểm soát Đại hội Toàn quốc và chiếm số đông trong Hội đồng Hành chính Lâm thời.[121] Việc xét xử nhà vua gây tranh cãi trong Đại hội Toàn quốc. Phe Gironde thấy không tiện lợi mà muốn dời lại phiên xét xử.[122] Phe Thượng cấp tiến muốn đoạn tuyệt với Chế độ Cũ để thành lập nền Cộng hòa.[123] Tuy nhiên, người tính không bằng trời tính, vào ngày 20 tháng 11 năm 1792 phát hiện ở Cung Tuileries tủ sắt chứa giấy tờ rõ ràng quy tội nhà vua. Không xét xử có thể gây ra cuộc cách mạng mới. Vào ngày 11 tháng 12 năm 1792, Đại hội Toàn quốc mở phiên xét xử nhà vua, bất chấp phân lập tam quyền, mở đầu cuộc tử chiến giành quyền lãnh đạo Đại hội Toàn quốc cùng cuộc Cách mạng giữa phe Gironde và phe Thượng.[124]

Nhà vua nghe phát hiện chiếc tủ sắt giật mình. Ông tự bào chữa thậm tệ và đến cả chối bỏ bằng chứng.[125] Tuy nhiên, chứng minh nhà vua có tội trong phiên xét xử này chỉ là phụ, cái chính là dùng hình phạt vào mục đích chính trị.[124] Marat kêu gọi Đại hội Toàn quốc điểm danh bỏ phiếu từng đại biểu cho mọi người cùng nghe để quyết định “cái chết của nhà vua”,[126] mà biến sự thí nghịch thành bằng chứng cho lòng ủng hộ nền cộng hòa.[127] Vào ngày 15 tháng 1, Đại hội Toàn quốc nghị án xong, nhà vua bị số đông áp đảo kết tội, 693 phiếu tán thành 13 phiếu không tán thành. Vào ngày 17 tháng 1, bị kết án tử hình, 387 phiếu tán thành 334 phiếu không tán thành.[128] Philippe-Égalité, là Công tước Orleans và em họ của nhà vua, cũng bỏ phiếu tán thành, đánh dấu điểm khởi đầu của cuộc xung đột giữa phe Orlean và phe Chính thống. Đại hội Toàn quốc vào ngày 20 tháng 1 bác đề nghị hoãn thi hành án và đưa phán quyết ra nhân dân phê chuẩn của phe Gironde. Vào ngày 21 tháng 1 năm 1793, Louis XVI bị chém ở Quảng trường Cách mạng.

Xử tử nhà vua để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân Pháp và làm kinh ngạc các vua chúa của châu Âu. [129]Vào ngày 1 tháng 2 năm 1793, Pháp tuyên chiến Anh và Hà Lan, khiến các cường quốc châu Âu liên minh lần đầu tiên chống lại nước Pháp cách mạng.

VendéeSửa đổi

 
Cuộc nổi dậy ở Vendée.Tranh sơn dầu của Évariste Carpentier, thế kỷ 19, Phủ Thị chính Kuurne.

Để bổ khuyết số lính tình nguyện năm 1792 đã xuất ngũ, Đại hội Toàn quốc vào ngày 24 tháng 2 quyết định gọi 300.000 người đi lính bằng cách rút thăm, gây ra cuộc biểu tình tự phát rộng lớn trên khắp nước,[130] nhất là trong tầng lớp nông dân ở Alsace, Brittany, vùng cao nguyên Massif Central, và dãy núi Pyrenees. Các cuộc nổi dậy vũ trang ở hầu hết các vùng hoặc suy tàn hoặc nhanh chóng bị dập tắt, nhưng ở Anjou và Poitou thì có tổ chức và bắt đầu lan rộng.[131]

Vào ngày 3 tháng 3 năm 1793, người dân Vendée nổi dậy ở Cholet. Đây là nội biến khẩn cấp nguy hiểm nhất đối với Cách mạng. Các nhà sử học nhận định thương vong dao động từ 117.000 đến hơn 250.000 người.

Nguyên do trực tiếp của cuộc nổi dậy là pháp lệnh trưng binh của Đại hội Toàn quốc vào ngày 24 tháng 2.[132] Lý do xa thì nhiều. Người Vendée lúc đầu ủng hộ diễn biến năm 1789, nhưng càng về sau càng mất hy vọng. Nông dân ở Vendée không được hưởng lợi từ việc bán tài sản quốc gia. Đức tin của họ bị tổn thương sâu sắc sau khi Cách mạng quay sang chống giáo hội, nhất là sau khi Hiến luật Giáo sĩ được thông qua. Dân Vendée rất thân các dòng họ quý tộc nhỏ trong vùng, không khỏi kinh ngạc việc xử tử Louis XVI.

Toàn thể vùng Vendée bắt đầu nổi dậy.[133] Để dập tắt nội loạn, Đại hội Toàn quốc vào ngày 19 tháng 3 năm 1793 thông qua đạo luật khẩn cấp: tất cả quân nổi dậy có vũ khí hoặc bị kết tội tham gia sẽ bị xử tử.[134] Các đại biểu trong Đại hội Toàn quốc bắt đầu gọi quân nổi dậy là “giặc cướp”, cuộc nổi dậy là “chiến tranh Vendée”.[135] Để trấn áp kẻ thù trong ngoài nước, Đại hội Toàn quốc vào ngày 10 tháng 3 thành lập Tòa án Cách mạng, vào tháng 4 năm 6 cải tổ Ủy ban Quốc phòng thành Ủy ban Cứu quốc.[136]

Phe Gironde diệt vongSửa đổi

 
Chính biến ngày 2 tháng 6 năm 1793. Tranh in tay của Pierre-Gabriel Berthault cho thấy Vệ binh Quốc gia trước Đại hội Toàn quốc (Viện bảo tàng Carnavalet).

Phe Gironde sau cùng bị loại bỏ khỏi cuộc Cách mạng vì sự mâu thuẫn chính sách, vì muốn gây chiến mà không có phương tiện tác chiến, vì muốn cứu chế độ vua chúa, vì làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng mà không tìm ra được giải pháp, vì phát động lại phong trào cách mạng rồi lại muốn kiềm chế nó.[137] Các lãnh tụ chính của phe Gironde bị bắt giữ vào ngày 31 tháng 5 và 2 tháng 6 năm 1793, địa vị chính trường mất.

Năm 1793: Cộng hòa lâm nguySửa đổi

 
Tiêu ngữ cộng hòa trong vòng lá sồi cắm cờ ba màu, dựa vào bó que đội mũ bonê. Ở trước là con gà trống, súng đại bác và súng cối. Tranh in tay khuyết danh, Paris, Thư viện Quốc gia Pháp, năm 1793.
 
Marat bị ám sát, của David, năm 1793.

Việc xử tử nhà vua vào ngày 21 tháng 1 năm 1793, chính sách xâm chiếm sáp nhập của Đại hội Toàn quốc, hoạt động của các nhà cách mạng ở những nước châu Âu khác và các cuộc nổi dậy ở Vendée với những tỉnh khác đã khiêu chiến ngoài nước,[138] gây loạn trong nước, Đệ nhất Cộng hòa lâm vào tình thế thập tử nhất sinh. Tất cả các nước châu Âu chuyên chế liên minh đánh Pháp. Vào mùa xuân, Liên minh thứ nhất phản công, Pháp mất hết lãnh thổ chiếm được sau trận Valmy, chiến cục thảm hơn năm 1792: quân Áo, Phổ và Anh hành binh vào nước từ phía bắc và phía đông, quân Tây Ban Nha từ phía tây nam, quân Piedmont từ phía đông nam. Trong nước thì cuộc nổi dậy Vendée mở rộng quy mô và lan rộng ra một số tỉnh ở miền Tây. Quân nổi dậy nay do quý tộc lãnh đạo, muốn lập lại vua chúa. Saumur và Angers thất thủ vào ngày 9 và ngày 18 tháng 6 năm 1793, nhưng Nantes còn giữ được. Ở Lozère và trong Thung lũng Rhône cũng nổ ra những cuộc nổi dậy phục hoàng. Vào ngày 26 tháng 2 và ngày 12 tháng 8 năm 1793, Đại hội Toàn quốc thông qua pháp lệnh hợp nhất các trung đoàn của Chế độ cũ và các tiểu đoàn lính tình nguyện thành một quân đội, đặt tên là bán lữ đoàn.

Phe Thượng lên nắm chính quyền và kiểm soát Đại hội Toàn quốc sau khi phe Gironde mất thế lực chính trị. Cùng với Hội Jacobin, họ đảm nhiệm lãnh đạo chiến tranh[139] và giải quyết các vấn đề chính trị xã hội do tình thế gây ra. Những đại biểu thuộc phe Gironde chưa bị bắt giữ kêu gọi các tỉnh nổi dậy áp chế Paris, được chính quyền cấp tỉnh ở nhiều vùng ủng hộ.[140] Vào ngày 13 tháng 7, Jean-Paul Marat bị người thiếu nữ tỉnh Norman tên Charlotte Corday ám sát. Căng thẳng chính trị gia tăng.[141]

Vào ngày 24 tháng 6 năm 1793, Đại hội Toàn quốc thông qua bản hiến pháp rất dân chủ và phân cấp, được người dân phê chuẩn. Hiến pháp năm 1793 có tinh thần chủ quyền nhân dân, quy định bầu cử định kỳ theo chế độ bỏ phiếu phổ thông, cho phép công dân trực tiếp dự vào việc làm luật, và thừa nhận quyền khởi nghĩa (của các sự kiện ngày 10 tháng 8 và ngày 2 tháng 6).[142] Tuy nhiên, Đại hội Toàn quốc vào ngày 10 tháng 8 năm 1793 đình chỉ thi hành hiến pháp vô thời hạn.[143] Saint-Just thanh minh: “Không thể thi hành hiến pháp trong lúc nền Cộng hòa nguy ngập. Nó sẽ tự thiêu chính nó. Nó sẽ bị quân tấn công quyền tự do lợi dụng làm tấm bình phong, bởi vì nó thiếu ý chí cần thiết để áp chế chúng”.

 
Ủy ban Cứu quốc, năm II. Tranh màu nước khuyết danh, Paris, Thư viện Quốc gia Pháp, năm 1793-1794.
 
Thư của Ủy ban Trị an gửi Ủy ban Cứu quốc, báo có "năm gói thư gửi nước ngoài" đáng ngờ, ngày 27 tháng 1 năm 1794 (Viện Lưu trữ Pháp).

