Karl Marx

nhà triết học, kinh tế học, sử học và lãnh đạo cách mạng người Đức gốc Do thái

Karl Heinrich Marx FRSA (phát âm tiếng Đức: [maʁks]; phiên âm tiếng Việt: Các Mác; 5 tháng 5 năm 1818 – 14 tháng 3 năm 1883) là một nhà triết học, kinh tế học, sử học, xã hội học, lý luận chính trị, kiêm nhà báo và nhà cách mạng người Đức gốc Do Thái. Tên tuổi của Marx gắn liền với hai danh tác nổi bật, đó là cuốn pamfơlê Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) cùng bốn tập sách Das Kapital. Những tư tưởng chính trị và triết học của Marx đã có tầm ảnh hưởng lớn lao đến lịch sử lĩnh vực tri thức, kinh tế và chính trị mãi tận về sau.

Karl Marx

Karl Marx 001.jpg
Ảnh chân dung Marx chụp bởi John Mayall, 1875
SinhKarl Heinrich Marx
(1818-05-05)5 tháng 5 năm 1818
Trier, Phổ, Bang liên Đức
Mất14 tháng 3 năm 1883(1883-03-14) (64 tuổi)
London, Anh quốc
Quốc tịch
Học vị
Phối ngẫu
Jenny von Westphalen
(cưới 1843⁠–⁠1881)
Con cái7, bao gồm Jenny, LauraEleanor
Cha mẹ
Người thân
Thời kỳTriết học thế kỷ 19
VùngTriết học phương Tây
Trường phái
Luận vănSự khác biệt giữa triết học tự nhiên Democritus và Epicurus (1841)
Tư vấn tiến sĩBruno Bauer
Đối tượng chính
  • Triết học
  • kinh tế
  • lịch sử
  • chính trị
Tư tưởng nổi bật
Chữ ký
Karl Marx Signature.svg

Karl Marx chào đời tại Trier, Đức. Marx lựa chọn học ngành luật và triết ở bậc đại học. Ông kết hôn với nhà phê bình kịch nghệ sân khấu kiêm nhà hoạt động chính trị tên là Jenny von Westphalen vào năm 1843. Do liên tục tung ra các ấn bản chính trị làm phật lòng chính quyền sở tại, Marx lâm vào cảnh không quốc tịch, rồi đành sống lưu vong cùng vợ và con cái tại Luân Đôn suốt nhiều thập kỷ. Tại đây, ông tiếp tục xây dựng các tư tưởng của mình với sự trợ giúp của triết gia người Đức Friedrich Engels và cho xuất bản nhiều tác phẩm, miệt mài nghiên cứu tại phòng đọc của Bảo tàng Anh.

Những lý thuyết phê phán của Marx về xã hội, kinh tế, chính trị–gọi chung là chủ nghĩa Marx–cho rằng các xã hội loài người từ xưa đến nay diễn tiến nhờ đấu tranh giai cấp. Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, điều này hiện thân ở dạng đấu tranh giữa giai cấp thống trị (hay giai cấp tư sản), giai cấp mà kiểm soát hoàn toàn phương tiện sản xuất, và giai cấp lao động (hay giai cấp vô sản), giai cấp mà phải vận hành những phương tiện sản xuất bằng sức lao động của bản thân để được hưởng tiền công.[3] Dựa trên hướng tiếp cận mang tính phê phán mà ông gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử, Marx tiên đoán rằng chủ nghĩa tư bản sẽ liên tục nảy sinh các mâu thuẫn nội bộ giống như những hình thái kinh tế-chính trị đi trước, và điều này rốt cuộc sẽ khiến nó tự sụp đổ và bị thay thế bởi phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa. Theo Marx, sự đối kháng giai cấp trong lòng chủ nghĩa tư bản—bắt nguồn một phần từ bản tính bất ổn định và dễ khủng hoảng của nó—sẽ khởi hoạt ý thức giai cấp của toàn thể công nhân lao động, thôi thúc họ vùng lên tiếm đoạt quyền lực chính trị và cuối cùng tạo lập nên một xã hội cộng sản phi giai cấp thông qua liên tưởng tự do về sản xuất.[4] Marx luôn chủ trương áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, ông cho rằng giai cấp lao động phải thực hiện cách mạng vô sản một cách có tổ chức nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản và giải phóng thể chế kinh tế–xã hội.[5]

Marx được đánh giá là một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng to lớn nhất trong lịch sử nhân loại, các tác phẩm của ông đã nhận được nhiều lời tán dương cũng như nhiều lời chỉ trích.[6] Các công trình kinh tế học của ông đã đặt nền móng cho phần lớn sự hiểu biết hiện tại của ta về lao động và mối quan hệ của lao động với tư bản.[7][8][9] Vô số nhà trí thức, các tổ chức công đoàn, các nghệ sĩ và các đảng phái chính trị trên khắp thế giới đều chịu ảnh hưởng tư tưởng từ Marx, theo đó một số cá nhân và đoàn thể tiếp tục phát huy và sửa đổi lý thuyết của ông sao cho phù hợp với thế sự. Marx thường được trích dẫn là một trong những kiến trúc sư chính của ngành khoa học xã hội đương đại.[10][11]

Tiểu sửSửa đổi

Tuổi thơ và giáo dục thuở sớm: 1818–1836Sửa đổi

Marx chào đời ngày 5 tháng 5 năm 1818 tại Brückengasse 664, Trier; một thị trấn cổ kính hồi bấy giờ thuộc tỉnh Rhine Hạ của Vương quốc Phổ.[12] Cha ông là Heinrich Marx (1778 – 1838) và mẹ ông là Henriette Pressburg (1788 – 1863), vốn là một gia đình gốc Do Thái không theo tôn giáo; song trước khi Marx ra đời họ đã chính thức theo Kitô giáo. Ông ngoại Marx là một giáo sĩ rabbi người Hà Lan. Họ hàng bên nội ông có truyền thống làm rabbi tại Trier kể từ năm 1723, và ông nội Marx là Meier Halevi Marx cũng giúp tiếp nối cái truyền thống lâu đời ấy.[13] Cha ông, hồi nhỏ có biệt danh Herschel, là người đầu tiên trong dòng họ được giáo dục theo hướng thế tục. Herschel trở thành một luật sư với mức lương khá giả thuộc lớp thượng trung lưu, hơn nữa gia đình ông cũng sở hữu nhiều mảnh vườn trồng nho ở Moselle. Trước thời điểm Marx ra đời và thời điểm mà phong trào bãi bỏ sự giải phóng Do Thái diễn ra tại Rhineland,[14] Herschel đã cải sang đạo Phúc Âm thuộc giáo hội Phổ, rồi đổi tên thành Heinrich.[15]

 
Nơi sinh của Marx tại Brückenstraße 10 ở Trier ngày nay. Gia đình Marx sống tại hai phòng ở tầng trệt và ba phòng ở tầng một.[16] Ngôi nhà này được bán cho Đảng Dân chủ Xã hội Đức vào năm 1928, và hiện là một bảo tàng về quãng đời thuở sớm của Marx.[17]

Heinrich không quá gắn bó với tôn giáo mà là người rất ngưỡng mộ phong trào Khai sáng và lấy làm thú vị những tư tưởng của hai nhà hiền triết Immanuel KantVoltaire. Với tư cách là người theo chủ nghĩa tự do cổ điển, ông gia nhập phòng trào ủng hộ tạo lập một hiến pháp và thực hiện cải cách tại Phổ, đất nước lúc ấy còn theo chế độ quân chủ tuyệt đối.[18] Năm 1815, Heinrich Marx bắt đầu làm luật sư và trong năm 1819 đã chuyển gia đình tới một căn nhà 10 phòng gần Porta Nigra.[19] Vợ ông là Henriette Pressburg, một người phụ nữ Hà Lan theo Do Thái giáo, vốn xuất thân từ một gia đình doanh nhân thành đạt mà về sau sán lập công ty Philips Electronics nổi tiếng. Em gái bà Sophie Pressburg (1797–1854) kết hôn với Lion Philips (1794–1866); Sophie là bà ngoại của Gerard PhilipsAnton Philips, và là bà cố của Frits Philips. Em rể của Henriette, Lion Philips, làm chủ một công xưởng sản xuất thuốc lá Hà Lan rất thịnh vượng. Trong những năm tháng vợ chồng Karl và Jenny Marx lưu đày ở London, hai người họ đã nhiều lần phải vay mượn tiền từ Philips để trang trải cuộc sống.[20]

Ta có rất ít thông tin về thời thơ ấu của Marx.[21] Ông là con thứ ba trong gia đình với 9 anh chị em. Sau khi người anh trai Moritz mất vào năm 1819, ông trở thành người con cả trong mắt cha mẹ mình.[22] Marx và anh chị em còn lại của ông, Sophie, Hermann, Henriette, Louise, Emilie và Caroline, được rửa tội và gia nhập Giáo hội Luther vào tháng 8 năm 1824. Mẹ ông cũng cải theo vào tháng 12 năm 1825.[23] Cha Marx tự mình kèm cặp con trai cho tới năm 1830, khi ông được gửi tới học ở trường Trung học Trier (Gymnasium zu Trier (de)). Hiệu trưởng trường này là Hugo Wyttenbach, một người bạn của cha Marx. Ông thường thuê các giáo viên theo chủ nghĩa tự do nhân bản đến đứng giảng tại trường, khiến cho giới chức tại địa phương vốn theo chủ nghĩa bảo thủ chính trị rất phẫn nộ. Năm 1832, cảnh sát được lệnh khám xét khẩn cấp ngôi trường và trong quá trình đó đã phát giác nhiều tài liệu chính trị tự do được phân phát cho học sinh. Sau vụ việc đó, chính quyền địa phương tiến hành cải tổ và thay thế nhiều giáo chức của nhà trường.[24]

Vào tháng 10 năm 1835, cậu thiếu niên Marx 17 tuổi lữ hành đến Đại học Bonn, háo hức muốn được nghiên cứu triết học và văn chương tuy rằng cha ông lúc ấy lại muốn hướng con theo ngành luật để phù hợp với thực tiễn hơn.[25] Do được chẩn đoán mắc chứng "lồng ngực yếu",[26] Marx được miễn tòng quân lúc 18 tuổi. Tại Đại học Bonn, Marx đã gia nhập Câu lạc bộ Nghệ sĩ, một hội nhóm quy tụ nhiều nhân vật có tư tưởng chính trị cấp tiến, sở dĩ do vậy mà bị cảnh sát theo dõi rất sát sao.[27] Ngoài ra Marx cũng từng tham gia Câu lạc bộ Tửu quán Trier (tiếng Đức: Landsmannschaft der Treveraner), sau giữ chức đồng chủ tịch của hội uống rượu này.[28][29] Ông cũng rất hay vướng vào những vụ cãi cọ đôi co, có khi còn làm to chuyện lên; ví dụ vào tháng 8 năm 1836, ông đề nghị tỉ thí đấu kiếm với một sinh viên từ Borussian Korps để giải quyết mâu thuẫn.[30] Điểm số kì học đầu của Marx tại trường Bonn tuy khá tốt, song về sau do chểnh mảng mà ngày càng tụt dốc. Điều này khiến cha Marx ép ông chuyển tới Đại học Berlin với hy vọng kết quả học tập của con mình sẽ tiến bộ hơn.[31]

Chủ nghĩa Hegel và nghiệp báo chí thuở sớm: 1836–1843Sửa đổi

Dành mùa hè và mùa thu năm 1836 ở Trier, Marx trở nên nghiêm túc hơn về nghiệp học và cuộc sống của mình. Ông đính hôn với Jenny von Westphalen, một thiếu nữ có học thức sinh ra trong một gia đình tiểu quý tộc, người đã quen Marx từ thuở ấu thơ. Jenny đã từ khước hôn ước với một chàng quý tộc trẻ tuổi để có thể ở bên Marx. Mối quan hệ này đã gây nhiều lùm xùm vì hai người họ khác biệt về cả tôn giáo lẫn tầng lớp xã hội, song mọi chuyện được giải quyết ổn thỏa sau khi Marx kết thân với cha cô là Ludwig von Westphalen (một quý tộc theo chủ nghĩa tự do).[32] Bảy năm sau khi đính hôn, vào ngày 19 tháng 6 năm 1843, Marx và Jenny kết hôn tại một nhà thờ Tin lành ở Kreuznach.[33]

Tháng 10 năm 1836, sau khi trúng tuyển khoa luật của trường đại học Berlin, Marx lên Berlin và thuê trọ ở Mittelstrasse.[34] Trong học kỳ đầu, Marx tham dự các bài giảng của Eduard Gans (đại biểu cho quan điểm Hegel tiến bộ, giảng giải rõ hơn về sự phát triển thuần lý trong lịch sử bằng cách nhấn mạnh vào các khía cạnh tự do của nó, và tầm quan trọng của nghi vấn xã hội) và của Karl von Savigny (đại biểu của Trường phái Luật Lịch sử Đức).[35] Mặc dù theo ngành luật, ông lại rất say mê triết học và tìm cách tổng hòa hai lĩnh vực ấy, với niềm tin rằng "không có triết học thì không thể đạt được điều gì".[36] Marx bắt đầu quan tâm hơn đến vị triết gia người Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel, nhân vật mà có tầm ảnh hưởng đáng kể đến giới triết học châu Âu hậu thế.[37] Trong thời gian dưỡng bệnh ở Stralau, ông tham gia câu lạc bộ Doktorklub, một hội sinh viên chuyên thảo luận về tư tưởng của chủ nghĩa Hegel. Qua đó, Marx biết đến trường phái Hegel Trẻ có tư tưởng chính trị cấp tiến và gia nhập nhóm này vào năm 1837. Ludwig FeuerbachBruno Bauer là hai nhân vật chủ chốt trong nội bộ nhóm lúc đó. Giống như Marx, những người Hegel Trẻ phê phán các giả định siêu hình học của Hegel, song họ tiếp thu phép biện chứng của Hegel để áp dụng nó theo quan điểm tả khuynh nhằm phê phán xã hội, chính trị và tôn giáo đã được thiết lập.[38] Cha của Marx qua đời vào tháng 5 năm 1838, khiến thu nhập của gia đình bị giảm sút.[39] Marx rất trân trọng ký ức của người cha quá cố, bởi ông và cha khi trước cực kỳ gần gũi với nhau.[40]