Vào ngày 6 tháng 4 năm 1793, Ủy ban Cứu quốc được thành lập làm cơ quan nắm chính quyền thay thế Ủy ban Quốc phòng, gồm chín đại biểu Đại hội Toàn quốc do Đại hội bầu lên, có cả Danton và Barère. Danton vào ngày 10 tháng 7 bị miễn nhiệm vì bị coi là quá ôn hòa. Vào ngày 27 tháng 7, Robespierre đắc cử vào Ủy ban. Những thành viên khác đắc cử vào ngày 14 tháng 8 và ngày 6 tháng 9 năm 1793. Vậy “Ủy ban lớn năm II” ra đời để lãnh đạo Pháp đến ngày chiến thắng. Mỗi tháng Đại hội Toàn quốc bầu lại 12 thành viên. Ủy ban Cứu quốc tập trung quyền hành chính, có quyền khởi xướng luật và bổ nhiệm công chức. Mỗi thành viên chuyên trách lĩnh vực riêng.[144] Ví dụ: Carnot chuyên trách quân sự. Robespierre chi phối Ủy ban, ép Đại hội Toàn quốc và Hội Jacobin theo chính sách của Ủy ban.

Ủy ban Trị an là ủy ban chính quyền thứ hai, được thành lập vào ngày 2 tháng 10 năm 1792 và cải tổ vào ngày 12 tháng 9 năm 1793. Ủy ban gồm 12 thành viên do Đại hội Toàn quốc bầu lên, tất cả thuộc về phe Thượng, có cả Vadier, Amar, và Voulland.[145] Ủy ban có các đặc quyền điều tra, bắt giữ, quản lý nhà tù và thi hành tư pháp cách mạng.[146] Vào Thời kì Khủng bố, Ủy ban cố mở rộng và duy trì quyền hạn của mình. Ủy ban Trị an tranh quyền với Ủy ban Cứu quốc. Vào ngày 9 tháng 3 năm 1793, Đại hội Toàn quốc ra pháp lệnh phái một số đại biểu đến các tỉnh và quân đội để thi hành chính sách của Đại hội, ủy cho quyền hạn rất lớn để lập lại trật tự ở bất cứ nơi nào và bắt giữ bất cứ ai đáng ngờ. Họ phải báo cáo Đại hội Toàn quốc về hoạt động của họ.

Phục hưngSửa đổi

Luật pháp, các phong trào đại chúng và sự củng cố chính quyềnSửa đổi

 
Người dân cầm vũ khí, tranh màu bột của Jean-Baptiste Lesueur, 1793-1794, Viện bảo tàng Carnavalet.
 
Jacques Roux, chi tiết trong tranh in tay khuyết danh, cuối thế kỷ 18, Viện bảo tàng Carnavalet.

Phe Thượng nay cầm quyền, nhưng phải chú ý giai cấp công nhân cùng những người thay mặt cho họ.[147] Tuy đã dựa vào họ để hạ bệ phe Gironde, nhưng phe Thượng không có ý chia sẻ quyền lực với họ[148] hay chấp nhận các yêu sách của họ. Phe Thượng cố gắng kiểm soát giai cấp công nhân thông qua Hội Jacobin để phòng trước các mối nguy nổi dậy. Họ sợ sẽ là nạn nhân của phe Kích nộ hay tuyên truyền nổi dậy ở Paris. Giống phe Gironde, phe Thượng sau khi lên nắm quyền không dám chạm đến các quyền tự do kinh tế. Họ không muốn kích động các phong trào đại chúng, một mặt chấp nhận các yêu sách, một mặt cố gắng gièm pha các lãnh tụ.[149]

Tuy nhiên, giai cấp công nhân chủ yếu lo nghĩ đến giá thành cao và sự khan hiếm của đồ ăn. Tự cho mình là đại biểu chân chính nhất của họ, phe Kích nộ đã nhiều tháng đấu tranh cải thiện tình hình xã hội, được quần chúng bất bình ủng hộ.[150] Cái chết của Marat vào ngày 13 tháng 7 tạo dịp cho nhà báo Jacques-René Hébert tự phong là người nối nghiệp của ông, nhân đó chiếm dụng cương lĩnh của phe Kích nộ, cạnh tranh với họ để giành quyền kế vị Marat.[151] Để thu hút công nhân ở Paris, ông vận động hạ bệ cựu linh mục Jacques Roux là lãnh tụ của phe Kích nộ, thưa lên Hội Jacobin rằng hắn là người chủ mưu vụ nổi dậy bắt giữ các đại biểu thuộc phe Gironde.[152] Có tham vọng nắm quyền, Hébert từ ngày 1 tháng 8 năm 1793 đoạn tuyệt với phe Thượng, lợi dụng bất ổn xã hội để công kích chính quyền.[153]

Thật ra Jacques Roux và phe Kích nộ dù cho có lúc quá khích không uy bức được chính quyền, vì tuy được người dân ủng hộ nhưng không có chỗ dựa để vươn tới tầm quyền lực.[154] Đáng gờm hơn nhiều là Hội Cordeliers. Vốn đã có nhiều chỗ dựa ngay cả ở các tỉnh, Jacques-René Hébert là một trong những hội viên nổi tiếng, được Hội Cordeliers ủng hộ, là lãnh tụ của “phe Hébert”. Cũng là người sáng lập tờ “Père Dphiếuuchesne” là tờ báo nổi tiếng duy nhất, có những bài tuy hay phiến diện và đôi khi tục tĩu song được phổ biến trong quân đội nhờ Vincent và Bouchotte.[155] Công xã Paris chịu ảnh hưởng lớn của “phe Hebert”. Sau Vụ Thảm sát tháng 9 và sự tàn lụi của “phe Kích nộ”, Hébert cùng các đồng minh công khai công kích phe Thượng, gọi họ là “Gironde mới”, đòi Đại hội Toàn quốc khai trừ họ.[156]

Để xoa dịu người dân thành thị bất bình về khó khăn cung ứng, giá đồ ăn gia tăng và tín miếuất giá mà không cho các nhà lãnh đạo công nhân dịp tuyên truyền chống phá, Ủy ban Cứu quốc thi hành các biện pháp kinh tế. Vào ngày 26 tháng 7 năm 1793, Đại hội Toàn quốc thông qua luật chống tích trữ, phạt chết bất cứ ai tích trữ đồ ăn thay vì đem bán.[157] Một mặt phe Thượng phải nhường bước, một mặt vẫn không chịu cải tạo kế hoạch nền kinh tế mạnh hơn theo yêu sách của giai cấp công nhân để tránh gây mất lòng giai cấp tư sản và nông dân.[158][159]

 
Lính tình nguyện vui vẻ đi nhập ngũ, tranh màu bột của Jean-Baptiste Lesueur, 1793, Viện bảo tàng Carnavalet.
 
Nông dân bán nông sản cho người đổi tiền lấy tín phiếu. Tranh màu bột của Lesueur, Viện bảo tàng Carnavalet.

Tuy nhiên, dưới sức ép của dân chúng, Đại hội Toàn quốc vào ngày 23 tháng 8 năm 1793 ra pháp lệnh trưng binh toàn dân: tất cả mọi người từ 18 đến 25 độc thân hoặc góa bụa mà không có con đều được gọi đi lính. Toàn dân Pháp phải tham gia chiến tranh, toàn bộ nền kinh tế chuyển sang phục vụ chiến tranh. Từ tháng 9 đến mùa xuân năm 1794, gần 400.000 người nhập ngũ, quân đội tổng cộng có 750.000 lính.[160][161] 11 đơn vị mới được tạo ra.

Vào ngày 27 tháng 8 năm 1793, Toulon thất thủ. Uy thế chính phủ suy yếu nặng, các nhóm cực đoan vào ngày 4 và 5 tháng 9 lấy đó làm cớ ép Đại hội Toàn quốc phát động Thời kì Khủng bố. Đại hội Toàn quốc buộc phải chịu một loạt yêu sách, nhất là huy động quân đội cách mạng Paris để trưng dụng thóc gạo mà vận chuyển đến Paris và trả thù lao cho công nhân. Vào ngày 11 tháng 9, Đại hội Toàn quốc quy định giá trần toàn quốc cho thóc gạo và bột. Tuy nhiên, sự trơ ì của chính phủ gây ra cuộc bạo động mới vào ngày 22 tháng 9. Đại hội Toàn quốc vào ngày 29 buộc phải thông qua Luật Giá trần chung, quy định giá trần là 30% hơn mức giá năm 1790 và cố định mức tiền công tối đa. Tỷ giá tín được điều chỉnh lại.[162] Tuy nhiên, vẫn không giải quyết được khó khăn tiếp tế các thành phố. Sức mua của người làm được trả lương bằng tín phiếu sẽ tiếp tục bị xói mòn.[163]

 
Ủy ban Giám sát Cách mạng kiểm tra giấy chứng nhận yêu nước. Paris, Thư viện Quốc gia Pháp, năm 1793-1794.

Vào ngày 5 tháng 9 năm 1793, quần chúng áp đặt khủng bố “làm nhật lệnh”. Vào ngày 17 tháng 9, Đại hội Toàn quốc thông qua Luật Truy nã nghi phạm, bỏ tù tất cả kẻ thù của Cách mạng, gồm quý tộc, đảng di cư, linh mục kháng thệ, những người ủng hộ chủ nghĩa liên bang, đến cả người đầu cơ và người nhà của họ. Các hội quần chúng dưới quyền công nhân kiểm được trao quyền giám sát. Tuy nhiên, chính quyền vẫn kiểm soát được tình hình.

Chính quyền vừa cưỡng được yêu sách của các nhóm cấp tiến nhất trong Đại hội Toàn quốc, vừa cấm các nhóm cực đoan. Chính quyền được củng cố, nhưng vào ngày 13 tháng 9 phải kết nạp đại biểu của giai cấp công nhân. Phe Kích nộ mất, bạo động chống phá Ủy ban Cứu quốc chấm dứt. Đây là điểm đánh dấu phong trào bình dân ly khai chính quyền cách mạng.[164]

Thắng trận ngoài nước, đàn áp trong nướcSửa đổi

 
Trận Hondschoote, ngày 8 tháng 9 năm 1793.
 
Liên minh thứ nhất rút quân khỏi Toulon vào tháng 12 năm 1793.