 
Chân dung Jenny von Westphalen những năm 1830

Đến năm 1837, Marx thử sức mình sáng tác một số tác phẩm văn học hư cấu và phi hư cấu; lúc bấy giờ ông đã hoàn thành một cuốn tiểu thuyết ngắn mang nhan đề Bọ cạp và Felix (tiếng Đức: Skorpion und Felix), và một vở kịch mang nhan đề Oulanem, cùng như một số bài thơ tình dành riêng cho Jenny von Westphalen. Không một tác phẩm nào trong thời kỳ này được xuất bản khi Marx còn sống.[41] Những bài thơ tình được biên khảo và xuất bản trong cuốn Tuyển văn Karl Marx và Frederick Engels: Tập 1 (tiếng Anh: Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 1).[42] Marx nhanh chóng từ bỏ viết tiểu thuyết để theo đuổi những mục tiêu khác, bao gồm nghiên cứu tiếng Anh, tiếng Ý, lịch sử nghệ thuật và dịch thuật các tác phẩm Latinh kinh điển.[43] Ông hợp tác với Bruno Bauer để biên tập cuốn Triết học tôn giáo Hegel vào năm 1840. Marx đồng thời cũng chắp bút viết luận văn tiến sĩ mang tên Sự khác biệt giữa triết học tự nhiên Democritus và Epicurus,[44] và hoàn thành nó vào năm 1841. Đây được mệnh danh là "một kiệt tác táo bạo và nguyên bản, trong đó Marx nỗ lực chứng tỏ rằng thần học phải quy phục trước sự thông thái siêu việt của triết học".[45] Bài luận đã gây khá nhiều tranh cãi, đặc biệt là đối với giới giáo sư bảo thủ của Đại học Berlin. Thay vào đó, Marx quyết định nộp luận văn của mình cho Đại học Jena có tư tưởng phóng khoáng hơn và được trao bằng Tiến sĩ vào tháng 4 năm 1841.[2][46] Vì Marx và Bauer đều theo chủ nghĩa vô thần, vào tháng 3 năm 1841 hai ông lên kế hoạch sáng lập tạp chí Văn khố vô thần (tiếng Đức: Archiv des Atheismus), nhưng rốt cuộc điều này không được thực hiện. Tháng 7 cùng năm, Marx và Bauer khởi hành từ Berlin đến Bonn. Ở đây, họ gây tai tiếng cho tập thể lớp do say xỉn, cười cợt trong nhà thờ và cưỡi lừa phi nước đại trên đường phố.[47]

Marx đã xem xét theo đuổi một sự nghiệp học thuật thực thụ, song giấc mơ này dường như đã bị ngăn cản bởi sự thù ghét chủ nghĩa tự do cổ điển và trường phái Hegel Trẻ của nhà nước Phổ.[48] ​​Marx chuyển đến sống và làm việc ở Cologne vào năm 1842. Tại đây, ông viết cho tờ báo chính trị cấp tiến Rheinische Zeitung, bày tỏ những quan điểm ban sơ của ông về chủ nghĩa xã hội và đồng thời cũng dần để tâm hơn đến lĩnh vực kinh tế học. Marx chỉ trích các chính phủ cánh hữu châu Âu bấy giờ, cũng như các nhân vật dẫn đầu các phong trào tự do và xã hội chủ nghĩa, những người mà ông cho chẳng làm được tích sự gì hoặc thậm chí còn tạo hiệu ứng gây phản tác dụng.[49] Tờ báo thu hút sự chú ý của cơ quan kiểm duyệt trực thuộc chính phủ Phổ. Họ được lệnh rà soát các bản thảo nhằm tìm kiếm và chắt lọc các nội dung kích động bạo loạn trước khi đem ra in ấn, đúng theo lời than phiền của Marx: "Tờ báo của chúng tôi phải được đệ trình cho đám cảnh sát đánh hơi, và nếu mũi của chúng ngửi thấy bất kì mùi gì phi-Kitô giáo hoặc phi-Phổ, tờ báo đó sẽ không được phép xuất hiện".[50] Sau khi Rheinische Zeitung xuất bản một bài báo chỉ trích kịch liệt chế độ quân chủ Nga, Sa hoàng Nicholas I đã đề nghị cấm tiệt tờ báo và chính phủ Phổ đã thực thi ngay lệnh cấm này vào năm 1843.[51]

Tại Paris: 1843–1845Sửa đổi

Năm 1843, Marx trở thành đồng chủ biên của tờ báo chính trị tả khuynh cấp tiến Deutsch-Französische Jahrbücher (Niên giám Đức-Pháp) đặt trụ sở tại Paris, vốn được thành lập bởi nhà hoạt động người Đức Arnold Ruge nhằm tập hợp những người có tư tưởng chính trị cấp tiến từ Đức và Pháp.[52] Marx và vợ chuyển đến Paris vào tháng 10 năm 1843 để dễ bề làm việc. Ban đầu họ ở chung với gia đình Ruge tại số 23 Rue Vaneau, song do điều kiện kham khổ, họ đành chuyển ra ngoài sau khi con gái đầu lòng Jenny của họ chào đời vào năm 1844.[53] Trái với mục đích ban đầu của nó, tờ Jahrbücher chỉ thu hút được toàn những người Đức cấp tiến chứ ít có bóng người ngoại quốc. Trên thực tế, cây bút duy nhất trong ban biên tập không phải người Đức là triết gia theo thuyết vô trị người Nga Mikhail Bakunin.[54] Marx đóng góp tổng cộng hai bài tiểu luận cho tờ báo, đó là "Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêgen"[55] và "Về vấn đề Do Thái".[56] Tác phẩm Vấn đề Do Thái thể hiện niềm tin của Marx rằng giai cấp vô sản là lực lượng cách mạng và đánh dấu xuất phát điểm theo con đường chủ nghĩa cộng sản của ông.[57] Chỉ duy nhất một ấn bản của Jahrbücher được ra mắt, song nó vẫn tương đối thành công, nhờ phần lớn vào chùm thơ châm biếm của Heinrich Heine nhằm vào vua Ludwig I của Bayern. Vụ việc này khiến các bang Đức ra lệnh cấm lưu hành tờ báo và tịch thu các bản sao nhập khẩu của nó (bản thân Ruge cũng từ chối tài trợ cho việc xuất bản các số tiếp theo, điều mà khiến tình bạn giữa ông và Marx tan vỡ).[58] Sau khi tờ Jahrbücher phá sản, Marx soạn cho tờ báo tiếng Đức theo tư tưởng cấp tiến duy nhất còn lại lọt qua lưới kiểm duyệt, đó là tờ Vorwärts! (Tiến lên!). Tờ này đặt trụ sở tại Paris và có kết nối với Liên đoàn Công bình (tiếng Đức: Bund der Gerechten), một hội kín theo chủ nghĩa xã hội không tưởng của giai cấp công nhân và nghệ nhân địa phương. Marx dự một số cuộc họp của hội này nhưng không gia nhập.[59] Trong thời gian này, ông cũng hoàn thiện quan điểm xã hội chủ nghĩa của mình dựa trên những sáng kiến triết học của Hegel và chủ nghĩa duy vật biện chứng của Feuerbach, và đồng thời cũng phê phán gay gắt những người theo chủ nghĩa tự do và những người theo chủ nghĩa xã hội khác đang hoạt động ở châu Âu.[60]

 
Marx lần đầu gặp Friedrich Engels vào cuối năm 1842. Engels về sau trở thành bằng hữu và cộng sự trung thành suốt đời của Marx.

Ngày 28 tháng 8 năm 1844, Marx gặp nhà xã hội chủ nghĩa người Đức Friedrich Engels tại quán Café de la Régence, đánh dấu khởi đầu của một tình bạn khăng khít suốt đời.[61] Tại đây, Engels đã đưa Marx đọc tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân Anh do chính ông viết và mới được xuất bản ít lâu.[62][63] Ông thuyết phục Marx rằng giai cấp công nhân chính là tác nhân lẫn công cụ của cuộc cách mạng cuối cùng trong lịch sử.[64][65] Chẳng bấy lâu sau, Marx và Engels bắt tay cùng viết tác phẩm Gia đình thần thánh (1845) nhằm đả kích Bruno Bauer, một người bạn cũ của Marx.[66][67] Mặc dù phê phán Bauer, Marx ngày càng chịu ảnh hưởng tư tưởng của những người theo phái Hegel trẻ, bao gồm Max StirnerLudwig Feuerbach, song Marx và Engels rốt cuộc cũng cáo chung với chủ nghĩa duy vật kiểu Feuerbach.[68]

Marx dành khoảng thời gian sống tại 38 Rue Vaneau, Paris (tháng 10 năm 1843-tháng 1 năm 1845)[69] tìm tòi và nghiền ngẫm về các tác giả kinh tế chính trị (như Adam Smith, David Ricardo, James Mill, v.v.),[70] các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng của Pháp (đặc biệt là Henri de Saint SimonCharles Fourier)[71]lịch sử Pháp.[72] Marx sẽ bám theo sự nghiệp nghiên cứu và phê bình kinh tế chính trị suốt quãng đời còn lại của ông,[73] và cũng trong quá trình đó, ông đã cho ra đời công trình kinh tế chính trị đồ sộ và nổi bật nhất—bộ ba tập sách Das Kapital.[74] Chủ nghĩa Marx được xây dựng dựa trên ba cột trụ lớn, đó là: phép biện chứng của Hegel, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và kinh tế chính trị Anh. Điều này nghĩa là, kết hợp với những nghiên cứu trước đó của Marx về phép biện chứng, ba yếu tố chính yếu cấu thành "chủ nghĩa Marx" hầu như đã được ông chắp ghép đâu vào đấy kể từ mùa thu năm 1844.[75]

Khung sườn của "chủ nghĩa Marx" chắc hẳn đã thành hình trong tâm trí ông vào cuối năm 1844. Thật vậy, nhiều đặc điểm trong thế giới quan Mác-xít đã được mường tượng khá chi tiết, song Marx vẫn cần thảo các ý tưởng đó xuống giấy để làm sáng tỏ thêm lối phê phán kinh tế chính trị chỉ mới nằm trong suy nghĩ.[76] Theo đó, Marx đã chắp bút viết các bản thảo kinh tế và triết học[77] để bàn luận về nhiều chủ đề và trình bày kĩ càng khái niệm tha hóa lao động.[78] Đến mùa xuân năm 1845, quá trình nghiên cứu kinh tế chính trị, tư bản và chủ nghĩa tư bản, đã khiến Marx tin rằng phương pháp phê bình của ông về kinh tế chính trị—chủ nghĩa xã hội khoa học—cần được xây dựng trên cơ sở quan điểm duy vật triệt để về thế giới.[79]

Các bản thảo kinh tế và triết học năm 1844 được Marx viết từ tháng 4 đến tháng 8 trong năm 1844, nhưng không mấy lâu sau Marx lại nhận thấy công trình này còn chịu ảnh hưởng của một số tư tưởng không nhất quán của Ludwig Feuerbach. Theo đó, Marx nhận ra rằng ông phải đoạn tuyệt với triết học Feuerbach và áp dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử. Do đó một năm sau (vào tháng 4 năm 1845) sau khi chuyển từ Paris đến sống ở Brussels, Marx đã viết "Luận cương về Feuerbach";[80] trong đó nổi bật nhất với luận cương thứ 11, phát biểu rằng "các nhà triết học tự cổ chí kim lý giải thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song mấu chốt là làm cách nào để cải tạo thế giới ấy".[78][81] Qua đó Marx đã bày tỏ sự phê phán của ông về chủ nghĩa duy vật (còn quá trầm tư chiêm nghiệm), về chủ nghĩa duy tâm (đề cao lý thuyết hơn thực tiễn), và về triết học tổng thể (đề cao thực tại trừu tượng hơn thế giới vật chất).[78] Đây là những góc nhìn đầu tiên về chủ nghĩa duy vật lịch sử được Marx đề xướng, trong đó ông cho rằng thế giới xoay vần không nhờ các ý tưởng mà nhờ vào sự vận động của vật chất, của sự thực, của thực tiễn.[78][82] Năm 1845, chính phủ Pháp nhận được yêu cầu từ vua Phổ cấm tờ Vorwärts! và Bộ trưởng Nội vụ Pháp lúc bấy giờ là François Guizot đã ra lệnh trục xuất Marx.[83]

Tại Bruxelles: 1845–1848Sửa đổi

 
Ấn bản đầu tiên của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, xuất bản tại Đúc vào năm 1848

Không thể ở tại Pháp hoặc quay về Đức, Marx quyết định di cư đến Bruxelles vào tháng 2 năm 1845. Tuy nhiên để được phép cư trú tại Bỉ, ông phải cam kết không xuất bản bất cứ thứ gì liên quan đến chính trị đương đại.[83] Tại Bruxelles, Marx liên kết với các nhà chủ nghĩa xã hội lưu vong khác từ khắp châu Âu, bao gồm Moses Hess, Karl HeinzenJoseph Weydemeyer. Vào tháng 4 năm 1845, Engels rời Barmen chuyển đến Bruxelles để gia nhập cùng Marx và cộng đồng Liên đoàn Công bình ngày càng đông đảo nương náu ở đây.[83][84] Mary Burns, một người bạn lâu năm của Engels, cũng rời Manchester để đồng hành cùng ông sang Bruxelles.[85]

Giữa tháng 7 năm 1845, Marx và Engels sang Anh thăm các nhà lãnh đạo phong trào hiến chương của giai cấp công nhân địa phương. Đây là chuyến đi đầu tiên của Marx đến Anh quốc. Engels đóng vai trò là hướng dẫn viên lý tưởng cho chuyến công du này bởi lẽ ông đã từng dành hai năm sinh sống ở Manchester, từ tháng 11 năm 1842[86] đến tháng 8 năm 1844.[87] Trong thời gian đó, Engels không chỉ học được tiếng Anh[88] mà còn tạo lập thêm nhiều mối quan hệ với các nhà lãnh đạo của phòng trào hiến chương.[88] Ngoài ra, Engels khi trước cũng từng làm phóng viên cho một số tờ báo tiếng Anh theo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa hiến chương.[88] Về phần Marx, ông đã tranh thủ dịp này để khảo cứu tư liệu kinh tế có sẵn trong các thư viện ở London và Manchester.[89]

Hợp tác với Engels, Marx lên kế hoạch viết tác phẩm Hệ tư tưởng Đức luận về chủ nghĩa duy vật lịch sử.[90] Trong đó, Marx đã tuyên bố cáo chung với triết học của Ludwig Feuerbach, Bruno Bauer, Max Stirner nói riêng và phái Hegel Trẻ nói chung, cũng như từ khước triết học của Karl Grün và các "nhà xã hội chủ nghĩa chân chính" vẫn níu giữ "chủ nghĩa duy tâm". Qua đó, Marx và Engels cuối cùng đã hoàn thiện triết lý của riêng mình, coi rằng chủ nghĩa duy vật như là thế lực duy nhất thúc đẩy tiến trình lịch sử.[91] Hệ tư tưởng Đức được viết theo phong cách hài hước với dụng ý châm biếm, song điều này không qua mắt được các cơ quan kiểm duyệt. Giống các công trình ban sớm của Marx, Hệ tư tưởng Đức chỉ được xuất bản sau khi ông mất, cụ thể là vào năm 1932.[78][92][93]

Sau khi hoàn thành cuốn Hệ tư tưởng Đức, Marx muốn viết một tác phẩm làm rõ lập trường của ông về "lý thuyết và chiến thuật" của một "phong trào cách mạng vô sản" khả thi đứng trên quan điểm của một triết học "duy vật khoa học" thực thụ,[94] cũng là nhằm để phân định chủ nghĩa xã hội không tưởng của những triết gia đời trước với chủ nghĩa xã hội khoa học của Marx. Để bản thảo đây có thể lọt lưới kiểm duyệt, Marx đã đặt nhan đề cho nó là Sự khốn cùng của triết học (1847),[95] quảng bá nó là một phản ứng đối với "triết học tiểu-tư sản" của nhà xã hội chủ nghĩa vô chính phủ người Pháp Pierre-Joseph Proudhon, như được thể hiện trong cuốn Triết học về sự khốn cùng (1840) của ông ta.[96]

 
Marx chụp cùng những người con gái và người bạn Engels

Những cuốn sách trên đã đặt nền móng cho danh tác nổi bật nhất của Marx và Engels, cuốn pamfơlê chính trị mà ngày nay thường được biết đến với tên gọi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Marx, hồi năm 1846 tại Bruxelles, vẫn còn giữ liên lạc với Liên đoàn Công bình khi trước.[97] Ông đánh giá rằng tổ chức đây đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy giai cấp công nhân châu Âu hướng tới phong trào quần chúng, điều mà tất yếu dẫn đến một cuộc cách mạng của giai cấp công nhân.[98] Tuy nhiên để đạt được mục đích ấy, Liên đoàn phải chấm dứt chủ trương hoạt động "bí mật" hoặc "ngấm ngầm" của họ mà phải mạnh dạn hoạt động công khai như một chính đảng thực sự.[99] Các thành viên của Liên đoàn rốt cuộc bị thuyết phục bởi quan điểm của Marx; vào tháng 6 năm 1847, Liên đoàn Công bình được tái cơ cấu thành một đảng chính trị công khai đấu tranh vì lợi ích của công nhân lao động,[100] đổi tên thành Liên đoàn Cộng sản.[101] Cả Marx và Engels đều tham gia vào việc vạch ra cương lĩnh và nguyên tắc của tổ chức mới này.[102]

Tại Köln: 1848–1849Sửa đổi

 
Marx và Engels thị sát xưởng in Neue Rheinische Zeitung. E. Capiro, 1895.

Tạm thời ổn định cuộc sống ở Paris, Marx chuyển trụ sở điều hành của Liên đoàn Cộng sản lên thành phố và sáng lập Hội Công nhân Đức cùng nhiều nhà xã hội người Đức tại đó.[103] Hi vọng một ngày sẽ được chứng kiến cuộc cách mạng lan khắp nước Đức, năm 1848, Marx quay trở lại Köln, nơi ông tuyên truyền bản thông cáo Yêu sách của Đảng Cộng sản tại Đức.[104] Tuy nhiên, ở đây Marx chỉ đề cập đến bốn trong số mười điểm nêu ra trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, bởi lẽ ông tin rằng ở Đức thời bấy giờ, giai cấp tư sản phải lật đổ chế độ quân chủ phong kiến ​​và tầng lớp quý tộc trước đã, rồi giai cấp vô sản mới có thể lật độ giai cấp tư sản.[105] Mùng 1 tháng 6 cùng năm, Marx bắt đầu cho xuất bản tờ nhật báo Neue Rheinische Zeitung bằng khoản tiền ông mới được thừa kế từ người cha quá cố.

Nghiên cứu về toán họcSửa đổi

Trong lời giới thiệu bản thân năm 1885 của cuốn "Chống Duhrinh", Engels có viết: "Nhưng từ khi Karl Marx qua đời, thời giờ của tôi phải ngừng công việc nghiên cứu của tôi lại. Lúc bấy giờ tôi đành tạm bằng lòng với những phác thảo đã đưa ra trong sách này và đợi sau này có dịp thì sẽ tập hợp và công bố những kết quả đã thu nhận được, có thể là cùng một lúc với những bản thảo toán học rất quan trọng do Marx để lại."[106]

Cuốn tuyển tập Mathematical manuscripts of Karl Marx (tạm dịch: Các công trình Toán học của Karl Marx) gồm hầu hết các tìm hiểu của Marx về nền tảng của phép tính vi tích phân được viết khoảng những năm 1873–1883[107]. Một phiên bản Tiếng Nga được Sofya Yanovskaya dịch và biên tập lại cuối cùng cũng được xuất bản năm 1968[108], và sao đó bản dịch sang tiếng Anh (dài hơn 300 trang) được xuất bản vào năm 1983[109][110]. Các học giả cho rằng dường như Marx muốn sử dụng công cụ của phép tính tích phân để nghiên cứu định lượng về kinh tế sâu sắc hơn[111].

Glivenko[112] cho rằng cách tiếp cận của Marx về phép tính vi tích phân tương tự như cách của Hadamard trong cuốn Cours d’Analyse xuất bản 50 năm sau đó. Kennedy[113] cũng đã biện giảng về cách hiểu của Marx về phép vi phân như một quá trình biện chứng.

Đời tưSửa đổi

Gia đìnhSửa đổi

Marx và von Westphalen có với nhau 7 đứa con, song do do điều kiện sống kham khổ khi ở London, chỉ có 3 người con sống sót đến tuổi trưởng thành.[114] Những người con của họ gồm: Jenny Caroline (cưới Longuet; 1844–1883); Jenny Laura (cưới Lafargue; 1845–1911); Edgar (1847–1855); Henry Edward Guy ("Guido"; 1849–1850); Jenny Eveline Frances ("Franziska"; 1851–1852); Jenny Julia Eleanor (1855–1898) và một đứa con mất ở cữ trước khi được đặt tên (tháng 7 năm 1857). Con rể Marx, Paul Lafargue, miêu tả ông là người cha hết mực yêu thương con cái.[115] Năm 1962, rộ lên tin đồn cho rằng Marx có một người con trai ngoài giá thú tên là Freddy[116] với người hầu nữ Helene Demuth,[117] song điều này còn bị tranh cãi do thiếu sót chứng cứ tài liệu.[118]

Tư tưởngSửa đổi

Các ảnh hưởng đến MarxSửa đổi

Tư tưởng của Marx chịu ảnh hưởng từ lối suy nghĩ của nhiều nhà hiền triết khác nhau, chẳng hạn:

Sử quan của Marx, gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử, bắt nguồn trực tiếp từ khẳng định của Hegel khi cho rằng người ta phải nhìn nhận thực tại (cũng như lịch sử) theo mặt biện chứng.[119] Tuy nhiên, Hegel là một triết gia duy tâm nên trong suy tưởng của ông thì ý thức vẫn giữ vai trò tiên phong chứ không phải vật chất. Thay vào đó, Marx muốn viết lại phép biện chứng trên danh nghĩa chủ nghĩa duy vật và biện giải ưu thế siêu việt của vật chất so với ý thức.[78][119] Hegel cho rằng "tinh thần" thúc đẩy diễn trình lịch sử. Trái lại, Marx cho rằng "tinh thần" của Hegel là một khái niệm mông muội thừa thãi, khái niệm mà làm che khuyết thực tại của nhân loại và các hoạt động vật lý của nó trong việc hình thành thế giới.[119] Marx cho rằng chủ nghĩa Hegel đã hiểu sai hoàn toàn về sự vận động của thực tại, và qua đó Marx khuyên ta rằng cái thế giới quan lầm lỡ ấy cần được chỉnh đốn cho đúng đắn trở lại.[119] Mặc dù Marx không ưa thích lối viết văn hàm hồ kì bí, bản thân ông đôi khi cũng vận dụng phép ẩn dụ văn học Gothic trong một số tác phẩm của mình: chẳng hạn trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, ông có viết như sau "Một bóng ma đang ám ảnh châu Âu: bóng ma chủ nghĩa cộng sản. Tất cả những thế lực của châu Âu cũ: Giáo hoàng và Nga hoàng, Mét-téc-ních và Ghi-dô, bọn cấp tiến Pháp và bọn cảnh sát Đức, đều đã liên hợp lại thành một liên minh thần thánh để trừ khử bóng ma đó", hoặc trong cuốn Das Kapital, ông đã miêu tả tư bản như "thứ ma thuật bủa vây các thành quả lao động".[126]

Triết lý và quan niệm về xã hộiSửa đổi

Marx thường luận chiến với các nhà tư tưởng khác thông qua các bài phê bình, vì lẽ ấy mà ông được mệnh danh là "vĩ nhân đầu tiên sử dụng phương pháp phê phán trong khoa học xã hội".[119][120] Ông chỉ trích gay gắt triết học tư biện, đặt siêu hình học ngang hàng với hệ tư tưởng.[127] Bằng cách tiếp cận này, Marx muốn tách những phát hiện quan trọng khỏi các thiên kiến sinh ra từ hệ tư tưởng.[120] Điều này khiến ông khác biệt với đa số triết gia đương thời.[5]

Bản chất con ngườiSửa đổi

G.W.F. HegelLudwig Feuerbach, hai vị triết gia có nhiều ảnh hưởng đến Marx

Một cách nền tảng, Marx cho rằng bản chất loài người liên quan tới việc cải tạo tự nhiên. Với quá trình cải tạo này ông đặt ra thuật ngữ "lao động", và với khả năng cải tạo tự nhiên là thuật ngữ "sức lao động." Marx phát biểu:

“ Một con nhện tiến hành các công việc giống với công việc của một thợ dệt, và một con ong hơn hẳn một kiến trúc sư khi xây dựng những chiếc tổ của nó. Nhưng điều khiến người kiến trúc sư tồi nhất khác biệt với những con ong tài năng nhất là điều này, rằng người kiến trúc sư đã tưởng tượng ra công trình của mình trước khi anh ta xây dựng nó trên thực tế. ”

— (Tư bản, Quyển I, Chương 7, Pt. 1)   

Lao động, đấu tranh giai cấp và ý thức sai lầmSửa đổi

“ Lịch sử của mọi xã hội tồn tại cho tới nay là lịch sử của những cuộc đấu tranh giai cấp.  ”

— Karl Marx, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản   

Sự phân tích lịch sử của Marx tập trung vào việc tổ chức lao động và phụ thuộc vào sự phân biệt của ông giữa:

  1. Phương tiện / lực sản xuất, theo nghĩa đen những thứ (như đất đai, các nguồn tài nguyên, và công nghệ) cần thiết cho việc sản xuất hàng hoá vật chất; và
  2. Quan hệ sản xuất, nói theo cách khác, quan hệ xã hội mà con người tham gia vào khi họ thu thập và sử dụng phương tiện sản xuất.

Cùng với nhau chúng tạo ra phương thức sản xuất, và Marx phân biệt các thời kỳ lịch sử theo các phương thức sản xuất. Ví dụ, ông quan sát thấy rằng các xã hội châu Âu đã tiến bộ từ một phương thức sản xuất phong kiến tới một phương thức sản xuất tư bản. Marx tin rằng dưới chế độ tư bản, các phương tiện sản xuất thay đổi nhanh hơn các quan hệ sản xuất (ví dụ, chúng ta phát triển một công nghệ mới, như Internet, và sau đó chúng ta mới phát triển các điều luật quản lý công nghệ đó). Marx coi sự không đối xứng này giữa (kinh tế) nền móng và (xã hội) siêu cấu trúc như nguồn lực chính cho sự xung đột và phá vỡ xã hội.