Chính sách chủ động của Ủy ban Cứu quốc giúp chấn chỉnh tình hình trong ngoài nước. Quân đội Pháp vào ngày 8 tháng 9 năm 1793 thắng trận ở Hondschoote, vào ngày 16 tháng 10 ở Wattignies. Tuy không mang tính quyết định,[165] nhưng cầm chân được quân xâm lược và cho thấy sự phục hưng của quân đội Pháp.[166]

Mặc dù bại trận quân Tây Ban Nha ở Collioure và Port-Vendre, quân Pháp đánh bại quân Áo-Phổ và quân Saxon ở Wissembourg vào ngày 26 tháng 12 và ở Landau vào ngày 28, ép Liên minh thứ nhất vào thế thủ trên mọi mặt trận.[167] Anh, Hanover và Hà Lan tham chiến, nhưng cục thế chiến tranh giữ nguyên. Vào mùa xuân năm 1794, lệnh trưng binh toàn dân bắt đầu phát huy toàn tác dụng,[168] Pháp phản công, tình hình chiến tranh bắt đầu cải thiện.[169]

Trong nước thì cuộc nổi dậy ngoài tỉnh đang suy yếu. Các tỉnh biên giới vẫn theo trung ương, quân nổi dậy lại không bén rễ trong dân, nên chính quyền cách mạng nhanh chóng chiếm lại được các thành phố lớn.[170] Marseilles được giải phóng vào ngày 25 tháng 8 năm 1793, Bordeaux vào ngày 18 tháng 9, Lyon vào ngày 9 tháng 10, Toulon thất thủ vào tay quân Anh vào ngày 27 tháng 8, đến ngày 19 tháng 12 mới giành lại được. Ở hầu hết các thị trấn được tái chiếm, người dân bị đàn áp tàn bạo. Tuy nhiên, đảo Corse vào tháng 5 tuyên bố thoát ly Pháp, mời quân Anh đến bảo hộ.[170] Anh nhận lời vào ngày 19 tháng 1 năm 1794.

Nổi dậy Vendée bị dập tắtSửa đổi
 
Henri de La Rochejaquelein, tranh vải của Guérin, năm 1816.
 
Louis Marie Turreau, tranh vải của Louis Hersent, năm 1800, Paris, Viện bảo tàng Carnavalet.

Sau những thất bại vào mùa xuân và mùa hè năm 1793, quân đội Pháp vào mùa thu giành lại thế thượng phong, lần đầu tiên đánh bại Quân đội Công giáo Hoàng gia ở Cholet vào ngày 17 tháng 10 mà không diệt hết. Henri de La Rochejacquelein nhân dịp lên lãnh đạo lực lượng. Vào ngày 14 tháng 11 năm 1793, quân nổi dậy cố gắng chiếm cảng Granville ở Cotentin, hẹn hội quân với quân Anh và đảng di cư, nhưng thất bại. Tàn quân tiến về Le Mans, vào ngày 16-19 tháng 12 bị nghiền nát. Những binh lính còn lại bị thảm sát ở Savenay vào 22-23 tháng 12 năm 1793.[171]

Chính phủ cách mạng lập lại chính quyền ở Vendée và các tỉnh nổi dậy lân cận. Vào ngày 1 tháng 8 và ngày 1 tháng 10 năm 1793, ra lệnh tuyệt diệt quân đội Vendée, mở màn cuộc đàn áp khủng khiếp. Từ tháng 12 năm 1793 đến tháng 2 năm 1794, đại biểu công tác Jean-Baptiste Carrier xử tử vài nghìn người ở Nantes, thô bạo nhất là những vụ dìm chết và xử bắn tập thể.[171] Ở Angers, gần 2.000 người đàn bà bị giết. Saumur cũng chịu cảnh giống vậy.[172] Vào ngày 17 tháng 1 năm 1794, các bộ đội địa ngục do Tướng Louis-Marie Turreau chỉ huy được tổ chức, ra vùng đồng ruộng đốt làng giết dân không phân biệt người làm cách mạng người phản cách mạng, hiếp dâm đàn bà, giết luôn trẻ sơ sinh.[173]

Con giun xéo lắm cũng quằn, người dân Vendée vào mùa xuân năm 1794 phát động kháng chiến du kích do Stofflet và Charette chỉ huy, thỉnh thoảng đạt được một số thắng lợi. Tuy nhiên, phần lớn cũng chóng tàn vào năm 1795 và 1796 sau khi hai nhà lãnh đạo này bị bắt giữ và xử tử. Phải đến năm 1801, Pháp và Giáo hội Công giáo kí giáo ước, Vendée mới được bình định lâu dài.

Chính phủ ổn định, khủng hoảng dân chúngSửa đổi

Chính phủ cách mạngSửa đổi

 
Cảnh Nhà Flore thuộc Cung Lourve nhìn từ Cầu Hoàng gia, vào thời Cách mạng đặt tên lại là "Nhà Bình đẳng"[174]. Ủy ban Cứu quốc đặt trụ sở ở tầng trệt, trong chổ ở cũ của nữ hoàng[175]. Tranh vẽ bút màu nước nâu, năm 1814.
 
Brissot và năm đại biểu Đại hội Toàn quốc khác thuộc phe Gironde bị Tòa án Cách mạng kết án tử hình, cuối tháng 10 năm 1793. Tranh in tay khuyết danh, Paris, Thư viện Quốc gia Pháp, năm 1793.

Vào ngày 10 tháng 10 năm 1793, Saint-Just tuyên bố “giữ nguyên chính phủ cách mạng cho đến ngày lập lại hòa bình”. Đây là chính phủ cách mạng nhất và cộng hòa nhất của Pháp vào thời kì Cách mạng, là chính phủ chiến thời chịu trách nhiệm khôi phục chế độ lập hiến “tự do hòa bình chiến thắng” ngay khi kẻ thù bị đánh bại.[176]

Đại hội Toàn quốc xét vấn đề chính là kiềm chế khuynh hướng vô chính phủ của phe cách mạng ở Paris và phối hợp các lực lượng cách mạng.[177] Vào ngày 4 tháng 12 năm 1793, Đại hội Toàn quốc thông qua đạo luật hạn chế quyền lực của các đại biểu công tác, tập trung quyền hạn vào trung ương, giải tán các “quân đội cách mạng tỉnh” và các tòa án cách mạng địa phương; nay chỉ có một Tòa án cách mạng đặt ở Paris. Đại hội Toàn quốc trở thành “trung tâm động lực duy nhất của chính phủ”. Đại hội Toàn quốc quy định quyền hạn của các cơ quan chính quyền và bầu ra Ủy ban Cứu quốc và Ủy ban Trị an.[178]

Đàn áp Kitô giáoSửa đổi

 
Lễ Lý tính ở Nhà thờ Đức Bà Paris ngày 10 tháng 11 năm 1793. Trong điện có ngọn núi, nữ diễn viên đóng vai nữ thần Tự do. Có đại biểu Đại hội Toàn quốc dự lễ. Tranh in tay, Paris, Thư viện Quốc gia Pháp, năm 1793.

Các hiềm khích giữa giai cấp giáo sĩ và phe cách mạng từ đầu cuộc Cách mạng đến nay dấy lên phong trào đàn áp Kitô giáo.[179] Có thể thấy phong trào bộc phát ở các tỉnh từ tháng 8 năm 1793,[180] ở Paris thì muộn hơn. Phong trào tuy không phải do chính phủ lãnh đạo, nhưng có tổ chức, lan rộng đến nhiều tỉnh.[181] Các đại biểu công tác và các hội chính trị cổ vũ người dân đi đập thánh tượng, phá hoại tài sản của giáo hội, báng bổ đạo, khiến cho Hiến luật Giáo sĩ sụp đổ.[182]

Phe Hébert lợi dụng phong trào để chống phá chính phủ[183] và dựng lên việc sùng bái các vị liệt sĩ Cách mạng. Vào ngày 5 tháng 10 năm 1793, Đại hội Toàn quốc sửa lại lịch pháp, bỏ dương lịch Kitô giáo, ban bố lịch cộng hòa. Vào ngày 10 tháng 11, Lễ hội Lý tính được cử hành ở Nhà thờ Đức Bà Paris, nay là Đền thờ Lý trí.[184] Vào ngày 23 tháng 11, Công xã Paris ra lệnh đóng cửa các nhà thờ. Tuy nhiên, Ủy ban Cứu quốc và phe Robespierre đều phản đối phong trào đàn áp đạo, nhận ra được mối nguy của phong trào đối với chế độ cả trong nước và ngoài nước.

Danton cùng Robespierre khuyên can các lãnh tụ của Công xã Paris, làm cho phong trào rút xuống. Nhưng Ủy ban Cứu quốc chỉ bảo đảm được quyền tự do tôn giáo trên lý thuyết, chỉ kiềm chế được phong trào ở Paris.[185] Ở các tỉnh thì sự đàn áp sẽ tiếp diễn nhiều tháng.

Đấu đá bè pháiSửa đổi

Camille Desmoulins và bìa số thứ ba của tờ báo Le Vieux Cordelier (ngày 15 tháng 12 năm 1793).

Tuy ngoài nước thì tình hình chiến tranh bắt đầu cải thiện, nhưng trong nước thì dân tình vào tháng 12 năm 1793 hầu như chẳng tốt đẹp hơn, quần chúng vẫn bất mãn. Phe Kích nộ bị tiêu diệt rồi, Hébert cùng Hội Cordeliers lợi dụng bất ổn xã hội để yêu sách đòi những chính sách cực đoan hơn bao giờ hết.[186]

Phe Danton phản đối sự quá khích của phe Hébert và những bài phát biểu nảy lửa ủng hộ Thời kì Khủng bố.[187] Phe Danton nhận định, nội loạn thì đã dẹp yên, ngoại xâm thì đẩy lùi rồi, không còn lý do để giữ chính sách khủng bố nữa. Phe Danton bắt đầu vận động khoan hồng cùng lúc người bạn Desmoulins của Danton trên tờ báo mới Le Vieux Cordelier công kích phe Hébert và yêu cầu lập ủy ban khoan hồng.[188]

Biến cốSửa đổi

Ủy ban Cứu quốc ra tay củng cố cuộc Cách mạng.[189] Đối với cả phe Hébert lẫn phe Danton thì kiểm soát, đối với phong trào đàn áp Kitô giáo thì kiềm chế. Một mặt Ủy ban Cứu quốc hứa bảo vệ phe ôn hòa, một mặt ra vẻ chiều yêu sách của mọi phe phái;[190] Robespierre đã tiếp cận phe Danton. Thực ra thì đây chỉ là chiêu bài nhất thời, bởi chính phủ cách mạng xét cần phải có chính sách khủng bố để tiêu diệt Liên minh thứ nhất và phe phục hoàng, lập lại hòa bình.[191] Vào mùa đông năm 1793, người dân chịu tình cảnh vô cùng khó khăn, vừa đói vừa lạnh, phe cực đoan và Hébert nhân dịp kích động bạo loạn.[188]

 
Cảnh ban bố pháp lệnh thủ tiêu chế độ nô lệ ngày 4 tháng 2 năm 1794 ở Đại hội Toàn quốc. Bức vẽ, Paris, Viện bảo tàng Carnavalet.

Phe Thượng và Công xã Paris tạm gác lại tranh chấp, đồng ý tuyên bố giải phóng người da đen ở các thuộc địa thay mặt sự bình đẳng và loài người. Vào ngày 3 tháng 2 năm 1794, Đại hội Toàn quốc kết nạp ba đại biểu mới của Santo Domingo, có hai người da màu. Đại hội vào hôm sau thủ tiêu chế độ nô lệ ở các thuộc địa theo đề nghị của Levasseur, Lacroix, Grégoire, Cambon, Danton, và Bourdon de l'Oise.[192] Ba đại biểu được Simond, Momoro, Maure chào đón nồng nhiệt vào buổi tối cùng ngày ở Hội Jacobin.[193] Ủy ban Cứu quốc hoan nghênh quyết định của Đại hội Toàn quốc.[194] Vào ngày 18 tháng 2, Đền thờ Lý tính tức Nhà thờ Đức Bà Paris cũ cử hành lễ mừng quyết định, do Chaumette chủ trì. Vài ngày sau, Hébert trên tờ Père Duchesne viết rằng cảm thấy “niềm vui lớn”.[195]

Để tranh thủ giai cấp công nhân Paris mà bóp cổ phe Hébert, chính quyền cách mạng ra hai pháp lệnh cho phép sung công tài sản của các phần tử phản cách mạng để dùng vào việc cứu đói cứu nghèo.[196] Tuy nhiên, không đủ để xoa dịu Paris. Jacques-René Hébert thừa dịp công kích một số đại biểu trong Đại hội Toàn quốc, tố họ muốn đánh đồng “những người yêu nước chân chính” với phe Danton[197] là “những người muốn phá hủy các giàn giáo vì họ sợ phải leo lên chúng”.

Sau khi bị hai đại biểu phe Thượng tố lên Ủy ban Cứu quốc vào mùa thu năm 1793 thì phe Hébert bị nghi ngờ “câu kết với nước ngoài”,[198] nhưng chính quyền cách mạng không muốn công khai cáo buộc vì sợ làm mất uy tín đoàn kết của phe Thượng. Robespierre không chịu công kích Công xã Paris bởi nó là pháo đài của phần tử cách mạng Paris, được một số thành viên theo Hébert của Ủy ban Cứu quốc và Ủy ban Trị an che chở.[199]

Vào mùa xuân năm sau, chính phủ được củng cố, các phe đối địch bị suy yếu, Ủy ban Cứu quốc và Ủy ban Trị an đồng ý hợp tác, Robespierre được thế ra tay triệt hạ phe Hébert, coi là nguy hiểm nhất. Dịp tốt cho ông là lúc phe Hébert để lộ âm mưu lật đổ Đại hội Toàn quốc.[200] Collot d'Herbois cố hòa giải vô ích. Vào ngày 10 tháng 3, Saint-Just tường trình sự việc lên Đại hội Toàn quốc, có Robespierre thúc đẩy.[201] Vào ngày 13 tháng 3, các lãnh tụ chính của phe Hébert là Jacques-René Hébert, Momoro, Ronsin và Vincent bị bắt giữ. Họ bị Tòa án Cách mạng vài ngày sau kết án tử hình tội phiến loạn và tội “câu kết với nước ngoài” trong phiên tòa đã dàn xếp. Vào ngày 24 tháng 3 năm 1794, bốn người bị chém.[202]

Diệt được phe Hébert rồi, Robespierre và Saint-Just lại đánh phe Danton[203] dưới sức ép của Vadier và các đồng minh của ông trong Ủy ban Trị an, có Collot d'Herbois và Billaud-Varenne che chở. Tuy lúc đầu không chịu tố cáo Danton cùng những người khác, nhưng Robespierre đổi ý sau khi hội kiến thất bại với ông.

 
Hébert bị dẫn ra máy chém (bên phải), và Danton ở phiên tòa (bên trái). Bức phác họa của Dominique Vivant Denon (bộ sưu tập riêng).

Vào ngày 24 tháng 3 năm 1794, Saint-Just trình bản báo cáo về “các phe phái câu kết với nước ngoài” lên Đại hội Toàn quốc. Cùng lúc Vadier, kẻ thù lớn của Danton, thuyết phục được chính quyền bắt giữ phe ôn hòa trước cuộc biểu quyết buộc tội.[204] Danton không chịu chạy trốn. Vào ngày 30 tháng 3, ông bị bắt cùng với 15 người khác: Camille Desmoulins mặc dù thân với Robespierre, Fabre d 'Églantine vì dính dáng vào vụ lừa đảo Công ty Đông Ấn Độ, và 13 thành viên khác. Phiên tòa mở vào ngày 2 tháng 4. Các bị cáo bị kết án tử hình giống như phe Hébert. Vào ngày 5 tháng 4, 16 người bị chém. Cánh bảo thủ của phe Thượng tuyệt diệt.

Đương lúc xét xử thì tù nhân Alexandre de Laflotte vào ngày 4 tháng 4 tiết lộ “âm mưu vượt ngục”[205] để cho phe Danton phá ngục mà trốn thoát, do Tướng Dillion chủ mưu cùng đại biểu Simond hiện ngồi tù. Lucile Desmoulins bị tố tài trợ âm mưu bị bắt giam ở Sainte-Pélagie. Vào ngày 13 tháng 4, 29 bị cáo có Lucile, Pierre-Gaspard thuộc phe Hébert, Chaumette là cựu giám mục Paris, và vợ góa của Hébert bị kết án tử hình theo thủ tục rút gọn, động cơ là muốn “… tàn sát đại biểu nhân dân mà lập con của bạo chúa…”. Vào hôm sau, các tử tù bị chém.[206] Tổng cộng 60 người sẽ bị chém, có 11 đại biểu Đại hội Toàn quốc.[207]

Hậu quảSửa đổi

Cuộc thanh trừ chính trị làm rõ rằng chính quyền cách mạng muốn khép lại thời kỳ “nội chiến” mà xây dựng xã hội mới theo nguyện vọng phát động cuộc Cách mạng.[208] Robespierre và Ủy ban Cứu quốc vào mùa xuân năm 1794 khống chế được các lực lượng chính trị trong ngắn hạn.[209] Tuy nhiên, việc xử tử những người xướng lên Thời kì Khủng bố hoàn toàn cắt đứt “tình anh em cộng hòa” giữa chính quyền cách mạng và dân chúng.[210] Quan hệ giữa chính quyền và quần chúng xấu đi.[211]

Robespierre và Thời kì Khủng bốSửa đổi

 
Lễ Đấng Tối cao, năm 1794. Paris, Viện bảo tàng Carnavalet.
 
Chân dung Robespierre năm 1790.

Vào ngày 10 tháng 6 năm 1794, Đại hội Toàn quốc thông qua đạo luật khuếch đại chính sách khủng bố: Tòa án Cách mạng nay có độc quyền xét xử các tội chính trị, định nghĩa người phản cách mạng được mở rộng đến mức tối nghĩa.[212] Cuộc Đại khủng bố bắt đầu. Hơn 1.400 người bị chém ở Paris trong những tuần sau.

Vào ngày 26 tháng 6 năm 1794, quân Pháp đánh bại Liên quân thứ nhất ở Fleurus, chiếm lại được Bỉ. Lính Pháp trưng dụng lương thực ở các vùng chiếm đóng chở về Pháp.

Robespierre gây thù chuốc oán với nhiều phe phái bằng việc ủng hộ chính sách khủng bố. Ông lúc đó là nhà chính trị có quyền thế nhất. Kẻ thù của ông thấy ông chủ trì Lễ Đấng Tối cao vào ngày 8 tháng 6 năm 1794, xì xào với nhau rằng ông muốn làm độc tài. Nhân lúc ông tạm lui khỏi chính trường, họ lập nhóm mưu hạ bệ ông, gồm những thành viên của Ủy ban Trị an và những cựu đại biểu công tác, như Tallien và Fouché.

Robespierre ra Đại hội Toàn quốc, dọa thanh toán một số người nhất định, bao gồm cả một số đại biểu, nhưng không chịu gọi đích danh, cho nên ai cũng nghĩ là mình mà ngầm chống ông để giữ mạng. Âm mưu có Marais ủng hộ. Vào ngày ​27 tháng 7 năm 1794, Robespierre bị Đại hội Toàn quốc buộc tội và bị bắt giữ. Công xã Paris giúp ông miễn cưỡng thoát, đưa đến Phủ Thị chính. Tuy nhiên, giai cấp công nhân không chịu che chở cho Robespierre và những đồng minh của ông, một phần vì thoái chí về việc phe Hébert bị tiêu diệt, một phần vì không hài lòng về chính sách thù lao tối đa. Đại hội Toàn quốc lập tức tước quyền công dân của ông, ra lệnh quân lính đến áp giải ông về. Vào ngày 28 tháng 7, Robespierre bị chém cùng Georges Couthon, Saint-Just và những người theo ông. Đại hội Toàn quốc cho các đại biểu thuộc phe Gironde phục chức và bỏ chính sách Khủng bố.

Vào ngày 11 tháng 10 năm 1794, Jean-Jacques Rousseau được cải táng ở Đền Vạn Hiền trong buổi lễ hoành tráng.[213] Marat trước đó được cải táng vào ngày 1 tháng 9, nhưng bị bốc mả chôn lại ở chỗ khác vào ngày 26 tháng 2 năm sau. Đại hội Toàn quốc bắt đầu nghiêng hẳn về hướng bảo thủ.[214]

Đại hội Phản độngSửa đổi

Vào ngày 29 tháng 7 năm 1794, Đại hội Toàn quốc quy định nay phải bầu lại một phần tư số thành viên Ủy ban Cứu quốc và Ủy ban Trị an mỗi tháng. Luật ngày 10 tháng 6 năm 1794 bị bãi bỏ vào ngày 1 tháng 8. Công tố viên của Tòa án Cách mạng Fouquier-Tinville bị bỏ tù. Tòa án Cách mạng thôi xét xử, vào ngày 10 tháng 8 được cải tổ.[215] Nhiều tù nhân được thả.

 
Chân dung Carrier vào phiên tòa, Vivant Denon.