Như một nhà khoa họcngười theo chủ nghĩa duy vật, Marx không hiểu các tầng lớp chỉ như chủ quan (nói cách khác, các nhóm người có ý thức phân biệt mình với người khác). Ông tìm cách định nghĩa các tầng lớp theo các thuật ngữ của tiêu chí khách quan, như khả năng tiếp cận của họ với các nguồn tài nguyên—có nghĩa là, liệu một nhóm có sở hữu hay không phương tiện sản xuất. Với Marx:

Marx có một lo ngại đặc biệt với việc làm sao con người liên quan tới nguồn tài nguyên có tính nền tảng nhất, sức lao động của chính họ. Ông đã viết nhiều về điều này trong các thuật ngữ về vấn đề của sự chuyển nhượng. Như với biện chứng, Marx bắt đầu với một khái niệm của Hegel về sự chuyển nhượng nhưng đã phát triển một khái niệm duy vật hơn. Chủ nghĩa tư bản dàn xếp các quan hệ sản xuất (như giữa những người thợ hay giữa những người thợ và các nhà tư bản) thông qua hàng hoá, gồm cả lao động, được đưa ra và bán trên thị trường. Với Marx, khả năng rằng một người có thể ngừng việc sở hữu sức lao động của chính mình—khả năng của một người trong việc cải tạo thế giới—là ngang với việc bị chuyển nhượng khỏi bản tính tự nhiên của chính mình; đó là một sự mất mát về tinh thần. Marx đã miêu tả sự mất mát này là sự sùng bái thương mại, trong đó những thứ con người tạo ra, hàng hoá, dường như có đời sống và sự di chuyển của chính nó và con người và cách hành xử của họ chỉ đơn giản đáp ứng.

Sự sùng bái thương mại cung cấp một ví dụ cho cái mà Engels gọi là "sai lầm ý thức", liên quan chặt chẽ tới việc hiểu ý thức hệ. Bằng "ý thức hệ", Marx và Engels cho rằng các ý tưởng phản ánh các quyền lợi của một tầng lớp xã hội riêng biệt ở một thời điểm trong lịch sử, nhưng những người cùng thời với các ông coi nó như là vấn đề chung và vĩnh cửu. Quan điểm của Marx và Engels không chỉ cho rằng những niểm tin như vậy ở trạng thái tốt nhất cũng chỉ là nửa sự thật; chúng hoạt động như một chức năng chính trị quan trọng. Theo một cách khác, việc kiểm soát mà một tầng lớp thực hiện với phương tiện sản xuất gồm không chỉ việc sản xuất lương thực hay hàng hoá chế tạo; nó gồm cả sản xuất ý tưởng (điều này cung cấp một khả năng giải thích tại sao các thành viên của một tầng lớp phụ thuộc có thể giữ các ý tưởng trái ngược với các quyền lợi của chính họ. Vì thế, tuy các ý tưởng đó là sai lầm, chúng cũng hé lộ dưới hình thức quy tắc một số sự thật về các quan hệ chính trị. Ví dụ, dù niềm tin rằng các đồ vật con người tạo ra thực tế có khả năng sản xuất cao hơn chính người tạo ra nó theo nghĩa đen là điều vô lý, nó quả thực phản ánh (theo Marx và Engels) rằng con người ở chủ nghĩa tư bản bị tách khỏi chính khả năng lao động của mình.

Trong khi luận cương cao học Gymnasium cho rằng tôn giáo có mục tiêu xã hội hàng đầu là khuyến khích sự đoàn kết, ở đây Marx xem xét chức năng xã hội của tôn giáo theo các quan điểm chính trị và kinh tế nổi bật/bảo tồn tương đương. Hơn nữa, ông đưa ra một phân tích về các chức năng lý tưởng của tôn giáo: để phát lộ "một sự ý thức đảo ngược của thế giới." Ông tiếp: "Nó trực tiếp là nhiệm vụ của triết học, mà trong khi phục vụ cho lịch sử, để bộc lộ sự tự ghẻ lạnh trong các hình thức phi thần thánh của nó, một lần nữa tôn giáo, hình thức thần thánh của sự tự ghẻ lạnh của con người đã bị bộc lộ". Với Marx, sự tự ghẻ lạnh phi thần thánh này, "sự mất mát của con người", hoàn thành một khi giai cấp vô sản nhận ra khả năng tiềm tàng của họ trong việc đoàn kết trong sự đoàn kết cách mạng. Kết luận cuối cùng của ông là rằng với Đức, sự giảm phóng con người nói chung chỉ có thể như một sự ngừng sở hữu tư nhân bởi giai cấp vô sản.

Phê phán kinh tế chính trị, lịch sử và xã hộiSửa đổi

 
Marx tin rằng các công nhân công nghiệp (giai cấp vô sản) sẽ nổi lên khắp thế giới.

Marx cho rằng sự liên kết của công việc của con người (và commodity fetishism) hoạt động chính xác như đặc điểm định nghĩa của chủ nghĩa tư bản. Trước chủ nghĩa tư bản, các thị trưởng tồn tại ở châu Âu nơi những nhà sản xuất và các nhà buôn mua và bán hàng hoá. Theo Marx, một phương thức sản xuất tư bản đã phát triển ở châu Âu khi chính lao động trở thành một hàng hoá – khi những người nông dân được tự do bán sức lao động của chính mình – khả năng, và cần phải làm như vậy bởi họ không còn sở hữu đất đai của mình nữa. Mọi người bán sức lao động của mình – khả năng khi họ chấp nhận sự thanh toán trở lại cho bất cứ công việc nào họ làm trong một đơn vị thời gian cho trước (nói cách khác, họ không bán sản phẩm của lao động của mình, mà bán khả năng làm việc). Để đổi lại việc bán lao động – khả năng họ nhận được tiền, cho phép họ tồn tại. Những người phải bán sức lao động – khả năng của mình là "những người vô sản". Người mua sức lao động khả năng, nói chung là người sở hữu đất đai và công nghệ để sản xuất, là một "nhà tư bản" hay "tư sản". Những người vô sản do vậy sẽ chiếm đa số so với những nhà tư bản.

Marx phân biệt các nhà tư bản công nghiệp khỏi các nhà buôn tư bản. Các nhà buôn mua hàng hoá tại một thị trường và bán chúng tại một thị trường khác. Vì các quy luật cung cầu hoạt động bên trong các thị trường đó, một sự khác biệt thường tồn tại giữa giá của một mặt hàng tại một thị trường này và một thị trường khác. Sau đó, các nhà buôn thực hiện việc buôn bán, và hy vọng có được sự khác biệt giữa hai thị trường đó. Theo Marx, các nhà tư bản, ở mặt khác, lợi dụng ưu thế của sự khác biệt giữa thị trường lao động và thị trường cho bất kỳ mặt hàng nào nhà tư bản có thể sản xuất. Marx quan sát thấy rằng trên thực tế mọi ngành công nghiệp thành công đều có các đơn giá đầu vào thấp hơn đơn giá đầu ra. Marx gọi sự khác biệt đó là "giá trị thặng dư" và cho rằng giá trị này có nguồn gốc từ thặng dư lao động, sự khác biệt giữa cái người công nhân phải có để sống và cái họ có thể tạo ra.

Chủ nghĩa tư bản có thể tạo ra sự tăng trưởng cao bởi nhà tư bản có thể, và có ý muốn, tái đầu tư lợi nhuận vào các công nghệ và thiết bị tư bản mới. Marx coi tầng lớp tư bản là tầng lớp cách mạng nhất trong lịch sử, bởi họ thưởng xuyên cải tiến công cụ sản xuất. Nhưng Marx cho rằng chủ nghĩa tư bản có khuynh hướng khủng hoảng theo định kỳ. Ông cho rằng cùng với thời gian, những nhà tư bản sẽ đầu tư ngày càng nhiều vào các kỹ thuật mới, và ngày càng ít hơn vào lao động. Bởi Marx tin rằng giá trị thặng dư bị chiếm đoạt từ lao động là nguồn gốc của lợi nhuận, ông kết luận rằng tỷ suất lợi nhuận phải giảm thậm chí khi nền kinh tế tăng trưởng. Khi tỷ suất lợi nhuận giảm dưới một mức nào đó, kết quả sẽ là một sự giảm phát hay khủng hoảng trong đó một số lĩnh vực của nền kinh tế sẽ sụp đổ. Marx cho rằng trong một cuộc khủng hoảng kinh tế như vậy giá lao động cũng sẽ sụt giảm, và cuối cùng khiến không thể đầu tư vào các kỹ thuật mới và sự tăng trưởng của các lĩnh vực của nền kinh tế.

Marx tin rằng sự gia tăng mức độ nghiêm trọng của các cuộc khủng hoảng sẽ xé rách chu kỳ tăng trưởng, sụp đổ, và tăng trưởng tiếp này. Hơn nữa, ông tin rằng về dài hạn quá trình này sẽ tăng cao và làm tăng cường sức mạnh cho tầng lớp tư bản và làm khốn khó tầng lớp vô sản. Ông tin rằng nếu tầng lớp vô sản nắm được phương tiện sản xuất, họ sẽ khuyến khích các quan hệ xã hội để mọi người đều được có lợi ích một cách công bằng, và một hệ thống sản xuất ít bị ảnh hưởng hơn bởi các cuộc khủng hoảng định kỳ. Ông đặt ra lý thuyết rằng giữa chủ nghĩa tư bản và việc thành lập một hệ thống xã hội chủ nghĩa, có một sự chuyên chính của tầng lớp tư sản – một giai đoạn khi tầng lớp lao động giữ quyền lực chính trị và bắt buộc xã hội hoá các phương tiện sản xuất – tồn tại. Và ông đã viết trong cuốn "Phê phán cương lĩnh Gotha" của mình, "giữa xã hội tư bản và cộng sản có một giai đoạn chuyển tiếp cách mạng từ xã hội này tới xã hội kia. Tương ứng với nó cũng là một giai đoạn chuyển tiếp chính trị trong đó nhà nước có thể không là gì mà chỉ là sự chuyên chính cách mạng của tầng lớp vô sản."[128] Tuy ông cho phép khả năng chuyển tiếp hoà bình ở một số quốc gia có các thể chế dân chủ mạnh (như Anh Quốc, Hoa Kỳ và Hà Lan), ông cho rằng ở các quốc gia khác với các truyền thống nhà nước tập trung mạnh, như Pháp, Đức, "đòn bẩy cuộc cách mạng của chúng ta phải là bạo lực."[129]

Trong một bức thư gửi Vera Zasulich ngày 8 tháng 3 năm 1881, Marx thậm chí dự tính về khả năng nước Nga bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên cơ sở sở hữu chung về ruộng đất của làng mir.[130] Tuy chấp nhận rằng ở nông thôn Nga "làng xã là điểm tựa của sự cải tạo xã hội ở Nga ", Marx cũng cảnh báo rằng để mir hoạt động như một phương tiện để đi thẳng lên giai đoạn xã hội chủ nghĩa bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, nó "đầu tiên phải loại bỏ các ảnh hưởng độc hại đang tấn công nó (làng xã nông thôn) từ mọi phía".[131] Với điều kiện loại bỏ các ảnh hưởng nguy hiểm đó, Marx cho phép, rằng "các điều kiện bình thường của sự phát triển tự sinh" của làng xã nông thôn có thể tồn tại.[132] Tuy nhiên cũng trong lá thư gửi Vera Zaulich, Marx chỉ ra rằng "ở cốt lõi của chế độ tư bản chủ nghĩa...có sự tách biệt hoàn toàn người sản xuất khỏi phương tiện sản xuất".[132] Marx có thể được tha thứ vì đã không thấy điều này ở giai đoạn đầu năm 1881, các điều kiện bên trong làng xã nông thôn sẽ nhanh chóng dẫn tới "sự khác biệt của giới nông dân" bên trong làng xã nông thôn Nga và sự dần tách biệt của nhiều nông dân bên trong làng xã khỏi phương tiện sản xuất.

Ảnh hưởng của MarxSửa đổi

“ Công lao của Marx là ông đã bất ngờ tạo ra sự thay đổi về lượng trong lịch sử tư tưởng xã hội. Ông giải thích lịch sử, hiểu sự vận động của nó, dự đoán tương lai, nhưng ngoài việc dự đoán nó, ông đã thể hiện một quan niệm cách mạng: thế giới không chỉ cần được giải thích, nó phải được chuyển đổi. ”

— Che Guevara, Nhà cách mạng Marxist[133]   

“ Việc Mác phát hiện ra những quy luật của sự phát triển xã hội đã cho ta chìa khóa để quản lý một cách khoa học các quá trình xã hội vì lợi ích của con người. Nhưng cũng cần nhấn mạnh – theo Mác – chỉ có thể quản lý một cách khoa học các quá trình xã hội sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sau khi thủ tiêu chế độ tư hữu, xã hội hóa nền sản xuất trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Chỉ có hoàn thành những cải cách xã hội chủ nghĩa mới xóa bỏ được tính tự phát và bảo đảm được sự phát triển theo kế hoạch nền sản xuất và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. ”

— PGS-TS Nguyễn Văn Nam[134]    
 
Tượng đài Karl Marx và Friedrich Engels tại Marx-Engels-Forum, Berlin-Mitte

Tác phẩm của Marx và Engels đề cập tới rất nhiều chủ đề và có một sự phân tích phức tạp về lịch sử và xã hội về các quan hệ giai cấp. Những người theo Marx và Engels đã lấy từ tác phẩm này để đề ra những lý thuyết tương lai to lớn và liên kết được gọi là "Chủ nghĩa Marx". Tuy nhiên, những người Marxist thường tranh luận lẫn nhau về cách giải thích các tác phẩm của Marx và cách để áp dụng những ý tưởng của ông vào các sự kiện và điều kiện hiện thời của họ. Sinh thời, Marx cho rằng những người xưng là "Marxist" khi đó thật ra chỉ là những kẻ không thật sự hiểu tư tưởng Marx, mà miêu tả và chủ nghĩa này một cách "nông cạn, hời hợt, thậm chí lệch lạc, mang tính chất biếm hoạ". Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam cũng ghi nhận "Họ là những kẻ kiếm chác lợi lộc, danh vị ở các luận điểm đó, và họ lại tạo thành những bè phái, tự nhận là Marxist". Hơn nữa, cũng cần phân biệt giữa "Chủ nghĩa Marx" và "cái Marx tin tưởng"; ví dụ, ngay trước khi ông mất năm 1883, Marx đã viết một bức thư cho nhà lãnh đạo công nhân Pháp Jules Guesde, và cho con rể của mình là Paul Lafargue, buộc tội họ "revolutionary phrase-mongering" và thiếu niềm tin ở giai cấp lao động. Sau khi đảng Pháp chia rẽ thành một đảng cải cách và cách mạng, một số người buộc tội Guesde (lãnh đạo đảng cách mạng) đã nhận mệnh lệnh từ Marx; Marx đã lưu ý Lafargue, "nếu đó là Chủ nghĩa Marx, thì tôi không phải là một người Marxist" (trong một bức thư gửi Engels, Marx sau này buộc tội Guesde là một "Bakuninist").[135][136]

Đặc biệt, mọi người đã sử dụng từ "Marxist" theo một trong hai cách:

  1. để miêu tả những người dựa vào ngôn ngữ ý tưởng của Marx (ví dụ: "phương thức sản xuất", "giai cấp", "commodity fetishism") để hiểu chủ nghĩa tư bản và các xã hội khác; hay:
  2. để miêu tả những người coi cuộc cách mạng công nhân là phương tiện duy nhất tới một xã hội cộng sản.