Có ba lực lượng chính trị tranh quyền đến tháng 10 năm 1794: phe ôn hòa muốn quay trở lại tình hình năm 1791, phe tân Hébert và phe Jacobin. Vào ngày 16 tháng 10 năm 1794, phe ôn hòa trong Đại hội Toàn quốc ra pháp lệnh cấm các hội chính trị liên kết với nhau để phá hoại tổ chức của phe Jacobin. Hội tranh cử của phe tân Hébert bị giải thể vào tháng 11. Phá bỏ được các tổ chức chính trị của đối thủ rồi, phe ôn hòa bắt đầu thanh toán những lãnh tụ nổi tiếng nhất của họ; Jean-Baptiste Carrier bị chém vào ngày 26 tháng 12. Các nhà sử học gọi thời kỳ này là “khủng bố trắng”. Các băng đảng được chính quyền ngầm che chở đi đánh đập những người hát bài Hành khúc Marseille, bắt phải hát bài Nhân dân thức tỉnh đả đảo khủng bố. Hài cốt của Marat bị di dời khỏi Đền Vạn Hiền. Những người thuộc phe Thượng đang ngồi tù ở Lyon, Nîmes, Marseille, v.v. bị tàn sát. Tuy nhiên, đây không phải là cuộc phản động về chế độ vua chúa. Một số người trong chính quyền mới có dính líu vào Thời kì Khủng bố. Chính quyền chủ trương trung lập, không thiên về phe dân túy tân Hébert (như Babeuf và tờ báo Le Tribun du peuple của ông) hoặc phe phục hoàng.

 
Dân biến ngày 20 tháng 5 năm 1795, tranh in tay của Helman phỏng theo Monnet, Paris, Thư viện Quốc gia Pháp, năm 1796.

Mùa hè năm 1794 bị bão nặng giống như năm 1788, các vụ thu hoạch kém hơn nhiều so với năm 1793. Mùa đông năm 1794 lạnh như năm 1788, người dân thành phố chịu cảnh rét đói.[216] Đại hội Toàn quốc vào ngày 24 tháng 12 năm 1794 bãi bỏ Luật giá trần hầu tiêu diệt chợ đen. Tín phiếu bị phá giá. Khủng hoảng nông nghiệp kèm khủng hoảng kinh tế. Người dân bạo động đòi bánh mì, nổi tiếng nhất là dân biến ngày 1 tháng 4 năm 1795 và nhất là dân biến ngày 20 tháng 5 năm 1795. Đại biểu Jean-Bertrand Féraud cố can ngăn, bị đám đông giết chặt đầu cắm trên cây giáo. Những người biểu tình và những kẻ chủ mưu bị đàn áp, nhất là sáu đại biểu phe Thượng, bị kết án tử hình và bị xử tử. Nhà sử học Albert Soboul chuyên nghiên cứu Cách mạng Pháp nhận định: “Động lực là phong trào quần chúng bị tiêu diệt rồi, cuộc Cách mạng đã kết thúc”.

Vào ngày 17 tháng 7 năm 1795, bản tân hiến pháp được Đại hội Toàn quốc thông qua, lập lại chế độ bỏ phiếu theo mức thuế. Hiến pháp được người dân phê chuẩn vào tháng 9. Trong cùng cuộc bỏ phiếu người dân phê chuẩn pháp lệnh dành trước hai phần ba số ghế trong khóa thứ nhất của hai viện lập pháp mới cho các đại biểu của Đại hội Toàn quốc, tức là phe phục hoàng cao lắm chỉ giành được một phần ba số ghế. Vào ngày 5 tháng 10 năm 1795, phe phục hoàng cố lật đố chế độ mới. Napoléon được lệnh của Barras dập tắt cuộc chính biến, có chỉ huy đại đội kỵ binh Joachim Murat yểm trợ.[217] Vào ngày 26 tháng 10 năm 1795, Đại hội Toàn quốc giao chính quyền cho Hội đồng Đốc chính.

Chế độ Đốc chínhSửa đổi

 
Paul Barras mặc đồng phục Đốc chính.
 
Phiên họp Hội đồng Đốc chính, ngày 21 tháng 11 năm 1795.
 
Napoléon Bonaparte ở Viện Năm Trăm vào cuộc đảo chính ngày 9 tháng 11 năm 1799 lật đổ chế độ Đốc chính. Tranh vải của Bouchot, năm 1840.

Chế độ Đốc chính nắm quyền từ ngày 26 tháng 10 năm 1795 đến ngày 9 tháng 11 năm 1799. Cơ quan lập pháp lần đầu có hai viện: Viện Năm Trăm (500 thành viên) và Viện Nguyên lão (250 thành viên). Hội đồng Đốc chính là cơ quan hành chính, gồm năm người do Viện Nguyên lão bổ nhiệm theo danh sách do Viện Năm Trăm tiến cử. Một mặt các bộ trưởng và năm Đốc chính không chịu trách nhiệm trước hai viện, một mặt hành chính không có quyền giải tán lập pháp. Hiến pháp không quy định thủ tục hòa giải giữa hai ngành, lặp lại sai lầm của hiến pháp năm 1791.[218]

Chính quyền phản động quy định hai phần ba số ghế hai viện lập pháp mới phải dành cho các đại biểu của Đại hội Toàn quốc. Các khu vực ở miền Tây, Thung lũng Rhone và phía Đông của Khối núi Trung tâm bầu lên đại biểu phục hoàng. Ngày ngày đều có bất ổn chính trị. Phe phục hoàng lập “mạng lưới thư từ” khắp trong nước để phối hợp tình báo, tuyên truyền và hoạt động chính trị, được anh em của Louis XVI và những nước ngoài giúp đỡ. Vào tháng 3 năm 1797, phe phục hoàng thắng cử. Vào tháng 9, phe cộng hòa ôn hòa gây biến cướp chính quyền, cách chức hai Đốc chính, bãi nhiệm hoặc hủy bỏ kết quả bầu cử của 177 đại biểu. Vào cuộc bầu cử năm 1798, phe Jacobin giành được nhiều ghế. Chính quyền về sau tự cho mình quyền chỉ định đại biểu của một nửa số khu vực bầu cử. Chính quyền phản động hoàn toàn mất uy tín.

Khủng hoảng kinh tế làm suy yếu thêm chế độ Đốc chính. Chính quyền hết tiền thuế. Tín phiếu bị phá giá hoàn toàn. Chính quyền phát hành ngân phiếu đất làm tiền giấy mới, nhưng trong một năm cũng mất hết giá trị. Từ năm 1797, chính quyền quy định thuế phải bằng đồng tiền, nhưng người dân không còn tiền kim loại. Sau khi trải qua thời kỳ lạm phát bởi phát hành tín phiếu, Pháp lại trải qua thời kỳ giảm phát ảnh hưởng mạnh vùng nông thôn. Không thể trả lại khoản nợ khổng nợ vay mượn vào Chế độ cũ và tám năm cách mạng, chính quyền tuyên bố phá sản “hai phần ba”, tức là chỉ cam kết trả lại một phần ba khoản nợ công. Hầu gây dựng lại tín dụng cho các chủ nợ, chính quyền vào năm 1798 đánh loại thuế mới vào cửa ra vào và cửa sổ. Hiến binh được lệnh đi thu thuế.

Ngoài nước thì quân đội Pháp phản công. Vào mùa xuân năm 1796, quân Pháp phát động chiến dịch lớn trên khắp Đức để buộc Áo phải chịu hòa. Quân dã chiến Ý do vị tướng trẻ Napoléon Bonaparte chỉ huy giành thắng lợi liên tiếp. Vào ngày 17 tháng 4 năm 1797, Áo ký Hòa ước Campo Formio với Pháp. Từ năm 1797 đến năm 1799, gần như toàn bộ bán đảo Ý biến thành các nước cộng hòa em dưới quyền Pháp, tổ chức chính quyền phỏng theo Pháp. Một mặt tài chính của chế độ Đốc chính được giải phóng, một mặt chính quyền ngày càng phụ thuộc quân đội. Chính trị nội bộ phải chịu sự phân xử của Napoléon. Hội đồng Đốc chính biết Napoléon tham quyền, bắt đầu ngầm toan tính chặn trước. Quân Pháp mở cuộc viễn chinh Ai Cập để cắt đứt tuyến đường giữa Anh và Ấn Độ. Hai cường quốc Nga và Anh thấy Pháp lập các nước cộng hòa em, lo sợ cách mạng lây lan và Pháp thống trị châu Âu mà lập Liên minh thứ hai vào năm 1798. Quân Pháp do Brune và Masséna chỉ huy đẩy lùi quân Anh, Nga và Áo.