Một số người, đặc biệt trong giới hàn lâm, những người chấp nhận hầu hết lý thuyết của Marx, nhưng không phải tất cả những giải pháp do Marx đề xuất, tự gọi mình là "Marxian" để thay thế.

Sáu năm sau cái chết của Marx, Engels và những người khác đã thành lập "Quốc tế cộng sản hai" như một cơ sở để tiếp tục hoạt động chính trị. Tổ chức này chứng tỏ thành công hơn nhiều so với Quốc tế cộng sản một: nó bao gồm các đảng công nhân, đặc biệt là Đảng Dân chủ Xã hội Đức lớn và thành công, chủ yếu thể hiện một viễn cảnh Marxist. Quốc tế cộng sản hai sụp đổ năm 1914, tuy nhiên, một phần bởi một số thành viên đã quay sang với "chủ nghĩa xã hội cách mạng" của Eduard Bernstein, và một phần bởi những sự chia rẽ do Thế chiến I gây ra.

 
Bản đồ các nước tuyên bố là quốc gia xã hội chủ nghĩa theo hệ tư tưởng của Marxist, Leninist hoặc Mao Trạch Đông giữa 1979 và 1983. Giai đoạn này đánh dấu mức độ lãnh thổ lớn nhất của các quốc gia xã hội chủ nghĩa.

Thế chiến I cũng dẫn tới cuộc Cách mạng Nga năm 1917, trong những giai đoạn sau này của nó một nhóm ly khai cánh tả của Quốc tế cộng sản hai, nhóm Bolshevik, dưới sự lãnh đạo của Vladimir Lenin, lên nắm quyền lực. Cách mạng Nga đã khuyến khích công nhân trên khắp thế giới lập ra "Quốc tế cộng sản ba" Bolshevik. Lenin hiện diện như một người thừa kế chính trị và triết học của Marx, và đã phát triển một chương trình chính trị, được gọi là "Chủ nghĩa Lenin" hay "Chủ nghĩa Bolshevik", kêu gọi cách mạng có tổ chức và được lãnh đạo bởi một tổ chức trung ương tiền phong "Đảng Cộng sản".

Marx tin rằng cách mạng vô sản sẽ diễn ra trước hết ở những xã hội công nghiệp tiên tiến như Pháp, Đức và Anh, nhưng Lenin cho rằng trong thời đại của chủ nghĩa đế quốc, và bởi "quy luật phát triển không đều", theo đó nước Nga một mặt có một xã hội nông nghiệp lạc hậu, nhưng mặt khác lại có một trong số những vấn đề mới nhất của nền công nghiệp, "dây xích" có thể đứt ở điểm yếu nhất của nó, đó là, trong cái gọi là các quốc gia "lạc hậu", và sau đó gây ra cách mạng tại các xã hội công nghiệp phát triển tại châu Âu, nơi xã hội đã sẵn sàng cho chủ nghĩa xã hội, và sau đó nó lại giúp đỡ trở lại cho nhà nước công nhân tại Nga.[137]

Karl Marx và Friedrich Engels đã có một bình luận đáng chú ý trong lời nói đầu của ấn bản tiếng Nga cuốn Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản:

“ Hiện tại vấn đề là: liệu obshchina Nga, dù vẫn còn rất yếu ớt, đã là một hình thức sở hữu ruộng đất tập thể, chuyển trực tiếp tới hình thức cao hơn là sở hữu tập thể Cộng sản? Hay, trái lại, đầu tiên nó phải trải qua cùng quá trình tan rã như các cấu thành của tiến trình lịch sử của phương Tây? Câu trả lời duy nhất cho câu hỏi đó ở thời điểm hiện tại có thể là: Nếu Cách mạng Nga trở thành một tín hiệu của một cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây, vì thế cả hai sẽ bổ sung cho nhau, phương thức sở hữu chung ruộng đất hiện nay ở Nga có thể là một điểm khởi đầu cho một sự phát triển cộng sản.  ”

— (Marx và Engels, Lời nói đầu ấn bản tiếng Nga của Tuyên ngôn Cộng sản)    

“ Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. ”

— V. I. Lenin[138]    

Những lời của Marx đã là điểm khởi đầu cho Lenin,[139] người, cùng với Trotsky, luôn tin rằng cách mạng Nga phải trở thành một "tín hiệu cho một cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây". Những người ủng hộ Trotsky cho rằng sự thất bại của cách mạng ở phương Tây (theo những sự kiện đã được Marx dự đoán) để giúp đỡ cuộc cách mạng Nga sau năm 1917 đã dẫn tới sự xuất hiện của Chủ nghĩa Stalin[140] và đã đặt ra khuôn khổ của lịch sử loài người trong bảy mươi năm.

 
Đồng 100 Mark der DDR được sử dụng tại Cộng hoà Dân chủ Đức. Những đồng tiền giấy 100 với chân dung Marx đã được lưu hành từ năm 1964 cho tới khi thống nhất tiền tệ với Tây Đức tháng 7 năm 1990.

Tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông cũng tự thể hiện mình là một người thừa kế của Marx, nhưng cho rằng những người nông dân – không chỉ những người công nhân – có thể đóng vai trò lãnh đạo trong một cuộc cách mạng vô sản, thậm chí tại các quốc gia thuộc thế giới thứ ba với đặc điểm là chủ nghĩa phong kiến nông dân và sự vắng mặt của những người công nhân công nghiệp. Mao Trạch Đông gọi nó là Cách mạng Dân chủ Mới. Chủ nghĩa Marx–Lenin như được thể hiện bởi Mao Trạch Đông được quốc tế gọi là "chủ nghĩa Mao".

Dưới thời Joseph Stalin, chính quyền Liên Xô đã thực hiện những chính sách sai lầm, đồng thời tệ sùng bái cá nhân trở nên phổ biến (xem thêm bài Đại thanh trừngVề sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó). Những người theo chủ nghĩa chống cộng không cho rằng những sai lầm trong công cuộc phát triển chủ nghĩa cộng sản là do chủ ý của người thực hiện chúng, mà chứng tỏ bộ mặt thật của chủ nghĩa Marx. Các quốc gia phương Tây có khuynh hướng theo chủ nghĩa tư bản khuyến khích cảm giác này, và bối cảnh chính trị thời Chiến tranh Lạnh cũng vậy. Quả thực, luôn có những giọng điệu bất đồng quan điểm với Marx—những người theo chủ nghĩa Marx của Quốc tế Cộng sản hai cũ, những người Cộng sản cánh tả chia rẽ khỏi Quốc tế Cộng sản ba ngay sau sự thành lập của nó, và sau này là Leon Trotsky và những người ủng hộ ông, đã lập ra một "Quốc tế Cộng sản bốn" năm 1938 để cạnh tranh với Quốc tế Cộng sản của Stalin, tuyên bố đại diện cho chủ nghĩa Bolshevik đích thực.

 
Tượng của Marx và Engels tại Vườn Tượng, Budapest.

Từ hoàn cảnh của Quốc tế Cộng sản hai trong thập niên 1920 và 1930, một nhóm những người theo chủ nghĩa Marx bất đồng đã thành lập Viện Nghiên cứu Xã hội tại Đức, trong số đó có Max Horkheimer, Theodor Adorno, Erich Fromm, và Herbert Marcuse. Với tư cách một nhóm, những tác giả này đã được gọi là Trường phái Frankfurt. Trường phái tư tưởng của họ, được gọi là Lý thuyết Phê phán, đại diện cho một kiểu chỉ trích triết học và văn hoá Marxist có ảnh hưởng mạnh bởi Hegel, Freud, Nietzsche, và Max Weber.

Trường phái Frankfurt chia rẽ với những người theo chủ nghĩa Marx thời kỳ đầu, gồm cả Lenin và những người Bolshevik ở nhiều khía cạnh quan trọng. Đầu tiên, thời ấy viết về sự gia tăng uy thế của chủ nghĩa Stalin, họ đã đưa ra những nghi ngờ về ý tưởng truyền thống Marxist về ý thức giai cấp của tầng lớp vô sản. Thứ hai, không giống những người Marxist thời kỳ đầu, đặc biệt là Lenin, họ phản đối thuyết định mệnh kinh tế. Dù Trường phái Frankfurt trở nên rất có ảnh hưởng, cả những người theo chủ nghĩa Marx chính thống và một số người khác tham gia vào hoạt động chính trị đã chỉ trích công việc của họ vì đã chia rẽ lý thuyết Marxist khỏi cuộc đấu tranh thực tế và đưa chủ nghĩa Marx vào một khuôn khổ hoàn toàn hàn lâm.

Những người theo chủ nghĩa Marx nổi bật trong cùng thời kỳ gồm cả Georg LukácsAntonio Gramsci thuộc Quốc tế Cộng sản ba, thường gộp vào một nhóm cùng Trường phái Frankfurt dưới thuật ngữ "Chủ nghĩa Marx phương Tây". Marx cũng gây một ảnh hưởng quan trọng tới nhà triết học và phê bình văn học Đức Walter Benjamin, một người thỉnh thoảng liên kết với Adorno và Trường phái Frankfurt.

Năm 1949 Paul Sweezy và Leo Huberman đã thành lập Monthly Review, một tờ báo và tạp chí, để đưa ra tư tưởng Marx tại Hoa Kỳ độc lập với Đảng Cộng sản Hoa Kỳ.

Năm 1978, G. A. Cohen đã tìm cách bảo vệ tư tưởng Marx như một lý thuyết khoa học và có hệ thống của lịch sử bằng cách khởi động lại các giáo điều trung tâm của nó bằng ngôn ngữ triết học phân tích. Điều này đã làm phát sinh Chủ nghĩa Mác Phân tích, một phong trào hàn lâm cũng bao gồm Jon Elster, Adam PrzeworskiJohn Roemer. Bertell Ollman trở thành một nhà vô địch khác về Marx trong phạm vi hàn lâm Anh ngữ, tương tự như Shlomo Avineri người Israel.

Trong cuốn Das Kapital của Marx (2006), người viết tiểu sử Francis Wheen đã lặp lại quan sát của David McLellan rằng bởi chủ nghĩa Marx không giành thắng lợi ở phương Tây, "nó đã không bị chuyển thành một triết lý chính thức và vì thế trở thành chủ đề của sự nghiên cứu nghiêm túc mà không bị các phương tiện kiểm soát của chính phủ ngăn cản".

Các quốc gia sau ở một số thời điểm trong lịch sử từng có các chính phủ với sự lãnh đạo ít nhất trên danh nghĩa là theo chủ nghĩa Marx (các quốc gia được in đậm vẫn đang có chính phủ đó ở thời điểm năm 2009): Albania, Afghanistan, Angola, Bulgaria, Trung Quốc, Cuba, Síp, Tiệp Khắc, Đông Đức, Ethiopia, Hungary, Lào, Moldova, Mông Cổ, Nepal, Mozambique, Nicaragua, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Ba Lan, România, Nga, Nam Tư, Việt Nam. Ngoài ra, các bang Kerala, TripuraTây Bengal tại Ấn Độ cũng từng có các chính phủ theo chủ nghĩa Marx.

Các đảng chính trị và các phong trào Marxist đã suy giảm đáng kể về ảnh hưởng từ sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, với một số ngoại lệ, có lẽ đáng chú ý nhất là Nepal. Ngoài ra, sau khi Liên Xô đã sụp đổ nhưng tại châu Mỹ, hàng triệu người vẫn chống đối mô hình tự do mới của chế độ tư bản, mà đi theo con đường độc lập. Chính quyền Venezuela tuyên bố đất nước này thực hiện công cuộc phát triển xã hội chủ nghĩa vào thế kỷ XXI. Tại Bolivia, chính quyền đã thực hiện quốc hữu hóa ngành công nghiệp dầu khí.

Tại phương Tây, Marx vẫn được xem là một học giả quan trọng đối với nền khoa học xã hội hiện đại. Báo The Economist nói về Marx:

Đánh giá về MarxSửa đổi

Năm 1999, đại học Cambridge (Anh) công bố bình chọn nhà tư tưởng số một thiên niên kỷ, kết quả là Marx đứng đầu, còn Einstein, nhà khoa học lớn đứng thứ hai.

Tháng 7 năm 2005, với câu hỏi tương tự, 27.9% thính giả trong một cuộc thăm dò ý kiến của chương trình In Our Time trên kênh Radio 4 của BBC đã chọn Marx là nhà tư tưởng ưa thích của họ, và vẫn là đứng đầu.[142] David Hume, nhà triết học Scotland đứng thứ hai chỉ đạt 12,6% số phiếu, đứng xa sau Marx.

Trong cuộc bình chọn 100 nhân vật vĩ đại nhất lịch sử Đức, Marx đứng thứ 3, chỉ sau Konrad Adenauer (thủ tướng Tây Đức giai đoạn 1949 – 1963) và Martin Luther, người sáng lập ra đạo Tin Lành

Tại tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc, sau khi thực hiện một cuộc khảo sát, người ta nhận thấy rằng số người biết Karl Marx là ai chiếm đến 100% dân số Trung Quốc, họ cho rằng tư tưởng Marx quả là tư tưởng đã làm cho lịch sử nhân loại có sự chuyển biến. Người cha đẻ của chủ nghĩa Marx này được xem là "người thầy của giai cấp công nhân, nhân dân lao động toàn thế giới".[143]

Tại Hoa Kỳ, trong khảo sát tổng hợp những cuốn sách, tài liệu mà sinh viên Mỹ bắt buộc phải đọc trong hơn 1 triệu bài giảng năm 2016, "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" của Karl Marx đã bỏ xa các cuốn sách phía sau để trở thành tài liệu được giáo viên Mỹ giảng dạy rộng rãi nhất, cả về số bài giảng lẫn tần suất được giảng dạy. "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" được sử dụng làm tài liệu giảng dạy về lý thuyết xã hội, trong khi tại các lớp học kinh tế, các giáo sư thường ưa thích sử dụng cuốn "Capital" (Tư bản – bộ sách đồ sộ của Marx phân tích về sự vận hành của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa)[144].

Phê bìnhSửa đổi

Kinh tếSửa đổi

Nhiều người đề xướng chủ nghĩa tư bản đã coi chủ nghĩa tư bản là công cụ hiệu quả hơn trong việc tạo ra và phân phối tài sản so với chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản, hay đã thể hiện sự chia tách giàu nghèo như sự lo ngại của Marx và Engels chỉ là một hiện tượng nhất thời. Một số người cho rằng tính tư lợi và nhu cầu sở hữu tư bản là một tính chất sẵn có của cách hành xử của con người, chứ không phải bị gây ra bởi việc chấp nhận chủ nghĩa tư bản hay bất kỳ một hệ thống kinh tế riêng biệt nào khác và rằng những hệ thống kinh tế khác nhau phản ánh những sự đáp ứng khác nhau của xã hội với thực tế này. Trường phái Áo về kinh tế đã chỉ trích việc Marx sử dụng lý thuyết giá trị thặng dư lao động.[145] Ngoài ra, sự đàn áp chính trị và các vấn đề kinh tế của nhiều nhà nước Cộng sản lịch sử đã làm giảm sút khá nhiều danh tiếng của Marx ở phương Tây, đặc biệt sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin và của Liên bang Xô viết. John Maynard Keynes coi chủ nghĩa Marx là một học thuyết phi logic[146] và gọi cuốn Das Kapital là "một cuốn sách lỗi thời mà tôi biết không chỉ có nhiều lỗi về mặt khoa học mà còn không được quan tâm hay có thể áp dụng vào thế giới hiện đại"[147].

Tuy sự tàn phá kinh tế của cuộc Đại Giảm phát trong thập niên 1930 đã làm gia tăng lời kêu gọi tới chủ nghĩa Marx ở các quốc gia phát triển, sự phục hồi kinh tế sau đó và việc chính phủ áp dụng các biện pháp cứu vãn đã làm giảm sút tầm ảnh hưởng của nó.[148] Trái lại, chủ nghĩa Marx trở nên đặc biệt có ảnh hưởng tại các xã hội phong kiến và chưa phát triển về công nghiệp như nước Nga thời Sa hoàng trước năm 1917, nơi cuộc Cách mạng Bolshevik đã chứng tỏ là một sự thành công.[149]

Tới đầu thế kỷ XXI, những bài học, chính sách phúc lợi xã hội và quyền của người lao động mà các nước thuộc hệ thống cộng sản chủ nghĩa để lại trong việc xây dựng một xã hội mới công bằng, tiến bộ hơn đã được các nhà nước hiện đại tiếp thu. Một số biện pháp kinh tế – xã hội mà chủ nghĩa Marx đề ra đã được áp dụng ở khắp mọi nơi, ngay cả ở các nước phương Tây vốn từng là đối thủ. J. Arch Getty nhận xét:[150]

Công cuộc cải tạo quyền lao động ở phương Tây trong thế kỷ qua được thúc đẩy bởi một phong trào lao động quốc tế, được bảo vệ và hỗ trợ bởi Liên Xô. Chính sách New Deal của Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt có một phần được sao chép từ chính sách của Liên Xô. Các mục tiêu xã hội phổ biến ngày hôm nay, bao gồm các quyền của phụ nữ và bình đẳng chủng tộc, là chính sách của các Đảng Cộng sản từ rất lâu trước khi được chính phủ Mỹ thi hành một cách nghiêm túc. Những người Cộng sản đầu tiên đã đi đến Nam Mỹ và bắt đầu tổ chức những người da trắng, người Mỹ gốc Phi và người nghèo xung quanh vấn đề đòi hỏi công bằng xã hội. Trên trường quốc tế, Liên Xô cung cấp hỗ trợ cho Nelson Mandela chống lại chế độ áp bức chủng tộc và những cải cách khác. Chủ nghĩa Cộng sản tạo ra sự cạnh tranh khó khăn cho các nước phương Tây, và người ta nghi ngờ rằng những cải cách xã hội ở phương Tây đã không xảy ra nếu nước Nga Xô viết không tồn tại. Trớ trêu thay, sự tồn tại của Liên Xô đã giúp phương Tây tư bản tự cải cách và tránh khỏi những cuộc cách mạng đẫm máu của phương Đông. Chủ nghĩa cộng sản trong thế kỷ XX không phải là ảo tưởng thoáng qua; di sản của nó đang hiện diện ở khắp mọi nơi.

Hệ thốngSửa đổi

Những người khác chỉ trích Marx từ khía cạnh triết lý khoa học. Karl Popper chỉ trích các lý thuyết của Marx là không có tính khả thi, điều mà ông tin là xuất phát từ một số khía cạnh lý luận lịch sử và chính trị xã hội phi khoa học của Marx; tiêu chuẩn tính khả thi của Popper, dù rất có ảnh hưởng, cũng đã bị chứng minh có thể gây tranh cãi. Popper cũng chỉ trích Marx về 'chủ nghĩa lịch sử'; nghĩa là, việc giả định rằng sự phát triển của những xã hội loài người tuân theo một bộ quy luật cố định và có thể thấy trước.[151]

Murray Rothbard cho rằng "...Marx không bao giờ tìm cách đưa ra một câu trả lời. Quả thực ông không thể, bởi nếu ông gắn tình trạng kỹ thuật hay sự thay đổi công nghệ với những hành động của con người, của con người cá nhân, toàn bộ hệ thống của ông sẽ sụp đổ. Với ý thức của loài người, và ý thức cá nhân với điều đó, thì khi ấy mới xác định phương thức sản xuất chứ không phải cách thức khác theo hình tròn."[152] Tuy nhiên, bài viết Lời nói đầu cho một sự đóng góp vào việc phê bình Kinh tế chính trị nổi tiếng của Marx phát biểu rằng "Trong sự sản xuất xã hội của sự tồn tại của nó, con người không tránh được phải tham gia vào những quanh hệ xác định, phụ thuộc vào ý chí của họ, nói rõ ra là những quan hệ sản xuất thích ứng với một giai đoạn cho trước trong sự phát triển các lực lượng sản xuất vật chất của họ."[153] Marx đã gắn một cách rõ ràng các lực lượng sản xuất và sự phát triển của chúng với những hành động của loài người, nhưng nhấn mạnh bản chất xã hội của sự phát triển này, dựa trên nhu cầu, nhu cầu phải duy trì sự tồn tại của con người, vì thế phát triển "độc lập của ý chí của họ", như các cá nhân, và vì thế ảnh hưởng ngược lại tới cá nhân theo những cách phản ứng các điều kiện xã hội cho trước.

Từ cánh tảSửa đổi

Nhà triết học cánh tả Peter Singer, trong cuốn sách Một người Darwin cánh Tả, đã đặt nghi vấn quan điểm Marxist về bản chất con người là rất dễ thay đổi. Nhà khoa học Lionel Tiger cũng đã trình bày lý lẽ chống lại quan điểm Marxist về bản chất con người. Lionel Tiger cho rằng những tuyên bố Marxist đã không thể loại bỏ và trao quyền lực cho giai cấp vô sản bởi chủ nghĩa xã hội Marxist không nhận ra rằng bởi con người đã được thừa hưởng khuynh hướng cạnh tranh và chuyên chế từ những tổ tiên thời nguyên thủy của mình trong một hệ thống "kiểm tra và cân bằng" và những hạn chế với việc cá nhân giành lấy quyền lực và tài sản là cần thiết để duy trì một xã hội xã hội chủ nghĩa quân bình.[154]

Ngoài ra, những nhà tư tưởng cánh tả theo tư tưởng vô chính phủ như Mikhail Aleksandrovich Bakunin tại Nga, người có chủ trương "xóa bỏ giai cấp, đưa mọi của cải vào làm của chung, thủ tiêu Nhà nước và mọi quyền lực"[155] – đã chỉ trích Marx về những thành phần chuyên chính trong triết lý của ông và miêu tả ông như là một kẻ "thân chính phủ Bismarck" bị ám ảnh với việc nắm quyền lực quốc gia.[156]

Marx và chống SemitSửa đổi

Một số nhà bình luận, như Bernard Lewis, Edward H. FlanneryHyam Maccoby, đã coi Về Vấn đề Do Thái của Marx như một tác phẩm chống Semit, và xác định những tính chất chống Semit trong các tác phẩm đã xuất bản và tác phẩm riêng của ông.[157][158] Theo họ, Marx coi người Do Thái như một hiện thân của chủ nghĩa tư bản và là những người tạo ra các tính chất ma quỷ của nó.[159] Theo quan điểm của họ, sự đánh đồng chủ nghĩa Do Thái với chủ nghĩa tư bản của Marx, cùng với những tuyên bố của ông về người Do Thái, đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới các phong trào xã hội chủ nghĩa và định hình nên thái độ và chính sách của họ với người Do Thái. Theo những ý kiến của các học giả này, tác phẩm Về Vấn đề Do Thái của Marx đã ảnh hưởng tới chủ nghĩa Phát xít, cũng như các tình cảm chống Semit của Liên bang Xô viết và người Ả Rập.[160][161][162] Albert LindemannHyam Maccoby đã cho rằng Marx cảm thấy bối rối vì lý lịch Do Thái của mình.[163][164]

Những tác gia trên thường trích dẫn đoạn sau trong Về Vấn đề Do Thái để làm cơ sở cho lý luận của mình:

“ Đâu là căn bản thế tục của chủ nghĩa Do Thái? Nhu cầu thực tế, tính ích kỷ. Đâu là sự sùng bái thế tục của người Do Thái? Mặc cả. Cái gì là vị thần thế tục của họ? Tiền. Khi ấy thì, một sự giải phóng khỏi sự mặc cả và tiền bạc, từ thực tế, chủ nghĩa Do Thái đích thực sẽ là tự giải phóng khỏi thời đại của chúng ta... ...Giải phóng xã hội của người Do Thái là giải phóng xã hội khỏi chủ nghĩa Do Thái.[165] ”

Tuy nhiên, Giáo sư khoa học chính trị Iain Hamphsher-Monk cho rằng các chỉ trích trên là từ những người chưa đọc kỹ tác phẩm của Marx. Ông đã viết trong tác phẩm của mình: "Tác phẩm này [Về Vấn đề Do Thái] đã được nêu ra như một bằng chứng về cái được cho là tình cảm chống Semit của Marx, nhưng chỉ việc đọc nó một cách hời hợt mới có thể dẫn tới một sự giải thích như vậy."[166] Tương tự, McLellan và Francis Wheen cho rằng các độc giả phải hiểu Về Vấn đề Do Thái trong bối cảnh các cuộc tranh cãi của Marx với Bruno Bauer, tác giả của Vấn đề Do Thái, về sự giải phóng Do Thái ở Đức. Francis Wheen nói: Những chỉ trích đó, ai coi nó như một tiền thân của 'Mein Kampf', bỏ sót một điều, điểm quan trọng: bỏ qua sự vụng về trong cách viết và sự thô thiển của bản in, tác phẩm trên thực tế được viết như một sự bảo vệ dành cho người Do Thái. Đó là sự đáp lại với Bruno Bauer, người đã cho rằng người Do Thái không nên được trao đầy đủ các quyền dân sự và tự do trừ khi họ được rửa tội để trở thành các tín đồ Thiên chúa.[167]

Theo McLellan, Marx đã sử dụng từ Judentum theo cách thông tục, với nghĩa thương mại, cho rằng người Đức phải chịu đựng, và phải được giải phóng khỏi, chủ nghĩa tư bản. McLellan kết luận rằng độc giả phải hiểu nửa sau của cuốn tiểu luận như một sự chơi chữ mở rộng làm thiệt hại cho Bauer.[168]

Jonathan Sacks, Chief Rabbi ở Anh, coi việc áp dụng thuật ngữ "chủ nghĩa chống Semit" cho Marx như một sự sai lầm — bởi Marx khi viết Về Vấn đề Do Thái, rõ ràng mọi nhà triết học lớn đều thể hiện các khuynh hướng chống Semit, nhưng từ "chủ nghĩa chống Semit" vẫn chưa được đặt ra, bỏ mặc phát triển một thành phần chủng tộc, và ít sự hiểu biết tồn tại về tầm mức của thiên kiến của người châu Âu chống người Do Thái. Vì thế Marx chỉ đơn giản thể hiện tư tưởng chung của thời kỳ của mình.[169]