Chế độ Đốc chính bị Napoléon Bonaparte lật đổ vào ngày 9 tháng 11 năm 1799. Napoléon tuyên bố: “Hỡi công dân! Cuộc cách mạng đã thực hiện được các nguyên tắc phát động nó rồi. Cuộc cách mạng đã kết thúc rồi”. Chế độ Tổng tài được thành lập, gồm ba Tổng tài, nhưng chỉ Đệ nhất Tổng tài Napoléon nắm hết thực quyền.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ op. cit., Palmer, R.R. & Colton, Joel. A History of the Modern World, p. 361, p. 361.
  2. ^ François-Alphonse Aulard, Histoire politique de la Révolution française : origines et développement de la démocratie et de la république : 1789-1804, Paris, A. Colin, 1901.
  3. ^ C'est le cas de l'influent ouvrage d'Edmund Burke, Réflexions sur la Révolution de France publié à Londres en 1790.
  4. ^ Michel Biard, Pascal Dupuy, La Révolution française. Dynamiques, influences, débats. 1787-1804, Paris, Armand Colin, 2004, 348 p.
  5. ^ En particulier dans les travaux qui ont interrogé la question de la violence révolutionnaire. Voir François Furet, Penser la Révolution française, Paris, 1978 ; Jean-Clément Martin, Violence et Révolution. Essai sur la naissance d’un mythe national, Paris, Seuil, 2006, 338 p. ; (tiếng Anh) Paul R. Hanson, Contesting the French Revolution, Chichester, 2009, 229 p.
  6. ^ (tiếng Anh) Linda S. Frey and Marsha L. Frey, The French Revolution (2004), Foreword ; (tiếng Anh) R.R. Palmer and Joel Colton, A History of the Modern World (5th ed. 1978), p. 341 ; (tiếng Anh) Ferenc Fehér, The French Revolution and the Birth of Modernity, (1990) pp. 117–30.
  7. ^ (tiếng Anh) Dmitry Shlapentokh, The French Revolution and the Russian Anti-Democratic Tradition, Edison, NJ: Transaction Publishers, 1997, pp. 220–28.
  8. ^ (Bertaud 2004, tr. 18).
  9. ^ Albert Soboul, La France à la veille de la révolution : Aspects économiques et sociaux., C.D.U., 1964, tr. Thiếu tham số! (Bản mẫu:P.)77.
  10. ^ Robert Darnton, L’Aventure de l'Encyclopédie, Paris, 1982.
  11. ^ Pernille Røge, A Natural Order of Empire: The Physiocratic Vision of Colonial France after the Seven Years’ War, Cambridge Imperial and Post-Colonial Studies Series. Palgrave Macmillan, London. https://doi.org/10.1057/9781137315557_3
  12. ^ Jean Nicolas, La Rébellion française. Mouvements populaires et conscience sociale (1661-1789), Paris, Seuil, 2002 ; Agone biên tập (2012). Pour quoi faire la Révolution. Marseille. tr. 208. ISBN 978-2-7489-0161-0. Đã bỏ qua tham số không rõ |pages totales= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |auteurs= (trợ giúp).
  13. ^ leparisien.fr biên tập (3 juin 2018). “Le 13 juillet 1788, un orage de fin du monde”. Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |auteur= (gợi ý |author=) (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp).
  14. ^ voir Le Roy Ladurie, Histoire humaine et comparée du climat, Bản mẫu:T..
  15. ^ Article (sửa | talk | lịch sử | liên kết | theo dõi | nhật trình).
  16. ^ Article (sửa | talk | lịch sử | liên kết | theo dõi | nhật trình).
  17. ^ Leo, Gershoy (1957). Van Nostrand (biên tập). The Era of the French Revolution (bằng tiếng Anh). Princeton. tr. 22. OCLC 563157811. Đã bỏ qua tham số không rõ |sous-title= (trợ giúp).
  18. ^ Leo, Gershoy (1957). Van Nostrand (biên tập). The Era of the French Revolution (bằng tiếng Anh). Princeton. tr. 16-17. OCLC 563157811. Đã bỏ qua tham số không rõ |sous-title= (trợ giúp).
  19. ^ François Olivier-Martin, Histoire du droit français, des origines à la Révolution (1948), Paris, Éd. du CNRS, 1984, p. 324.
  20. ^ (tiếng Anh) Peter Campbell, « Absolute Monarchy », dans William Doyle (ed.), The Oxford Handbook of the Ancien Régime, Oxford, 2012.
  21. ^ Parfois dans un parallèle effectué avec Louis XII. Nicole Hochner, Louis XII : les dérèglements de l'image royale, 1498-1515, Éd. Champ Vallon, 2006, tr. 24-25 {{URL|example.com|văn bản hiển thị tùy chọn}}.
  22. ^ Article (sửa | talk | lịch sử | liên kết | theo dõi | nhật trình)
  23. ^ François Furet et Denis Richet, La Révolution française, Hachette littératures, 2008, Bản mẫu:T., tr. 70.
  24. ^ André Zysberg, Nouvelle histoire de la France moderne. 5. La monarchie des Lumières 1715-1786, Seuil, Paris, 2002.
  25. ^ (Van Kley 2002) ; idem, « Du parti janséniste au parti patriote : l'ultime sécularisation d'une tradition religieuse à l'époque du chancelier Maupeou, 1770-1775 », dans C. Maire (éd.), Jansénisme et révolution, « Actes du colloque de Versailles », 13-14 octobre 1989, Chroniques de Port-Royal, Paris 1990.
  26. ^ A. Zysberg, op .cit. On peut citer la brochure anonyme des Réflexions d'un citoyen sur la séance royale, (1787, Liège) comme exemple de littérature spécifiquement anit-absolutiste de l'époque.
  27. ^ William Doyle, Origines de la Révolution française, Calmann-Lévy, 1988.
  28. ^ Albert Soboul, La Révolution française, Gallimard, Paris, 1982, tr. 138.
  29. ^ René Fonvieille, Barnave et la Révolution, Paris, Glénat, 1989, 340Bản mẫu:Nb p. ISBN 978-2-72341-003-8, tr. 71.
  30. ^ Anatoli Ado, Paysans en révolution : terre, pouvoir et jacquerie (1789-1794), Société des études robespierristes, 1996 ISBN 978-2-90832-738-0, 474Bản mẫu:Nb p., tr. 96.
  31. ^ (tiếng Anh) Jeremy D. Popkin, « The Provincial Newspaper Press and Revolutionary Politics », French Historical Studies, vol. Missing parameter! (Template:Vol.) 18, Bản mẫu:N°2, Bản mẫu:Pp.434-456.
  32. ^ Michel Vovelle, La Chute de la monarchie (1787-1792), Le Seuil, 1999.
  33. ^ Munro Price, The Road from Versailles : Louis XVI, Marie Antoinette, and the Fall of the French Monarchy, St. Martin's Press, 2003.
  34. ^ Pascal Perrineau, Dominique Reynié, Sandrine Lefranc (collectif), Dictionnaire du vote, Presses universitaires de France, 2001, tr. 426.
  35. ^ Alexandre Maral, Les derniers jours de Versailles, Paris, Perrin, 2018.
  36. ^ (tiếng Anh) John Hardman, Louis XVI: the Silent King, London, Arnold, 2000.
  37. ^ Henri-Évrard de Dreux-Brézé, Notice biographique sur M. le Marquis de Dreux-Brézé - Pair de France, La Renommée, 1842.
  38. ^ Histoire constitutionnelle de la France de 1789 à 1879 ; (tiếng Anh) Barry M. Shapiro, Traumatic Politics: The Deputies and the King in the Early French Revolution, Pennsylvania State University Press, 2009.
  39. ^ Jacques Proust, Diderot et l'Encyclopédie, 1967.
  40. ^ (tiếng Anh) Barry M. Shapiro, Traumatic Politics: The Deputies and the King in the Early French Revolution, Pennsylvania State University Press, 2009.
  41. ^ Jean-Clément Martin (2004). Belin (biên tập). La Révolution française, 1789-1799. tr. 20..
  42. ^ Pierre Caron, « La tentative de contre-révolution de juin-juillet 1789 », Revue d’histoire moderne & contemporaine, 1906.
  43. ^ Pierre Caron, « La tentative de contre-révolution de juin-juillet 1789 (suite et fin) », op. cit., tr. Thiếu tham số! (Bản mẫu:P.)42.
  44. ^ (tiếng Anh) Richard Clay, « Bouchardon’s statue of Louis XV: iconoclasm and the transformation of signs », in Stacy Boldrick, Richard Clay (ed.), Iconoclasm : Contested Objects, Contested Terms, Aldershot/Burlington, 2007.
  45. ^ Markovic Momcilo, « La Révolution aux barrières : l'incendie des barrières de l'octroi à Paris en juillet 1789 », Annales historiques de la Révolution française, vol. 2 (Bản mẫu:N°372), 2013, tr. Thiếu tham số! (Bản mẫu:P.)27-48.
  46. ^ Maurice Genty, « Les débuts de la Garde nationale parisienne (1789-1791) », dans Serge Bianchi, Roger Dupuy (éd.) La Garde nationale entre Nation et peuple en armes, Presses universitaires de Rennes, 2006 ; Georges Carrot, La Garde nationale, 1789-1871, une force politique ambiguë, Paris, 2001.
  47. ^ (Biard và đồng nghiệp 2009, tr. 62).
  48. ^ (Mathiez 2012, tr. 74-75).
  49. ^ Tulard, Histoire et Dictionnaire de la Révolution française, tr. 566-567.
  50. ^ (Furet 1988, tr. 120-121).
  51. ^ La décapitation est l’œuvre d'un garçon cuisinier nommé Desnot. J.-J. Guiffrey, « Documents inédits sur la journée du 14 juillet 1789 », Revue historique, vol. I, tr. Thiếu tham số! (Bản mẫu:P.)500.
  52. ^ Albert Soboul, La Révolution française, Éditions sociales, 1988, tr. 154-156.
  53. ^ D.M.G. Sutherland, France 1789-2815 Revolution and Counterrevolution, Londres, 1988, tr. 68-69.
  54. ^ Guglielmo Ferrero (1951). Livre de Poche (biên tập). Les deux Révolutions. tr. 29-30..
  55. ^ J. Lacouture, La politique religieuse de la Révolution, Paris, 1940, tr. 36-37.
  56. ^ J. Lacouture, La politique religieuse de la Révolution, Paris, 1940, tr. 31.
  57. ^ J. de Viguerie, Christianisme et révolution, Paris, 1986, tr. 93.
  58. ^ P. de la Gorce, Histoire religieuse de la Révolution française, Paris, 1922, tr. 222-248.
  59. ^ (Bertaud 2004, tr. 102-103).
  60. ^ (Bertaud 2004, tr. 103).
  61. ^ Mona Ozouf, Bản mẫu:Opcit, tr. 62.
  62. ^ Michel Vovelle, La Révolution française (1789-1799), Édition Armand Collin 1992, tr. 58.
  63. ^ Elyada Ouzi, « La représentation populaire de l'image royale avant Varennes », Annales historiques de la Révolution française, Bản mẫu:N°, 1994, tr. 527-546 {{URL|example.com|văn bản hiển thị tùy chọn}}.
  64. ^ Mona Ozouf, Varennes. La mort de la royauté, 21 juin 1791, Gallimard, 2005, 435 p. ISBN 2070771695.
  65. ^ Raymonde Monnier, « Évolution d'un thème républicain en révolution : les expressions du tyrannicide dans la crise de Varennes, » dans Philippe Bourdin, Mathias Bernard, Jean-Claude Caron, La Voix et le geste, Presses universitaires Blaise Pascal, 2005, 381 p. ISBN 9782845162761, tr. 29-47, et ibid. tr. 12 ; William Doyle, « Une désacralisation à désacraliser ? À propos d'une interprétation récente de la monarchie française au Bản mẫu:S-, » dans Anne-Marie Cocula, Josette Pontet, Itinéraires spirituels, enjeux matériels en Europe: Mélanges offerts à Philippe Loupès, vol. 2, Presses Univ de Bordeaux, 2005, 416 p. ISBN 9782867813696, tr. 389 ; Monique Cottret, Tuer le tyran ? : le tyrannicide dans l'Europe moderne, Fayard, 2009, 456 p. ISBN 9782213653914.
  66. ^ Joël Cornette, « L'image qui tue : du père du peuple au roi-cochon », L'Histoire, Bản mẫu:N°, novembre 2005, tr. 50 ; Annie Duprat, Les Rois de papier. La caricature de Henri III à Louis XVI, Belin, 2002, 367 p. ISBN 9782701129754 ; Annie Duprat, Le roi décapité : essai sur les imaginaires politiques, CERF, 1992 ISBN 9782204045407 tr. 58 et suivantes.
  67. ^ Timothy Tackett, Le roi s'enfuit : Varennes et l'origine de la Terreur, La Découverte, 2004, 285 p. ISBN 9782707142382.
  68. ^ Dictionnaire historique de la Révolution française Albert Soboul (dir.) Édition « Quadrige » PUF 2005 tr. 588.
  69. ^ Dictionnaire historique de la Révolution française, Bản mẫu:Opcit, tr. 451.
  70. ^ Jean-Clément Martin, La France en Révolution (1789-1799) Édition Belin, 1990 tr. 114-115.
  71. ^ André Castelot, G. Lenotre, Les Grandes Heures de la Révolution française – L’Agonie de la royauté, tome I, Paris, Perrin 1962, tr. 324-327.
  72. ^ Michel Winock, L’échec au roi 1791-1792, Olivier Orban, 1991 tr. 96-97.
  73. ^ Jean-Clément Martin, La France en Révolution (1789-1799), Édition Belin, 1990, tr. 115.
  74. ^ Michel Vovelle, La Chute de la monarchie (1787-1792), Bản mẫu:Opcit, tr. 166.
  75. ^ Michel Winock, Bản mẫu:Opcit, tr. 107.
  76. ^ Frédéric Bluche, Stéphane Rials, Jean Tulard, Bản mẫu:Opcit, tr. 67 - Dictionnaire historique de la Révolution française, Albert Soboul (dir.), Bản mẫu:Opcit, tr. 46.
  77. ^ Bernardine Melchior Bonnet, La Révolution française (1789-1799), Bản mẫu:Opcit, tr. 36.
  78. ^ François Furet et Mona Ozouf (dir.), Dictionnaire critique de la Révolution française, « Idées », Flammarion, 2007, tr. 315.
  79. ^ François Furet et Mona Ozouf (dir.), Dictionnaire critique de la Révolution française, « Idées », Bản mẫu:Opcit, tr. 334.
  80. ^ Jacques Godechot, Les Constitutions de France depuis 1789, Éditions Flammarion, 1979 ; Éditions corrigée et mise à jour 2006, tr. 69 — en fait, dès le 25 novembre 1791, la Constitution est attaquée à l’Assemblée au travers de la personne du roi, accusé de vouloir, avec son veto, protéger les ennemis de la Révolution. Michel Winock, Bản mẫu:Opcit, tr. 161).
  81. ^ Jacques Godechot, Les Constitutions de la France depuis 1789, Flammarion, 2006, tr. 53.
  82. ^ Michel Vovelle, La chute de la monarchie 1787-1792, Bản mẫu:Opcit, tr. 176.
  83. ^ Jacques Godechot, Les Révolutions (1770-1799), PUF, 1965, tr. 307 — celui-ci met en garde contre ces chiffres qui, selon lui, n’ont jamais été sérieusement vérifiés.
  84. ^ Jacques Godechot, La révolution française, Perrin, 1988, tr. 86.
  85. ^ A. Mathiez, La question religieuse sous la révolution, tr. 78.
  86. ^ J. Cl. Meyer, La vie religieuse en Haute-Garonne sous la Révolution, Toulouse, 1982.
  87. ^ J. de Viguerie, op. cit., tr. Thiếu tham số! (Bản mẫu:P.)105-106.
  88. ^ (Lefebvre, Guyot & Sagnac 1930, tr. 102).
  89. ^ François Furet et Denis Richet, Bản mẫu:Opcit, tr. 148-149.
  90. ^ Jacques Godechot, Les Révolutions, 1770-1799, Presses universitaires de France, 1965, tr. 157.
  91. ^ (Lefebvre, Guyot & Sagnac 1930, tr. 106).
  92. ^ Michel Winock, L’échec au roi 1791-1792, Olivier Orban, 1991, tr. 151.
  93. ^ (Bertaud 2004, tr. 143-144).
  94. ^ Gérard Walter, Maximilien de Robespierre, Paris, Gallimard, 1961.
  95. ^ Jean-Daniel Piquet, « La déclaration constitutionnelle de paix à l'Europe grand sujet de débat entre 1791 et 1794 », Monique Cubells (dir.), La Révolution française, la guerre et la frontière, Paris, CTHS, 2000.
  96. ^ Frédéric Bluche, Stéphane Rials, Jean Tulard, La Révolution française, PUF, 2007 tr. 71.
  97. ^ (Lefebvre, Guyot & Sagnac 1930, tr. 110).
  98. ^ Albert Mathiez, Le dix août, Les Éditions de la Passion, 1989, tr. 18-19.
  99. ^ Jacques Godechot, La Révolution française, Perrin, 1988, tr. 105.
  100. ^ Stefan Zweig, Marie-Antoinette.
  101. ^ Michel Vovelle, La Chute de la monarchie (1787-1792), Seuil, 1972, tr. 261.
  102. ^ Louis XVIII. 1989. Đã bỏ qua tham số không rõ |sous-title= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |title chapitre= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |auteur= (gợi ý |author=) (trợ giúp)
  103. ^ Michel Vovelle, La Chute de la monarchie (1787-1792), Bản mẫu:Opcit, tr. 262.
  104. ^ Roger Dupuy, La République jacobine - Terreur, guerre et gouvernement révolutionnaire, Seuil, 2005, tr. 12.
  105. ^ Jean-Clément Martin, La France en Révolution 1789-1799, Édition Belin, 1990, tr. 134.
  106. ^ Eva Ziebura, Prinz Heinrich von Preußen. Biographie, Aufbau-Taschenbuch-Verlag, Berlin 2004, ISBN 3-7466-1770-7
  107. ^ Michel Vovelle, La Révolution française, tome III, Éditions Messidor, 1986, tr. 157.
  108. ^ P. Caron (1935), p. 107, 114
  109. ^ F. Furet & M. Ozouf (1989) A Critical Dictionary of the French Revolution, p. 139
  110. ^ Bernardine Melchior Bonnet, La Révolution française – 1789-1799, Librairie Larousse, 1988, tr. 57.
  111. ^ Frédéric Bluche, Septembre 1792 : logiques d’un massacre, Laffont, 1986, tr. 235.
  112. ^ P. Caron (1935) Les Massacres de Septembre, p. 95
  113. ^ Frédéric Bluche, Septembre 1792 : logiques d’un massacre, Laffont, 1986, tr. 93-94-95.
  114. ^ Jacques Godechot, Les Constitution de la France depuis 1789, Flammarion, 2006, tr. 70.
  115. ^ Marc Bouloiseau, Bản mẫu:Opcit, tr. 60-61.
  116. ^ Albert Soboul, Bản mẫu:Opcit, tr. 272.
  117. ^ Jean-Clément Martin, Bản mẫu:Opcit, tr. 142.
  118. ^ a b Roger Dupuy, Bản mẫu:Opcit, tr. 34.
  119. ^ Jacques Godechot, La révolution française, Bản mẫu:Opcit, tr. Thiếu tham số! (Bản mẫu:P.)115 à 121.
  120. ^ Bernardine Melchior Bonnet, La Révolution française, Bản mẫu:Opcit, tr. 64.
  121. ^ (Lefebvre, Guyot & Sagnac 1930, tr. 127).
  122. ^ Bernardine Melchior-Bonnet, Les Girondins, Tallandier, 1989, tr. 190.
  123. ^ Jean-Clément Martin, La France en Révolution 1789-1799, Bản mẫu:Opcit, tr. 143.
  124. ^ a b Jean-Clément Martin, Violences et révolution - Essai sur la naissance d’un mythe national, Seuil, 2006, tr. 145.
  125. ^ Bernardine Melchior-Bonnet, Les Girondins, Tallandier, 1989, tr. 195.
  126. ^ Albert Mathiez, La Révolution française, Librairie Armand Colin, 1922, tr. 311.
  127. ^ Bernardine Melchior-Bonnet, Les Girondins, Bản mẫu:Opcit, tr. 194-195-203.
  128. ^ Albert Soboul, La Révolution française, op. cit., tr. 273.
  129. ^ Albert Soboul, Bản mẫu:Opcit, tr. 332-333.
  130. ^ Roger Dupuy, Bản mẫu:Opcit, tr. 108.
  131. ^ Marc Bouloiseau, La République jacobine (10 août 1992 - 9 thermidor an II), Seuil, 1972, tr. 70.
  132. ^ Pascal Dupuy et Claude Mazauric, La Révolution française, Librairie Vuibert, 2005, tr. 225.
  133. ^ (Lefebvre, Guyot & Sagnac 1930, tr. 203).
  134. ^ Roger Dupuy, Bản mẫu:Opcit, tr. 58-59.
  135. ^ Jean-Clément Martin La France en Révolution 1789-1799, Bản mẫu:Opcit, tr. 147.
  136. ^ Jacques Godechot, La révolution française, Bản mẫu:Opcit, tr. 131.
  137. ^ Frédéric Bluche, Stéphane Rials, Jean Tulard, La Révolution française, PUF, 1989, tr. 86.
  138. ^ Jacques Godechot, La révolution française, Bản mẫu:Opcit, tr. 165.
  139. ^ (Bertaud 2004, tr. 200).
  140. ^ Jeanne Grall, Bản mẫu:Opcit, tr. 67 et suivantes.
  141. ^ Jean-Clément Martin, La France en Révolution 1789-1799, Bản mẫu:Opcit, tr. 157.
  142. ^ Jean-Marc Schiappa, La Révolution française 1789-1799, Librio, 2005, tr. 50.
  143. ^ Dictionnaire historique de la Révolution française, Bản mẫu:Opcit, tr. 283.
  144. ^ Albert Soboul, Histoire de la révolution française, tome II, Collection Idée, Gallimard, 1962, tr. 21-22-23. Voir aussi de Marc Bouloiseau, Le Comité de salut public, Bản mẫu:Opcit.
  145. ^ Marc Bouloiseau, La République jacobine, Bản mẫu:Opcit, tr. 107.
  146. ^ Marc Bouloiseau, Le Comité de salut public, Bản mẫu:Opcit, tr. 101.
  147. ^ Jean-Clément Martin, La France en Révolution 1789-1799, Bản mẫu:Opcit, tr. 152.
  148. ^ Albert Soboul, Mouvement populaire et Gouvernement révolutionnaire en l’an II (1793-1794), Flammarion, 1973, tr. 23.
  149. ^ Dictionnaire historique de la Révolution française, Bản mẫu:Opcit, tr. 418.
  150. ^ Dictionnaire historique de la Révolution française, Bản mẫu:Opcit, tr. 416 – Jacques Solé, Bản mẫu:Opcit, tr. 552.
  151. ^ Albert Mathiez, La Révolution française, Bản mẫu:Opcit, tr. 399.
  152. ^ Albert Soboul, Mouvement populaire et Gouvernement révolutionnaire en l’an II (1793-1794), Bản mẫu:Opcit, tr. 167-168.
  153. ^ François Furet et Mona Ozouf, Dictionnaire critique de la Révolution française – Acteurs –, Flammarion, 2007, tr. 382.
  154. ^ François Furet et Denis Richet, Bản mẫu:Opcit, tr. 215.
  155. ^ Roger Dupuy, Bản mẫu:Opcit, tr. 238.
  156. ^ François Furet et Mona Ozouf, Dictionnaire critique de la Révolution française – Acteurs, Flammarion, 2007, tr. 384.
  157. ^ Jean-Clément Martin, Violences et révolution, Bản mẫu:Opcit, tr. 188.
  158. ^ François Furet et Denis Richet, Bản mẫu:Opcit, tr. 229.
  159. ^ François Furet et Denis Richet, Bản mẫu:Opcit, tr. 228-234.
  160. ^ (Bertaud 2004, tr. 212-213).
  161. ^ Jacques Godechot, Les Révolutions, 1770-1799, Bản mẫu:Opcit, tr. 170.
  162. ^ Albert Soboul, Histoire de la révolution française, tome II, Bản mẫu:Opcit, tr. 38.
  163. ^ Voir Marc Bouloiseau, La République jacobine, Bản mẫu:Opcit, tr. 89-90.
  164. ^ Albert Soboul, Mouvement populaire et Gouvernement révolutionnaire en l’an II (1793-1794), Bản mẫu:Opcit, tr. 197.
  165. ^ François Furet et Denis Richet, Bản mẫu:Opcit, tr. 238-239.
  166. ^ Jean Tulard, Jean-François Fayard, Alfred Fierro, Histoire et dictionnaire de la Révolution française (1789-1799), Robert Laffont, 1987, tr. 1145.
  167. ^ Roger Dupuy, Bản mẫu:Opcit, tr. 226.
  168. ^ François Furet et Denis Richet, Bản mẫu:Opcit, tr. 248.
  169. ^ Jacques Godechot, Les Révolutions (1770-1799), PUF, 1965, tr. 173.
  170. ^ a b Albert Mathiez, La Révolution française, Librairie Armand Colin, 1922, tr. 391.
  171. ^ a b Pascal Dupuy et Claude Mazauric, La Révolution française, Librairie Vuibert, 2005, tr. 228 ; Jacques Solé, Bản mẫu:Opcit, tr. 556-557.
  172. ^ Jean-Clément Martin, Violences et révolution, Bản mẫu:Opcit, tr. 203.
  173. ^ Jacques Solé, Bản mẫu:Opcit, tr. 556.
  174. ^ Marc, Bouloiseau (1980). Presses universitaires de France (biên tập). Le Comité de salut public (1793-1795) (bằng tiếng Pháp). Paris. ISBN 2-13-036319-9. Đã bỏ qua tham số không rõ |numéro dans collection= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |pages totales= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |year première édition= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |numéro d'édition= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |collection= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |lien author1= (trợ giúp).
  175. ^ Christiane Aulanier, Histoire du Palais et du Musée du Louvre : Le Pavillon de flore, Paris, Éditions des Musées nationaux, 1947, tr. 45.
  176. ^ Albert Soboul, Histoire de la Révolution française tome II, Collection Idée, Gallimard, 1962, tr. 87.
  177. ^ Jacques Godechot, Bản mẫu:Opcit, tr. 336.
  178. ^ Jacques Godechot, La Révolutions française, Bản mẫu:Opcit, tr. 154.
  179. ^ Michel Vovelle, La Révolution contre l’église - De la raison à l’Être suprême, Éditions Complexe, 1988, tr. 29.
  180. ^ Jean Jaurès, Histoire socialiste de la Révolution française – Le gouvernement révolutionnaire, Tome VI – Édition revue et annotée par Albert Soboul, Messidor, 1986, tr. 304.
  181. ^ Roger Dupuy, Bản mẫu:Opcit, tr. 231.
  182. ^ Frédéric Bluche, Stéphane Rials, Jean Tulard, Bản mẫu:Opcit, tr. 102.
  183. ^ (Bertaud 2004, tr. 252).
  184. ^ Jean Jaurès, Bản mẫu:Opcit, tr. 306.
  185. ^ Albert Soboul, Mouvement populaire et gouvernement révolutionnaire en l’an II (1793-1794), Bản mẫu:Opcit, tr. 226-228.
  186. ^ (Bertaud 2004, tr. 263).
  187. ^ Roger Dupuy, Bản mẫu:Opcit, tr. 241.
  188. ^ a b Bernardine Melchior-Bonnet, La Révolution 1789-1799 Larousse, 1988, tr. 95.
  189. ^ (Bertaud 2004, tr. 263).
  190. ^ Albert Soboul, Mouvement populaire et Gouvernement révolutionnaire en l’an II (1793-1794), Bản mẫu:Opcit, tr. 230-233.
  191. ^ Jean-Paul Bertaud, Camille et Lucile Desmoulins – Un couple dans la tourmente, Presse de la Renaissance, 1986, tr. 237.
  192. ^ Yves Benot, « Comment la Convention a voté l'abolition de l'esclavage dans les colonies », Annales historiques de la Révolution française Bản mẫu:3e et Bản mẫu:4e trimestres 1993 ; Florence Gauthier, Triomphe et mort du droit naturel en révolution, 1789-1795-1802, Paris, PUF, 1992.
  193. ^ Jean-Daniel Piquet, L'émancipation des Noirs dans la révolution française (1789-1795), Paris, Karthala, 2002.
  194. ^ Yves Benot, art. cit.
  195. ^ Père Duchesne Bản mẫu:N° texte cité par Aimé Césaire, Toussaint-Louverture, La révolution française et le problème colonial, Paris, Présence africaine, 1961.
  196. ^ (Bertaud 2004, tr. 243).
  197. ^ Roger Dupuy, Bản mẫu:Opcit, tr. 266.
  198. ^ Bernardine Melchior Bonnet, La Révolution 1789-1799, Bản mẫu:Opcit, tr. 95 ; Jacques Solé, Bản mẫu:Opcit, tr. 562.
  199. ^ Frédéric Bluche, Danton, Bản mẫu:Opcit, tr. 396-397.
  200. ^ François Furet et Denis Richet, Bản mẫu:Opcit, tr. 245.
  201. ^ Roger Dupuy, Bản mẫu:Opcit, tr. 252.
  202. ^ (Bertaud 2004, tr. 267).
  203. ^ Roger Dupuy, Bản mẫu:Opcit, tr. 255.
  204. ^ Frédéric Bluche, Danton, Bản mẫu:Opcit, tr. 453).
  205. ^ Bernardine Melchior-Bonnet, La Révolution – 1789-1799, Bản mẫu:Opcit, tr. 97.
  206. ^ Jean-Paul Bertaud, Camille et Lucile Desmoulins : un couple dans la tourmente, Bản mẫu:Opcit, tr. 288 à 291.
  207. ^ Dictionnaire historique de la Révolution française, Bản mẫu:Opcit, tr. 432.
  208. ^ Jean-Clément Martin, Violences et révolution, Bản mẫu:Opcit, tr. 214-216.
  209. ^ François Furet et Denis Richet, Bản mẫu:Opcit, tr. 246.
  210. ^ Albert Soboul, Mouvement populaire et Gouvernement révolutionnaire en l’an II (1793-1794), Bản mẫu:Opcit, tr. 352.
  211. ^ Albert Soboul, La Révolution française, tome II, Bản mẫu:Opcit, tr. 86.
  212. ^ J.-Cl. Martin, Contre-Révolution, Révolution et nation en France (1789-1799), Paris, Le Seuil, 1998, chap. 4 et 5.
  213. ^ Apothéose de Jean-Jacques Rousseau, translation au Panthéon : le 11 octobre 1794.
  214. ^ Hervé Leuwers, La Révolution française et l'Empire, Paris, PUF, 2011, tr. 130.
  215. ^ Albert Soboul, Histoire de la révolution française, vol. 1, Collection Idée, Gallimard, 1962, tr. 257.
  216. ^ Le Roy Ladurie, Emmanuel, (1929-, …)., (impr. 2006). Fayard (biên tập). Histoire humaine et comparée du climat. 2, Disettes et révolutions, 1740-1860. ISBN 2-213-62738-X. OCLC 494395305. Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |isbn2= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)Quản lý CS1: dấu chấm câu dư (liên kết) Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết).
  217. ^ Jean, Tulard (2005). Fayard (biên tập). Les Thermidoriens (bằng tiếng Pháp). Paris. ISBN 2-213-62012-1. OCLC 300527633. Đã bỏ qua tham số không rõ |isbn2= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |pages totales= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp).
  218. ^ Institutions et vie politique, La Documentation française, 2003.