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Letter from Karl Marx accepting membership of the Society 1862”. Hiệp hội Nghệ thuật Hoàng gia Anh. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2022.
  2. ^ a b “Classics: Karl Marx”. Willamette University. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2020.
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên manifesto
  4. ^ Marx, Karl. Critique of the Gotha Program. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2007 – qua Marxists Internet Archive.
  5. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Calhoun2002-23-24
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Manchester
  7. ^ Unger, Roberto Mangabeira (2007). Free Trade Reimagined: The World Division of Labor and the Method of Economics. Princeton: Nhà xuất bản Đại học Princeton.
  8. ^ Hicks, John (tháng 5 năm 1974). “Capital Controversies: Ancient and Modern”. The American Economic Review. 64 (2): 307. The greatest economists, Smith or Marx or Keynes, have changed the course of history ... [Những nhà kinh tế vĩ đại nhất, Smith hoặc Marx hoặc Keynes, đã thay đổi dòng chảy của lịch sử ...]
  9. ^ Joseph Schumpeter Ten Great Economists: From Marx to Keynes. Volume 26 of Unwin University books. Edition 4, Taylor & Francis Group, 1952 ISBN 0-415-11078-5
  10. ^ Little, Daniel. “Marxism and Method”. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2017.
  11. ^ Kim, Sung Ho (2017). “Max Weber”. Trong Zalta, Edward N. (biên tập). Stanford Encyclopaedia of Philosophy. Lab Nghiên cứu Siêu hình học, Đại học Stanford. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2017. Max Weber is known as a principal architect of modern social science along with Karl Marx and Emil Durkheim. [Max Weber nổi danh với vai trò là kiến trúc sư chính của ngành khoa học xã hội hiện đại, cùng với Karl Marx và Emil Durkheim.]
  12. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 7; Wheen 2001, tr. 8, 12; McLellan 2006, tr. 1.
  13. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 4–5; Wheen 2001, tr. 7–9, 12; McLellan 2006, tr. 2–3.
  14. ^ Carroll, James (2002). Constantine's Sword: The Church and the Jews – A History (bằng tiếng Anh). Houghton Mifflin Harcourt. tr. 419. ISBN 978-0-547-34888-9. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2018.
  15. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 4–6; McLellan 2006, tr. 2–4.
  16. ^ McLellan 2006, tr. 178, Plate 1.
  17. ^ Wheen 2001. tr. 12–13.
  18. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 5, 8–12; Wheen 2001, tr. 11; McLellan 2006, tr. 5–6.
  19. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 7; Wheen 2001, tr. 10; McLellan 2006, tr. 7.
  20. ^ Wheen 2001, chpt. 6
  21. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 12; Wheen 2001, tr. 13.
  22. ^ McLellan 2006, tr. 7.
  23. ^ Karl Marx: Dictionary of National Biography. Volume 37. Nhà xuất bản Đại học Oxford. 2004. tr. 57–58. ISBN 978-0-19-861387-9.
  24. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 12–15; Wheen 2001, tr. 13; McLellan 2006, tr. 7–11.
  25. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 15–16; Wheen 2001, tr. 14; McLellan 2006, tr. 13.
  26. ^ Wheen 2001, tr. 15.
  27. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 20; McLellan 2006, tr. 14.
  28. ^ Wheen 2001, tr. 16; McLellan 2006, tr. 14
  29. ^ Holmes, Rachel (14 tháng 10 năm 2017). “Karl Marx: the drinking years”. The Times. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2017.(cần đăng ký mua)
  30. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 21–22; McLellan 2006, tr. 14.
  31. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 22; Wheen 2001, tr. 16–17; McLellan 2006, tr. 14.
  32. ^ Fedoseyev 1973, tr. 23; Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 23–30; Wheen 2001, tr. 16–21, 33; McLellan 2006, tr. 15, 20.
  33. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 70–71; Wheen 2001, tr. 52–53; McLellan 2006, tr. 61–62.
  34. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 31; McLellan 2006, tr. 15.
  35. ^ McLellan 2006, tr. 21
  36. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 33; McLellan 2006, tr. 21.
  37. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 32–34; Wheen 2001, tr. 21–22; McLellan 2006, tr. 21–22.
  38. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 34–38; Wheen 2001, tr. 34; McLellan 2006, tr. 25–27.
  39. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 44,69–70; McLellan 2006, tr. 17–18.
  40. ^ Sperber 2013, tr. 55–56.
  41. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 33; McLellan 2006, tr. 18–19
  42. ^ New York: International Publishers, 1975, tr. 531–632
  43. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 33; Wheen 2001, tr. 25–26.
  44. ^ Luận văn của Marx được xuất bản sau khi ông mất trong cuốn Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 1 (New York: International Publishers, 1975) tr. 25–107.
  45. ^ Wheen 2001, tr. 32.
  46. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 45; Wheen 2001, tr. 33; McLellan 2006, tr. 28–29, 33.
  47. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 38–45; Wheen 2001, tr. 34; McLellan 2006, tr. 32–33, 37.
  48. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 49; McLellan 2006, tr. 33.
  49. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 50–51; Wheen 2001, tr. 34–36, 42–44; McLellan 2006, tr. 35–47.
  50. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 57; Wheen 2001, tr. 47; McLellan 2006, tr. 48–50.
  51. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 60–61; Wheen 2001, tr. 47–48; McLellan 2006, tr. 50–51.
  52. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 68–69, 72; Wheen 2001, tr. 48; McLellan 2006, tr. 59–61
  53. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 77–79; Wheen 2001, tr. 62–66; McLellan 2006, tr. 73–74, 94.
  54. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 72; Wheen 2001, tr. 64–65; McLellan 2006, tr. 71–72.
  55. ^ Marx, Karl (1975). “Contribution to the Critique of Hegel's Philosophy of Law”. Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels. 3. New York: International Publishers. tr. 3.
  56. ^ Marx, Karl (1975). “On the Jewish Question”. Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels. 3. New York: International Publishers. tr. 146.
  57. ^ McLellan 2006, tr. 65–70, 74–80.
  58. ^ Nicolaievsky & Maenchen-Helfen 1976, tr. 72, 75–76; Wheen 2001, tr. 65; McLellan 2006, tr. 88–90.
  59. ^ Wheen 2001, tr. 66–67, 112; McLellan 2006, tr. 79–80.
  60. ^ Wheen 2001, tr. 90.
  61. ^ Wheen 2001. tr. 75.
  62. ^ Mansel, Philip (2001). Paris Between Empires. New York: St. Martin Press. tr. 390.
  63. ^ Engels, Friedrich (1975). “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”. Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels. 4. New York: International Publishers. tr. 295–596.
  64. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Bottomore1991
  65. ^ Fedoseyev 1973, tr. 82.
  66. ^ Wheen 2001. tr. 85–86.
  67. ^ Karl Marx, "Gia đình thần thánh", sưu tập trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 4, tr. 3–211.
  68. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên et
  69. ^ Taken from the caption of a picture of the house in a group of pictures located between pages 160 and 161 of Fedoseyev 1973.
  70. ^ Fedoseyev 1973, tr. 63.
  71. ^ Isaiah Berlin, Karl Marx: His Life and Environment (NXB Đại học Oxford: Luân Đôn, 1963) tr. 90–94.
  72. ^ Fedoseyev 1973, tr. 62.
  73. ^ Larisa Miskievich, "Preface" to Volume 28 of the Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels (International Publishers: New York, 1986) tr. xii
  74. ^ Karl Marx, Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 35, Volume 36Volume 37 (International Publishers: New York, 1996, 1997 và 1987).
  75. ^ Isaiah Berlin, Karl Marx: His Life and Environment, tr. 35–61.
  76. ^ Chú thích 54 ở tr. 598 trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 3.
  77. ^ Karl Marx, "Economic and Philosophical Manuscripts of 1844" Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 3 (International Publishers: New York, 1975) tr. 229–346.
  78. ^ a b c d e f Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên sep
  79. ^ Fedoseyev 1973, tr. 83.
  80. ^ Karl Marx, "Theses on Feuerbach", trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 5 (International Publishers: New York, 1976) tr. 3–14.
  81. ^ Karl Marx, "Theses on Feuerbach," trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 5, tr. 8.
  82. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Engels1999
  83. ^ a b c Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Wheen 2001. p. 90
  84. ^ Heinrich Gemkow et al., Frederick Engels: A Biography (Verlag Zeit im Bild: Dresden, 1972) tr. 101
  85. ^ Heinrich Gemkow, et al., Frederick Engels: A Biography, tr. 102.
  86. ^ Heinrich Gemkow, et al., Frederick Engels: A Biography (Verlag Zeit im Bild [New Book Publishing House]: Dresden, 1972) tr. 53
  87. ^ Heinrich Gemkow, et al., Frederick Engels: A Biography, tr. 78.
  88. ^ a b c Fedoseyev 1973, tr. 89.
  89. ^ Wheen 2001. tr. 92.
  90. ^ Karl Marx và Frederick Engels, "German Ideology" trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 5 (International Publishers: New York, 1976) tr. 19–539.
  91. ^ Fedoseyev 1973, tr. 96–97.
  92. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên wk
  93. ^ Wheen 2001. tr. 93.
  94. ^ Xem chú thích 71 ở tr. 672 trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 6 (International Publishers: New York, 1976).
  95. ^ Karl Marx, The Poverty of Philosophy trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 6 (International Publishers: New York, 1976) tr. 105–212.
  96. ^ Wheen 2001. tr. 107.
  97. ^ Fedoseyev 1973, tr. 124.
  98. ^ Chú thích 260 trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 11 (International Publishers: New York, 1979) tr. 671–72.
  99. ^ Chú thích 260 trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 11, tr. 672.
  100. ^ Fedoseyev 1973, tr. 123–125.
  101. ^ Fedoseyev 1973, tr. 125.
  102. ^ Frederick Engels, "Principles of Communism" trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 6 (International Publishers, New York, 1976) tr. 341–57.
  103. ^ Wheen 2001. tr. 128.
  104. ^ Karl Marx và Frederick Engels, "Demands of the Communist Party" trong Collected Works of Karl Marx and Frederick Engels: Volume 7 (International Publishers: New York, 1977) tr. 3–6.
  105. ^ Wheen 2001. tr. 129.
  106. ^ “Các Mác học toán”. Tạp chí Pi - Tập 4 số 9 năm 2020.
  107. ^ Kennedy, Hubert (1978), "Marx's mathematical manuscripts", Science and Nature, 1: 59–62, ISSN 0193-3396, MR 0515991
  108. ^ Marx, Karl (1968), Yanovskaya, Sofya (ed.), Matematicheskie rukopist, Moscow, Nauk
  109. ^ Marx, Karl (1983) [1881], Yanovskaya, Sofya (ed.), Mathematical manuscripts of Karl Marx, London: New Park Publications Ltd., ISBN 978-0-86151-028-3, MR 0710831
  110. ^ Marx, Karl (2018) [1881], Pradip Baksi (ed.), Mathematical manuscripts of Karl Marx, translated by Pradip Baksi, Delhi: Aakar Books, ISBN 9789350025628
  111. ^ Peter Hans Matthews (2019) The dialectics of differentiation: Marx's mathematical manuscripts and their relation to his economics, Review of Social Economy, DOI: 10.1080/00346764.2019.1664758
  112. ^ Glivenko, V. (1935). Der Differentialbegriff bei Marx und Hadamard. Unter dem Banner des Marxismus, 102–110.
  113. ^ Kennedy, H. (1977). Karl Marx and the foundations of differential calculus. Historia Mathematica, 4, 303–318.
  114. ^ Peter Singer (2000). Marx a very short introduction. Đại học Oxford. tr. 5. ISBN 0-19-285405-4.
  115. ^ Lafargue, Paul (1972). Viện Marx–Engels–Lenin (biên tập). Reminiscences of Marx (September 1890). Progress Publishers. He was a loving, gentle and indulgent father. [...] There was never even a trace of the bossy parent in his relations with his daughters, whose love for him was extraordinary. He never gave them an order, but asked them to do what he wished as a favour or made them feel that they should not do what he wanted to forbid them. And yet a father could seldom have had more docile children than he.
  116. ^ Montefiore, Simon Sebag (23 tháng 9 năm 2011). “The Means of Reproduction”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2011.
  117. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Karl Marx
  118. ^ Carver, Terrell (1991). “Reading Marx: Life and Works”. Trong Carver, Terrell (biên tập). The Cambridge Companion to Marx. Cambridge, Vương quốc Anh: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr. 11. ISBN 978-0-521-36694-6. this [claim] is not well founded on the documentary materials available
  119. ^ a b c d e f Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Calhoun2002-20-23
  120. ^ a b c d Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Sherman1995
  121. ^ Chattopadhyay, Paresh (2016). Marx's Associated Mode of Production: A Critique of Marxism. Springer. tr. 39–41.
  122. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Beilharz1992
  123. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Clark1998
  124. ^ Eagleton, Terry. Why Marx Was Right. NXB Đại học Yale, 2011, tr. 158
  125. ^ Seigel, Jerrold Marx's Fate. NXB Đại học Princeton, 1978, tr. 112–19
  126. ^ Neocleous, Mark. “The Political Economy of the Dead: Marx's Vampires” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013.
  127. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Bannerji2001
  128. ^ “Karl Marx:Critique of the Gotha Programme”.
  129. ^ "Bạn biết rằng các định chế, tập tục, và các truyền thống của nhiều quốc gia khác nhau phải được xem xét tới, và chúng ta không bác bỏ rằng có các quốc gia -- như Mỹ, Anh, và nếu tôi quen thuộc hơn với các định chế của bạn, tôi có lẽ sẽ thêm cả Hà Lan -- nơi những người công nhân có thể đạt tới mục đích của mình bằng các phương tiện hoà bình. Nếu đó là trường hợp, chúng ta cũng phải công nhận thực tế rằng tại hầu hết các quốc gia trên Lục địa đòn bẩy cuộc cách mạng của chúng ta phải là bạo lực; chính bạo lực là cái mà một ngày chúng ta sẽ phải viện dẫn tới để dựng lên quyền cai trị của người lao động." La Liberté Speech được Karl Marx đọc ngày 8 tháng 9 năm 1872, tại Amsterdam
  130. ^ Karl Marx & Frederick Engels, Collected Works Volume 46 (International Publishers: New York, 1992) p. 71.
  131. ^ Ibid. p. 72.
  132. ^ a b Ibid.
  133. ^ "Notes for the Study of the Ideology of the Cuban Revolution" của Che Guevara, 8 tháng 10 năm 1960
  134. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cacmac1
  135. ^ McLellan 1973, p. 443
  136. ^ Theo Thư Enghen gửi Becnơstainơ (E. Bernstein) 2 - 3.11.1882, và thư Enghen gửi Xmit 5.8.1890, "Mac - Enghen toàn tập", tiếng Đức, tập 35, trang 388, 436, Marx thường nói "tôi không phải là macxit".
  137. ^ "Chúng tôi đã luôn tuyên bố và nhắc lại sự thực cơ bản này của chủ nghĩa Marx, rằng thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đòi hỏi sự chung sức của công nhân tại một số quốc gia phát triển" (Lenin, Sochineniya (Works), 5th ed Vol XLIV p418, tháng 2 năm 1922. Stalin cũng có quan điểm tương tự cho tới khi Lenin mất).
  138. ^ V.I.Lênin: Toàn tập, Nhà xuất bản TB, M 1980, tập 23, trang 1.
  139. ^ Vào ngày sau cuộc cách mạng Nga tháng 10 năm 1917, một cuộc họp của Xô viết Petrograd đã thông qua nghị quyết của Lenin với kết luận: "Xô viết tin tưởng rằng giai cấp vô sản tại các quốc gia Tây Âu sẽ giúp chúng ta hoàn thành một thắng lợi hoàn toàn và vĩnh viễn cho lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản." Lenin đã nhắc lại điều này trong tuyên bố ngày 5 tháng 1917 Với Nhân dân kết luận rằng thắng lợi của chủ nghĩa xã hội "sẽ được hoàn thành bởi những công nhân tiên tiến tại những quốc gia văn minh nhất", và đã tiếp tục nhắc lại điều đó trong suốt cuộc đời mình.
  140. ^ Trotsky gọi đây là "sự thoái trào" của cách mạng Nga trong cuốn Cuộc cách mạng bị phản bội của mình, bởi sự thiếu hụt các điều kiện vật chất căn bản cho sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội tại một quốc gia lạc hậu và bị cô lập.
  141. ^ Marx after communism, The Economist Newspaper, Dec 19th 2002
  142. ^ Wheen, Francis (17 tháng 7 năm 2005). "Why Marx is man of the moment". The Observer.
  143. ^ “Các-Mác, 187 năm nhìn lại... - Quốc tế - VietNamNet”. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2005.
  144. ^ Karl Max là tác giả của cuốn sách kinh tế được nghiên cứu nhiều nhất tại các trường đại học ở Mỹ, cafef.vn, 15-08-2016
  145. ^ Ludwig Von Mises. "Socialism: An Economic and Sociological Analysis" 2nd Ed. Trans. J. Kahane. New Haven: Yale University Press, 1951. tr. 111 – 222
  146. ^ John Maynard Keynes. The End Of Laissez-Faire.
  147. ^ John Maynard Keynes. Essays in Persuasion. W. W. Norton & Company. 1991. tr. 300 ISBN 978-0-393-00190-7
  148. ^ Inglehart, Ronald (1990). "The Diminishing Marginal Unity of Economic Determinism: The Decline of Marxism" in Culture shift in advanced industrial society. Princeton University Press. ISBN 978-0-691-02296-3.
  149. ^ The Rise and Fall of Socialism. Joshua Muravchik Posted: Saturday, ngày 1 tháng 1 năm 2000 American Enterprise Institute for Public Policy Research.
  150. ^ The Future Did Not Work by J. Arch Getty, Book Review of The Passing of an Illusion by Franois Furet [March 2000 Atlantic Monthly]
  151. ^ Popper, Karl (2003). The Open Society and Its Enemies – Volume Two: Hegel and Marx. Routlidge Classics. ISBN 0-415-27842-2.
  152. ^ Rothbard, Murray (1995). An Austrian Perspective on the History of Economic Thought – Volume Two: Classical Economics. Edward Elgar Publishing Ltd. tr. 373. ISBN 0-945466-48-X.
  153. ^ Marx, K. A Contribution to the Critique of Political Economy. Progress Publishers, Moscow, 1977,
  154. ^ Leonard D. Katz Rigby (2000). Evolutionary Origins of Morality: Cross-disciplinary Perspectives. United kingdom: Imprint Academic page = 158. tr. 352. ISBN 0719056128. line feed character trong |author= tại ký tự số 16 (trợ giúp); Thiếu dấu sổ thẳng trong: |publisher= (trợ giúp)
  155. ^ “Bacunin (1814 – 1876”. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2010.
  156. ^ Newman, Saul (2001). From Bakunin to Lacan: anti-authoritarianism and the dislocation of power. Lexington Books. ch. 1 "Marxism and the Problem of Power". ISBN 978-0-7391-0240-4
  157. ^ Jacobs, Jack (2005). “Marx, Karl (1818-1883)”. Trong Levy, Richard S. (biên tập). Antisemitism: A Historical Encyclopedia of Prejudice and Persecution. Santa Barbara, CA: ABC-CLIO. tr. 446 – 447. ISBN 1851094393.
  158. ^ Lewis, Bernard (1999). Semites and Anti-Semites: An Inquiry into Conflict and Prejudice. New York: W. W. Norton & Company. tr. 112. ISBN 0393318397.
  159. ^ Flannery, Edward H. (2004). The Anguish of the Jews: Twenty-Three Centuries of Antisemitism. Mahwah, NY: Paulist Press. tr. 168. ISBN 0809127024.
  160. ^ Marvin Perry & Schweitzer, Frederick M. (2005). Antisemitism: Myth and Hate from Antiquity to the Present. New York: Palgrave. tr. 154–157. ISBN 0312165617.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)
  161. ^ Stav, Arieh (2003). “Israeli Anti-Semitism”. Trong Sharan, Shlomo (biên tập). Israel and the Post-Zionists: A Nation at Risk. Brighton: Sussex Academic Press. tr. 171. ISBN 1903900522. Hitler simply copied Marx's own anti-Semitism.
  162. ^ Theo Joshua Muravchik, nhà khoa học chính trị tại Viện Doanh nghiệp Mỹ, lòng mong mỏi của Marx về "sự giải phóng xã hội khỏi chủ nghĩa Do Thái" bởi "tinh thần thực tế Do Thái" của "sự vụ lợi" đã có ở các quốc gia Thiên chúa giáo không khác xa so với chương trình hai bốn điểm của Phát xít: "chiến đấu với tinh thần duy vật Do Thái bên trong và bên ngoài chúng ta" để "quốc gia của chúng ta có thể [...] có được sự vững mạnh lâu bền." Xem Muravchik, Joshua (2003). Heaven on Earth: The Rise and Fall of Socialism. San Francisco: Encounter Books. tr. 164. ISBN 1893554457.
  163. ^ Lindemann, Albert S. Modern Anti-Semitism and the Rise of the Jews. Cambridge University Press, 2000. ISBN 0-521-79538-9, ISBN 978-0-521-79538-8. p. 166.
  164. ^ Maccoby, Hyam (2006). Antisemitism and Modernity: Innovation and Continuity. London: Routledge. tr. 64 – 66. ISBN 041531173X.
  165. ^ On The Jewish Question by Karl Marx
  166. ^ Iain Hampsher-Monk, A History of Modern Political Thought (1992), Blackwell Publishing, p. 496
  167. ^ Wheen, F., Karl Marx, p. 56
  168. ^ McLellan 1980, p.142
  169. ^ Sacks, Jonathan (1997). The Politics of Hope. London: Jonathan Cape. tr. 98–108. ISBN 9780224043298.