Thư mụcSửa đổi

Phụ nữ và Cách mạng PhápSửa đổi

  • Brive Marie-France (dir.), Les femmes et la Révolution française : actes du colloque international, 12-13-14 avril 1989, Université de Toulouse-Le Mirail, Toulouse, Presses universitaires du Mirail, 1989, 3 volumes.
  • Cerati Marie, Le Club des citoyennes républicaines révolutionnaires, Paris, .d. sociales, 1966.
  • Desan Suzanne, The Family on Trial in Revolutionary France, Berkeley, University of California Press, 2006.
  • DiCaprio Lisa, The origins of the welfare state : women, work, and the French Revolution, Urbana, University of Illinois Press, 2007.
  • Duhet Paule-Marie, Cahiers de doléances des femmes en 1789 : et autres textes, Paris, des Femmes, 1981.
  • Fauré Christine (dir.), dossier, "La prise de parole publique des femmes", Annales historiques de la Révolution française, juin 2006, n° 344.
  • Fraisse Geneviève, Muse de la raison : démocratie et exclusion des femmes en France, Paris, Gallimard, 1995.
  • Godineau Dominique, Citoyennes tricoteuses : les femmes du peuple . Paris pendant la Révolution française, Paris, Perrin, 2004 [1988].
  • Heuer Jennifer, The family and the nation : gender and citizenship in revolutionary France, 1789-1830, Ithaca, Cornell University Press, 2005.
  • Hunt Lynn, Le roman familial de la Révolution française, Paris, Albin Michel, 1995.
  • Landes Joan B., Women and the public sphere in the age of the French Revolution, Ithaca, Cornell University Press, 1988.
  • Martin Jean-Clément, La révolte brisée : femmes dans la Révolution française et l’Empire, Paris, Armand Colin, 2008.
  • Mazeau Guillaume, Le bain de l’histoire : Charlotte Corday et l’attentat contre Marat 1793-2009, Seyssel, Champ Vallon, 2009.
  • Mazeau Guillaume, "Penser avec le genre: trouble dans la citoyenneté", La Révolution française, 2015, n° 9, https://journals.openedition.org/lrf/1458
  • Plumauzille Clyde, Prostitution et révolutions. Les femmes publiques dans la cité républicaine 1789-1799, Ceyzerieu, Champ Vallon, 2016.
  • Scott Joan W., La citoyenne paradoxale : les féministes françaises et les droits de l’homme, Paris, Albin Michel, 1998.
  • Verjus Anne, Le cens de la famille : les femmes et le vote, 1789-1799, Paris, Belin, 2002.
  • Verjus Anne, Le bon mari : une histoire politique des hommes et des femmes à l'époque révolutionnaire, Paris, Fayard, 2010.

Liên kết ra ngoàiSửa đổi