Dẫn nguồnSửa đổi

Đọc thêmSửa đổi

Tiểu sửSửa đổi

Bình phẩm về MarxSửa đổi

  • Althusser, Louis. For Marx. London: Verso, 2005.
  • Althusser, Louis và Balibar, Étienne. Lire le Capital [Đọc cuốn Tư bản]. London: Verso, 2009.
  • Attali, Jacques. Karl Marx or the thought of the world [Karl Marx hay tư tưởng của thế giới]. 2005
  • Avineri, Shlomo. The Social and Political Thought of Karl Marx [Tư tưởng xã hội và chính trị của Karl Marx] (NXB Đại học Cambridge, 1968) ISBN 0-521-09619-7
  • Avineri, Shlomo. Karl Marx: Philosophy and Revolution [Karl Marx: Triết học và Cách mạng] (NXB Đại học Yale, 2019) ISBN 978-0-300-21170-2
  • Axelos, Kostas. Alienation, Praxis, and Techne in the Thought of Karl Marx (dịch sang tiếng Anh bởi Ronald Bruzina, NXB Đại học Texas, 1976).
  • Blackledge, Paul. Reflections on the Marxist Theory of History [Suy ngẫm về thuyết lịch sử Mác-xít] (NXB Đại học Manchester, 2006)
  • Blackledge, Paul. Marxism and Ethics [Chủ nghĩa Mác và luân lý học] (NXB SUNY, 2012)
  • Bottomore, Tom, (chủ biên) A Dictionary of Marxist Thought [Từ điển tư tưởng Mác-xít]. Oxford: Blackwell, 1998.
  • Callinicos, Alex (2010) [1983]. The Revolutionary Ideas of Karl Marx. Bloomsbury, London: Bookmarks. ISBN 978-1-905192-68-7.
  • Cleaver, Harry. Reading Capital Politically (AK Press, 2000)
  • G.A. Cohen. Karl Marx's Theory of History: A Defence (Princeton University Press, 1978) ISBN 0-691-07068-7
  • Collier, Andrew. Marx (Oneworld, 2004)
  • Draper, Hal, Karl Marx's Theory of Revolution (4 tập) Monthly Review Press
  • Duncan, Ronald và Wilson, Colin. (biên tập) Marx Refuted, (Bath, UK, 1987) ISBN 0-906798-71-X
  • Eagleton, Terry. Why Marx Was Right (New Haven & London: Yale University Press, 2011).
  • Fine, Ben. Marx's Capital. (ấn bản 5). London: Pluto, 2010.
  • Foster, John Bellamy. Marx's Ecology: Materialism and Nature. New York: Monthly Review Press, 2000.
  • Gould, Stephen Jay. A Darwinian Gentleman at Marx's Funeral – E. Ray Lankester, tr. 1, Find Articles.com (1999)
  • Harvey, David. A Companion to Marx's Capital. London: Verso, 2010.
  • Harvey, David. The Limits of Capital. London: Verso, 2006.
  • Henry, Michel. Marx IMarx II. 1976
  • Holt, Justin P. The Social Thought of Karl Marx. Sage, 2015.
  • Iggers, Georg G. "Historiography: From Scientific Objectivity to the Postmodern Challenge." (NXB Wesleyan University Press, 1997, 2005)
  • Kołakowski, Leszek. Main Currents of Marxism Oxford: Clarendon Press, OUP, 1978
  • Kurz, Robert. Read Marx: The most important texts of Karl Marx for the 21st Century (2000) ISBN 3-8218-1644-9
  • Little, Daniel. The Scientific Marx, (University of Minnesota Press, 1986) ISBN 0-8166-1505-5
  • Mandel, Ernest. Marxist Economic Theory. New York: Monthly Review Press, 1970.
  • Mandel, Ernest. The Formation of the Economic Thought of Karl Marx. New York: Monthly Review Press, 1977.
  • Mészáros, István. Marx's Theory of Alienation (The Merlin Press, 1970)
  • Miller, Richard W. Analyzing Marx: Morality, Power, and History. Princeton, N.J: Princeton University Press, 1984.
  • Postone, Moishe. Time, Labour, and Social Domination: A Reinterpretation of Marx's Critical Theory. Cambridge [England]: Cambridge University Press, 1993.
  • Rothbard, Murray. An Austrian Perspective on the History of Economic Thought Volume II: Classical Economics (Edward Elgar Publishing Ltd., 1995) ISBN 0-945466-48-X
  • Saad-Filho, Alfredo. The Value of Marx: Political Economy for Contemporary Capitalism. London: Routledge, 2002.
  • Saito, Kohei. Karl Marx's Ecosocialism: Capital, Nature, and the Unfinished Critique of Political Economy, Monthly Review Press 2017.
  • Schmidt, Alfred. The Concept of Nature in Marx. London: NLB, 1971.
  • Seigel, J.E. (1973). “Marx's Early Development: Vocation, Rebellion and Realism”. The Journal of Interdisciplinary History. 3 (3): 475–508. doi:10.2307/202551. JSTOR 202551.
  • Seigel, Jerrold. Marx's fate: the shape of a life (Princeton University Press, 1978) ISBN 0-271-00935-7
  • Strathern, Paul. "Marx in 90 Minutes", (Ivan R. Dee, 2001)
  • Thomas, Paul. Karl Marx and the Anarchists. London: Routledge & Kegan Paul, 1980.
  • Uno, Kozo. Principles of Political Economy. Theory of a Purely Capitalist Society, Brighton, Sussex: Harvester; Atlantic Highlands, N.J.: Humanities, 1980.
  • Vianello, F. [1989], "Effective Demand and the Rate of Profits: Some Thoughts on Marx, Kalecki and Sraffa", in: Sebastiani, M. (ed.), Kalecki's Relevance Today, London, Macmillan, ISBN 978-0-312-02411-6.
  • Wendling, Amy. Karl Marx on Technology and Alienation (Palgrave Macmillan, 2009)
  • Wheen, Francis. Marx's Das Kapital, (Atlantic Books, 2006) ISBN 1-84354-400-8
  • Wilson, Edmund. To the Finland Station: A Study in the Writing and Acting of History, Garden City, NY: Doubleday, 1940

Tác phẩm giả tưởngSửa đổi

Nghiên cứu bệnh lýSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi