Mở trình đơn chính

Đông Phương, Đông Hưng

xã thuộc Đông Hưng

Đông Phương là một nằm ở phía Đông Bắc huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, Việt Nam.

Đông Phương

Hành chính
TỉnhThái Bình
HuyệnĐông Hưng
Địa lý
Tọa độ: 20°33′25″B 106°21′19″Đ / 20,55694°B 106,35528°Đ / 20.55694; 106.35528Tọa độ: 20°33′25″B 106°21′19″Đ / 20,55694°B 106,35528°Đ / 20.55694; 106.35528
Diện tích7,33 km²
Dân số (1999)
Tổng cộng8.598 người[1]
Khác
Mã hành chính12694[2]

Xã Đông Phương huyện Đông Hưng là miền đất có bề dày truyền thống cách mạng và văn hóa, là xã Nông thôn mới điển hình của tỉnh Thái Bình và cả nước, là xã Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Xã Đông Phương - một miền quê thanh bình, tươi đẹp nằm kề trục đường liên huyện 217, cách đường quốc lộ số 10 trên 2 km và thị trấn Đông Hưng 5 km về phía Tây Nam, cách Thành phố Thái Bình 18 km. Phía đông giáp xã Đông Cường huyện Đông Hưng và xã Đồng Tiến huyện Quỳnh Phụ; phía nam giáp xã Đông Xá huyện Đông Hưng; phía tây giáo xã Đông Sơn; phía bắc của xã nằm sát tả ngạn song Diêm và bên kia bờ đối ngạn là xã An Tràng huyện Quỳnh Phụ. 

Hiện nay, Đông Phương là xã loại 2 với diện tích đất tự nhiên 725 ha. Toàn xã hiện có có 3.031 hộ với 9.765 nhân khẩu, sinh sống tập trung ở 7 thôn. Đảng bộ xã có 338 đảng viên, sinh hoạt tại 13 chi bộ.

Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có địa hình tự nhiên tương đối bằng phẳng với độ cao 0,75m - 2m so với mực nước biển, độ cao trung bình là 0,98m, độ dốc nhỏ hớn 1%. Đất đai của xã Đông Phương chủ yếu là đất phù sa hình thành trong quá trình bồi tụ của sông Diêm Hộ và sông Tiên Hưng.

Diện tích và dân sốSửa đổi

Xã Đông Phương có diện tích 7,31 km²[1]. Theo số liệu mới nhất (truyền hình Thái Bình), xã Đông Phương có số dân 9850 người, được chia làm 7 thôn: thôn Nam, thôn Trung, thôn Đông, thôn Thượng, thôn Đại Phú, thôn Trần Phú và thôn Bình Minh.

Địa giới hành chínhSửa đổi

Xã Đông Phương nằm ở phía đông bắc của huyện Đông Hưng.

Lịch sử hình thành[3]Sửa đổi

Các công trình nghiên cứu về văn hóa, khảo cổ và lịch sử đều chỉ ra rằng, vùng đất thuộc huyện Quỳnh Phụ, Hưng Hà và phía Bắc huyện Đông Hưng ngày nay, trong đó có Đông Phương đã có lịch sử hình thành và phát triển cách ngày nay trên 2.000 năm. Cách Đông Phương chỉ hơn 3 km, tại khu di chỉ khảo cổ tại xã Quỳnh Xá, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều di vật khảo cổ thuộc thời đại đồng thau (cách nay 2000 - 3000 năm).

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, tên làng xã là một căn cứ để xác định lịch sử của làng. Dựa vào tên gọi có thể phân ra “làng Việt cổ” và “làng Việt mới”. Làng Việt cổ có lịch sử hàng nghìn năm và thường có tên nôm. Mặt khác, mang đậm đặc điểm hình thành của các làng Việt cổ là các làng có thên gắn liền với chữ “Xá”, vì chữ “Xá” nghĩa là “nhà”, biểu thị rất rõ tính chất thị tộc và mối quan hệ huyết thống sâu sắc lúc tiền khởi ở những điểm cư trú xưa. Tới nay ở Thái Bình đã khảo cứu được 371 làng có tên nôm, hơn 40 làng có chữ “Xá”. Các nhà khoa học đã khẳng định hầu hết các làng có ký âm Nôm đã được hình thành từ thời Hùng Vương, các làng có chữ “Động”, “Xá” đều xuất hiện cách nay trên 2000 năm. Đông Phương có cả hai đặc điểm nhận dạng chính: làng có tên nôm (làng Vàng) và làng có tên tộc danh (Hoàng Xá, Lưu Xá).

Sách “Đất và người Thái Bình” chép: Theo thần tích miếu Thân Thượng, vào thời Hùng Vương thứ 6, con hổ do Nam Bồ nguyên súy (người Thân Thượng- Đông Cường) nuôi sau khi cắn nhầm chủ chết thường xuyên vào làng bắt lợn. Người làng Thân Thượng dùng cồng chiêng làm lệnh đuổi thì chạy sang làng Vàng. Lúc này làng Vàng có nhiều người giỏi võ, đuổi hổ chạy sang trại Sổ.

Chính từ những căn cứ này cùng các tư liệu chính sử ghi lại ngay từ những năm đầu công nguyên, đất Đông Phương thuộc vùng đất đất Tây Quan đã có nhiều dân cư sinh sống và năm 40, nữ tướng Lê Thị Cố đã tập hợp nhân dân làng Vàng và các làng quanh vùng tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng nên làng Vàng (Đông Phương) được xếp là một trong 78 “làng Việt cổ” của huyện Đông Hưng đã được định hình các nay trên 2000 năm.

Tên cổ xưa nhất của làng Vàng là làng Viềng với các dấu tích như: đò Viềng, chợ Viềng, miếu Viềng gắn liền với đời sống dân cư. Tới khi vùng bãi sông Diêm được hình thành, làng Viềng trở nên sầm uất, trù phú, thường gọi là bãi Bạc, làng Vàng. Từ đấy có tên làng Vàng, sau tách thành Vàng trên và Vàng dưới. Vàng trên sau gọi là xã Hoàng Quan, Vàng dưới gọi là xã Hoàng Xá. Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi viết năm 1435 và sách Hồng Đức bản đồ viết năm 1490 đã có tên xã Hoàng Quan và Hoàng Xá. 

Theo truyền thuyết, đất phía Bắc huyện Đông Hưng ngày nay thủa xa xưa vốn là vùng đầm lầy, sú vẹt mọc dày đặc như rừng. Tuy nhiên, vùng đất này cũng lại có nhiều gò cao. Những thế hệ dân cư đầu tiên của Đông Phương đã sinh sống trên những gò cao này. Thần phả làng Phương Mai xã Đông Cường ngay cạnh xã Đông Phương ghi: “Ngày ấy, đã lâu lắm rồi, khi bãi biển còn hoang vu, cồn lau, bãi sú chưa có người khai phá, vùng đất này xưa chỉ có vài mái cỏ, dân sống bằng nghề bắt cá là chính, còn việc gieo lúa, vãi bắp mới chỉ làm nhất thời trên một số gò cao, bãi cạn, cuộc đời khi ấy còn lam lũ vất vả, thiếu thốn đủ điều...”. 

Cư dân tới vùng đất Đông Phương ngày nay với nhiều lý do. Có người do các cuộc chiến tranh cát cứ hoặc những xung đột của nội bộ làng xã phải rời đến đây. Có người là những nạn nhân đi lánh nạn đến đây nhưng do sự cản trở của sông nước, sự hoang dã của vùng đất mới ven biển đã trụ lại làm ăn sinh sống và sinh cơ lập nghiệp, song trong đó cũng có những người cầm quân, những binh lính chiến thắng vì cảm mếm miền đất này đã ở lại định cư. Cũng có thể họ là những người thợ thủ công, buôn bán đánh cá biển từ nhiều ngả, nhiều xứ xuôi ngược dòng sông Diêm tìm đến đất Đông Phương. Tuy nhiên, cũng phải đến thời Lý, khi triều đình tăng cường trị thủy, hệ thống đê điều bắt đầu được hình thành, người dân từ các nơi mới về vùng đất Đông Phương mới bắt đầu đông đúc, làng xóm mới định hình ổn định.

Tới nay các dòng họ ở Đông Phương không ai được biết ông thủy tổ của dòng họ mình từ đâu tới. Những căn cứ vào thân tích đền Rồi Công (An Tràng) và Đình Lưu (Đông Phương) và qua một số cụ cao tuổi ở địa phương truyền lại thì phần đông các dòng họ ở Đông Phương ngày nay đều từ trung du, miền núi phía Bắc xuống như Phú Thọ, Vĩnh Phúc hoặc từ miêng Trung ra như Nghệ An – Hà Tĩnh ra hay ở các tỉnh lân cận chuyển sang. 

Chọn định cư, khai phá trên vùng đất mới tuy màu mỡ, phì nhiêu, lắm tôm, nhiều cá nhưng cơ bản vẫn là vùng đất trũng, mùa mưa nước ngập trắng đồng, ngập hết lối đi, chỉ còn lại những nơi đất cao nên các thế hệ người dân Đông Phương đã phải khai hoang, phục hóa, thau chua, rửa mặn, làm thủy lợi tiêu úng, chống hạn để canh tác; phải quật đất tạo nền cao xây dựng nhà cửa, đắp đường và xây dựng xóm làng nên ngày nay Đông Phương vẫn còn rất nhiều ao hồ xen kẽ trong các khu dân cư. Ở Đông Phương tới ngày nay vẫn còn dấu tích cánh đồng Dầm với hàng chục ha nằm giữa địa phận giáp giới xã Đông Cường. Đây là những minh chứng cho quá trình cải tạo, xây dựng làng xóm vất vả, khó khăn của người dân Đông Phương. 

Về tên gọi của mảnh đất Hoa Nam ngày nay qua các thời kỳ, giai đoạn lịch sử: Theo cuốn “Địa danh Thái Bình xưa và nay” và cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Đông Hưng” cho thấy: Thời kỳ Bắc thuộc, nửa đầu thiên niên kỷ I, Đông Phương thuộc vùng Tây Quan huyện Chân Định; nửa sau thiên niên kỷ I, thuộc huyện Chu Diên. Đến đời Khúc Hạo làm tiết độ sứ (907- 917), Đông Phương thuộc Châu Đằng (còn gọi là Đằng Châu). 

Thời Lý (1010 - 1225) và thời Trần (1225 - 1400), Đông Phương thuộc huyện Tây Quan, lộ An Tiêm (Lộ An Tiêm gồm 4 huyện: A Côi, Đa Dực, Thái Bình (Thụy Anh) và Tây Quan). 

Thời thuộc Minh, năm Vĩnh Lạc thứ 13 (1415) huyện Tây Quan nhập vào huyện Thái Bình, vùng đất Đông Phương lúc này thuộc huyện Thái Bình phủ Tân An sau là phủ Trấn Man. 

Thời Lê, đời Lê Thái Tổ (1428-1433) lập lại huyện cũ Tây Quan. Thời Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 10 (1469), đổi huyện Tây Quan thành huyện Đông Quan, lấy đất lộ An Tiêm thời Trần lập phủ Thái Bình. Xã Đông Phương ngày nay khi đó là 2 xã Hoàng Quan và Hoàng Xá thuộc tổng Hoàng Quan huyện Đông Quan, phủ Thái Bình, thừa tuyên Sơn Nam. (Tổng Hoàng Quan khi đó có 7 xã: Hoàng Quan, Hoàng Xá, Lệ Bảo, Cổ Tiết, Đồng Kỷ, An Vị, Điều Thượng).

Đến thời Nguyễn (1802), đất Đông Phương thuộc tổng Hoàng Quan huyện Đông Quan, phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam Hạ. Đến năm Minh Mệnh thứ ba (1822) đổi gọi trấn Sơn Nam Hạ là trấn Nam Định. Năm Minh Mệnh 12 (1831), nhà Nguyễn chia đất nước làm 31 tỉnh, Đông Phương thuộc huyện Đông Quan phủ Thái Bình tỉnh Nam Định.

Ngày 21/3/1890, tỉnh Thái Bình được thành lập, Đông Phương thuộc tổng Hoàng Quan được đổi gọi tổng Phương Quan huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình. Tổng Phương Quan vẫn gồm 7 xã như cũng từ đây, xã Hoàng Quan được đổi thành xã Phương Quan, xã Hoàng Xá đổi thành xã Phương Xá, xã Điều Thượng đổi thành Thân Thượng. 

Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, ngày 10/4/1946, Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định bỏ đơn vị tổng, đổi phủ thành huyện. 

Tháng 01/1947 thực hiện quyết định thành lập liên xã của tỉnh, 8 thôn: Phương Quan, Phương Xá, Cổ Tuyết, An Vị, Đồng Cừ, Đồng Kỷ, Lệ Bảo, Thân Thượng được sáp nhập làm một với tên gọi là xã Liên Phương.

Năm 1949, cắt thôn Thân Thượng về xã Bắc Bình, thôn Cổ Tuyết về xã An Vinh. Lúc này xã Liên Phương huyện Đông Quan còn lại các thôn: Phương Quan, Phương Xá, Rồi Công, An Vị, Đồng Cừ, Đồng Kỷ, Lệ Bảo (Rồi Công trước đây là xóm thuộc thôn Phương Xá).

Tháng 4/1956 thực hiện chủ trương của tỉnh và huyện, xã Liên Phương được chia làm 2 xã Đông Phương và Đông Hải. Tên xã Đông Phương chính thức có từ đây với 3 thôn: Phương Quan, Phương Xá và Rồi Công thuộc huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình.

Năm 1961, để tiện cho chỉ đạo sản xuất và sinh hoạt, Rồi Công trong gồm 3 xóm Tân An, Thái Học và An Ninh chuyển về xã An Tràng. Từ Đây Đông Phương chính thức còn 2 thôn Phương Quan và Phương Xá.

Năm 1969, huyện Đông Quan và huyện Tiên Hưng sáp nhập thành huyện Đông Hưng, từ đó đến nay, Đông Phương thuộc huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Đầu năm 1973, khi xây dựng thành công hợp tác xã nông nghiệp toàn xã, Đông Phương được chia làm 23 đội sản xuất. Năm 1990, Đông Phương chia làm 23 xóm (từ xóm 1 - 23).

Năm 2003, sau khi tổ chức lại thôn làng, Đông Phương có 7 thôn. Làng Phương Xá chia làm 4 thôn: Trung, Đông, Nam, Thượng. Làng Phương Quan chia làm 3 thôn: Bình Minh, Đại Phúc, Trần Phú.

Văn hóa[4]Sửa đổi

Theo cuốn “Nhận diện văn hóa làng Thái Bình - Nguyễn Thanh- Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội - 2010”, Hoàng Xá và Hoàng Quan là 2 trong tổng số 25 làng của huyện Đông Hưng xưa được xếp vào danh sách những “Làng văn hóa, văn hiến tiêu biểu của Thái Bình”.

Trải qua các triều đại phong kiến, toàn huyện Đông Hưng có 13 vị đỗ đại khoa trong đó Đông Phương có hai vị. Đặc biệt, họ Phạm ở Đông Phương từ xưa đã có nhiều người hiển đạt khoa danh, nổi tiến là dòng họ hiếu học ở Thái Bình, tiêu biểu là Tiến sĩ Phạm Công Huân.

Phạm Công Huân vốn tên là Phạm Quang Huân, khi đi thi đổi tên là Công Huân. Ông sinh năm 1651 tại xã Hoàng Xá tổng Hoàng Quan huyện Đông Quan. Sử chép rằng, qua nhiều đời, dòng dõi họ Phạm ở Hoàng Xá đã từng làm quan trong triều, ngoài trấn. Cha Phạm Quang Huân là Phạm Phúc Độ cũng đỗ Tam Trường và làm quan tới hàm Đại phu. Phạm Quang Huân nổi tiếng thông minh và ham học. Năm 46 tuổi ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Sửu đời Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa thứ 18 (1697). Phạm Công Huân lần lượt giữ chức Đốc đồng Hải Đông, sau chuyển làm Đốc trấn An Bang. Ông được đánh giá là một vị quan thanh liêm, chính trực, hết lòng lo cho dân, chăm lo sản xuất, giảm bớt phu phen tạp dịch. Dân trong vùng rất biết ơn ông. Vùng đất ông cai quản không có tệ tham nhũng, ức hiếp dân; suốt giải duyên hải không có cướp biển, miền núi không có phỉ, dân sống yên ổn. Vua Lê Hy Tông nhận xét: “Phạm quả là người hiền lương đáng được cất nhắc song đảm đương một vùng đông bắc liệu trọng thần các bộ đã mấy ai lo được”. Vì vậy, tuy ông chỉ ở chức Đốc trấn nhưng được phong tước Vĩnh Lộc đại phu, được bàn việc nước. Năm 67 tuổi, ông xin về nghỉ hưu, sau mất tại quê nhà làng Hoàng Xá. Đền thờ ông nay vẫn còn.

Cháu ngoại của Phạm Công Huân là Phạm Công Thế sinh năm 1702. Tại khoa thi Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái thứ 8 (1727), ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khi mới 25 tuổi.

Phạm Công Thế xã Hoàng Xá tổng Hoàng Quan vốn gốc họ Nguyễn ở xã Phúc Khê huyện Thanh Lan nay là xã Thái Phúc (Thái Thụy). Ông được ông ngoại là Tiến sĩ Phạm Công Huân nuôi dạy từ nhỏ. Khi đi thi lấy họ mẹ nên có tên là Phạm Công Thế.

Sau khi thi đỗ, ông được bổ nhiệm giữ chức Đông các hiệu thư ở Viện Hàn lâm. Năm Mậu Ngọ (1738), phẫn nộ trước việc chúa Trịnh Giang lấn át vua Lê, phế vua này lập vua khác, xã hội bất ổn, nhân dân lầm than, ông đã cùng một số đại thần trong triều phò các hoàng thân Lê Duy Mật, Lê Duy Chúc... nổi dậy mưu đốt kinh thành. Sự việc bại lộ, một số người chạy ra ngoài thành tiếp tục khởi nghĩa, một số bị bắt trong đó có Phạm Công Thế. Trước khi bị giết, một số quan đại thần trong triều có người quở trách: “Nhà ngươi là người trong khoa giáp làm sao lại đi theo bọn phản nghịch”. Trước những lời nhạo báng đó, Phạm Thế Công chỉ cười mà nói: “Danh phận không sáng tỏ từ lâu rồi, còn phân biệt thế nào là thuận với nghịch được nữa”. Sau đó ông đã vươn cổ chịu chém không một chút nao núng. Để ghi nhớ công lao của ông, hiện nay từ đường Phạm Công Thế vẫn còn lưu giữ tại xã Đông Phương.

Ngoài các vị đỗ đại khoa, trong thời phong kiến, Đông Phương còn có cụ Tú Tưởng đỗ tú tài, cụ Nhất Hương đỗ nhất trường cùng hằng chục cụ đỗ khóa sinh. Nối tiếp truyền thống của quê hương, trong thời đại mới, nhiều người con Đông Phương đã nỗ lực vượt khó, đỗ đạt thành danh, đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng, có nhiều đóng góp cho đất nước.

Đông Phương xưa còn nổi tiếng là vùng quê lưu giữ những giá trị văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc, tiêu biểu hát ca trù và hát chèo. 

Hát ca trù tiền thân là ả đào bởi nghệ nhân là nữ. Cho đến nay, các sách về văn hóa dân gian vẫn xác định bà Đào Nương làng Vàng (Đông Phương) là nghệ nhân đầu tiên được biết đến của nghệ thuật ca trù. Không ai biết tên thật của bà Đào Nương mà chỉ gọi bà theo cái tên nghề nghiệp: Có người gọi là bà Đầu, có người gọi là bà Đào theo nghĩa đào hát hoặc hát ả đào. Truyền thuyết kể rằng, làng Vàng xưa đồng ruộng còn hoang hóa, bà về khuyến dân cày cấy, có công đào hai con ngòi dẫn nước vào đồng, một từ bến Vàng vào làng, một từ sông Diêm vào quán Bán. Khi làng xóm đã đông đúc, đồng ruộng đã tốt tươi bà lại dạy dân hát ả đào, hát chèo. Một lần quân triều về làng (xưa làng Vàng có đường ngự giá, đồng quân) bà đã hát trong quân. 

Vào một ngày, hôm ấy là 15/4 bà lội xuống giếng rồi biến mất. Khi dân làng đến chỉ còn thấy chữ bà ghi lại trên thành giếng: “Vũ mao biến hoá nguyệt trung thiên- Phảng phất nghê đình phi ngọc điện” (Nghĩa là người con gái đẹp đã về chốn cung trăng ở giữa trời. Điệu múa, tiếng ca, tiếng nhạc chỉ còn thấy ở nơi thờ cúng.) 

Sau khi bà mất, bà đã hiển linh nên dân làng lập đền thờ và tôn bà là thành hoàng. Các triều sau đều có sắc phong thần cho bà, bà được gọi là “Cầm bà thi nữ” (người đàn bà đàn ngọt hát hay), phong bà làm thượng đẳng thần.

Từ ngày bà mất, hàng năm dân làng thường mở hội từ 15 đến 20/4. Hội làng bao giờ cũng có hát chèo, hát ca trù. Riêng tối 15/4 (ngày bà mất), các đào, kép, các gánh hát phải về lễ, lễ xong thì hát, diễn. Khi được giao vai diễn “con hát” phải vào lễ thánh, xin âm dương, nếu được thánh ưng chuẩn mới được nhập vai, được diễn. Lời giáo trò bao giờ cũng có câu:

“Thanh thanh văn vật đất Hoàng Quan (tên tổng, xã thời Lê)

Người thì đã đẹp cảnh lại thanh

Người đã đẹp, đẹp thêm thanh sắc

Ba miếu hai đình phụng sự tối anh linh”.

Từ xưa, Đông Phương đã là đất ca hát. Các tiết mục ca trù, chèo, tuồng một thời đã là món ăn tinh thần quan trọng của người dân trong xã. Dân làng Hoàng Quan còn nhớ làng từng có gánh hát Chánh hội Nho, Nguyễn Như Đồi, Nguyễn Hữu Còm. Người hát nhà tơ nổi tiếng đẹp người, đàn hay hát giỏi có bà Hoàng Thị Nhẫn, từng đi hát tứ xứ. Thời Đinh, vua Đinh Tiên Hoàng đã về làng Vàng và thăm đền. Xưa bà Đào Nương còn được thờ ở đền Bách thần của phủ Thái Ninh (phủ Châu Giang).

Truyền thống văn hóa của mảnh đất, con người Đông Phương còn được thể hiện đậm nét qua các lễ nghi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo và các sinh hoạt động đồng.

Hiện nay, ở Đông Phương có hai tôn giáo là Phật giáo và Thiên chúa giáo. Đạo Phật theo hệ phái Bắc tông đã được du nhập vào vùng đất Đông Phương cùng với quá trình hội cư, lập xóm dựng làng. Xã Đông Phương hiện có 4 chùa gồm: Chùa Hầu, chùa Vực, chùa Linh Sơn và chùa Phúc Lộc.

Từ thế kỷ XVIII, đạo Thiên chúa được du nhập vào Đông Phương. Hiện nay, toàn xã có 1180 giáo dân thuộc 295 hộ gia đình, chiếm 12,1% dân số trong xã. Giáo dân sinh hoạt tôn giáo ở giáo xứ Phương Xá, giáo họ Phương Quan (thuộc giáo xứ Phương Xá) và có 01 dòng tu Đa Minh.

Về tín ngưỡng: Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng lâu đời nhất của người dân Đông Phương, được bắt nguồn từ niềm tin của người dân rằng tổ tiên linh thiêng tuy đã đi về thế giới bên kia nhưng vẫn sống cạnh, phù hộ cho con cháu. Ở Đông Phương, hầu hết các gia đình đều có bàn thờ gia tiên đặt ở nơi trang trọng nhất trong ngôi nhà của mình. 13 dòng họ, chi họ đã xây dựng được từ đường, nhà thờ họ. Đây là tục lệ tốt đẹp, là biểu hiện của lòng hiếu thảo, biết ơn, tưởng nhớ công ơn sinh thành, dưỡng dục của tiền nhân, nhớ đến cội nguồn... Gắn với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nhiều dòng họ đã ghi gia phả dòng họ và ngày giỗ tổ của dòng họ đã trở thành dịp để con cháu trong dòng tộc sum họp, củng cố mối quan hệ thân tộc. 

Các làng trong xã còn có tục thờ Thành hoàng - thần hộ mệnh của cộng đồng làng xã. Tục thờ Thành hoàng ở Đông Phương đã có từ lâu, các vị thần được thờ chủ yếu là nhân thần có công với làng với nước. Các vị thần được thờ ở 4 đình, đền: Đình Lưu, đền đá Quốc Tuấn, đền Thượng và đền thờ hai chúa tại khu vực chùa Hầu. Trong đó Đình Lưu đã được công nhận là Di tích lịch sử Văn hoá quốc gia. Đền đá Quốc Tuấn và đền Thượng được công nhận là Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Hằng năm tại các khu di tích đều mở lễ hội truyền thống với nhiều nghi thức cúng tế cổ truyền và nhiều trò chơi dân gian đặc sắc.

Lịch sử đấu tranhSửa đổi

ĐÔNG PHƯƠNG TRONG KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNGSửa đổi

Trang sử chống ngoại xâm của nhân dân Đông Phương được mở ra từ những năm đầu công nguyên. Đông Phương khi đó thuộc vùng đất Tây Quan, nằm ở phía Nam huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ. Trong thời Bắc thuộc, nhân dân Đông Phương đã thể hiện tinh thần yêu nước bất khuất, kiên cường, chống lại sự xâm lược và âm mưu nô lệ, đồng hoá của nhà Hán.

Cũng giống các nơi khác, người dân Đông Phương phải sống trong cực khổ bần hàn do chính sách cai trị tàn bạo của nhà Hán và âm mưu đồng hoá dân tộc của chúng, nên khi Bà Trưng hiệu triệu thì những người dân Đông Phương đã đứng lên chống Hán (từ năm 40 đến năm 43), mở đầu cho truyền thống yêu nước, sẵn sàng chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương, đất nước của nhân dân Đông Phương Anh hùng.

Khi hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa năm 40, ở mảnh đất Đông Phương, Đông Cường ngày nay đã trở thành trung tâm thu hút đông đảo nhân dân trong vùng trở về tụ nghĩa, quyết tâm đánh giặc đền nợ nước, trả thù nhà.

Khi đó, Bà Lê Thị Cố (? - 43) là con ông Lê Phụ, quê gốc Phong Châu (tỉnh Phú Thọ), Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông đã về làng Vàng làm nghề dạy học và bốc thuốc. Khi hai bà Trưng khởi nghĩa, bà xin phép cha cho về Phong Châu ứng nghĩa, được Trưng Trắc tin dùng, giao cho trở về quê tập hợp quân nghĩa dũng, bà đã biến lớp học chữ của cha thành lớp luyện võ nghệ và xây dựng căn cứ chống giặc Hán ngay trên mảnh đất quê hương. Rất đông nhân dân trong vùng Tây Quan (Đông Quan sau nay) không kể nam nữ đã tập hợp dưới trướng của bà. 

Năm Canh Tý (40), Bà Lê Thị Cố hội quân Tây Quan ở sông Hát, rồi cùng tiến đánh Luy Lâu. Thái Thú Tô Định bỏ chạy. Bà Trưng xưng Vương. Lê Thị Cố được phong chức Tây Quan tướng quân và lại về quê trấn giữ vùng Tây Quan. Năm Nhâm Dần (43), giặc Hán trở lại xâm lược nước ta. Tại Hát Giang, xảy ra một trận tử chiến, thế cùng, lực kiệt, Hai Bà Trưng nhảy xuống sông tuẫn tiết. Tướng quân Lê Thị Cố báy lạy hồn vua rồi đưa các nghĩa sỹ còn lại vượt Nhị Hà về Tây Quan. Lưu Long, phó tướng giặc truy đuổi quân Tây Quan về đến tận làng Vàng. Lê Thị Cố nói với các nghĩa sỹ: “Bất cam sinh mệnh tướng quân đầu” (làm tướng dù có đầu rơi máu chảy cũng không đầu hàng giặc”. Bà đã chiến đấu anh dũng đến khi trên người không còn một mảnh giáp che thân rồi anh dũng hi sinh. Nay dân Hoàng Quan (Đông Phương) và Hồng Phong (An Tràng- Quỳnh Phụ) vẫn còn đền thờ bà, tôn bà là “Nam Hải nữ nhân”, là “Tây Quan tướng quân”.

Bên cạnh Đông Phương, bên làng Phương Mai (Đông Cường) cũng có bốn anh em: Hiển, Ý, Túc, Thúy cũng tập hợp nhân dân cùng Hai Bà Trưng giải phóng châu thành Luy Lâu, đều được phong tước Vương, ban cho tiền của trở lại quê nhà khao thưởng cho quân sĩ và nhân dân.

Nối tiếp truyền thông do bà Lê Thị Cố là người khởi dựng, mỗi khi có giặc ngoại xâm, nhân dân Đông Phương lại sôi sục tinh thần chiến đấu, không tiếc máu xương, của cải, cùng với nhân dân trong cả nước làm nên những thắng lợi vẻ vang, góp phần giữ vững nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN ĐÔNG PHƯƠNG TIẾN TỚI KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 - 1945)Sửa đổi

Đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước chống Pháp theo khuynh hướng dân chủ tư sản lần lượt thất bại. Phong trào cách mạng Việt Nam lâm vào bế tắc và khủng hoảng nghiêm trọng về đường lối. Giữa lúc đó, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với lòng yêu nước nồng nàn và nhãn quan chính trị nhạy bén, sau nhiều năm bôn ba khắp các châu lục đã tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Đó là con đường cách mạng vô sản theo tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Cuối năm 1924, Người đã đến Quảng Châu - Trung Quốc, lập ra Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ cách mạng. Ngay tại lớp huấn luyện đầu tiên giữa năm 1925, Thái Bình có hai đồng chí tham dự là Nguyễn Công Thu và Nguyễn Danh Thọ. 

Sau nhiều nỗ lực vận động cách mạng, đầu năm 1927, tại thị xã Thái Bình, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Thái Bình được thành lập, gồm 11 đồng chí, trong đó Đông Hưng có 2 đồng chí là Nguyễn Văn Năng (Đông Phong) và Lương Duyên Hồi (Hồng Việt). Ngày 17/6/1929, Đông Dương Cộng sản Đảng đựơc thành lập, sau đó, đến đầu tháng 7/1929, liên chi bộ Đảng Cộng sản Thần Duyên (tiền thân của Đảng bộ Đông Hưng) được thành lập gồm 6 đảng viên. Ngày 03/02/1930, tại Cửu Long (Trung Quốc), đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một sự kiện chính trị trọng đại, một bước ngoặt lịch sử đối với cách mạng Việt Nam.

Dưới ánh sáng cách mạng của Đảng, ngày 1/5/1930 cuộc biểu tình của nông dân Tiên Hưng - Duyên Hà diễn ra. Tiếp đó, ngày 14/10/1930, tiếng trống đấu tranh của nông dân Tiền Hải đã vang lên, ảnh hưởng lớn, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh cách mạng của nông dân Thái Bình nói chung của nhân dân làng Phương Quan, Phương Xá nói riêng.

Ở Đông Phương, trước năm 1930 có đồng chí Hoàng Đức Tuân thường gọi là khóa Tuân làm công nhân tại nhà in báo Thực nghiệp. Được sự giúp đỡ của cậu tên là Mai Duy Lân - Chủ nhiệm tờ báo Thực nghiệp đoàn Hà Nội, đồng chí Hoàng Đức Tuân đã sớm được tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Năm 1930 ông đã được kết nạp vào Đảng. Qua thời gian hoạt động ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt và kết án giam tại nhà tù Hỏa Lò - Hà Nội cùng với các đồng chí Trần Cung, Nguyễn Văn Chi, Đào Văn Long, Trường Chinh, Lê Tuân, Nguyễn Tuấn… Sau ba năm mãn hạn đồng chí được ra tù trở về quê nhưng vẫn bị quản thúc. Mặc dù vậy đồng chí vẫn vận động một số người tham gia các phường hội để giáo dục và duy trì lòng yêu nước trong một số tầng lớp nhân dân.

Ngày 01/9/1939, chiến tranh thế giới lần thứ 2 chính thức bùng nổ. Đến tháng 9/1940, phát xít Nhật tràn vào Việt Nam, chúng cấu kết với thực dân Pháp ra sức vơ vét tài nguyên, của cải của nước ta để phục vụ chiến tranh. Từ đây, nhân dân Đông Phương cũng như bao người dân Việt Nam khác phải sống trong cảnh “một cổ hai tròng” áp bức của thực dân Pháp và phát xít Nhật. 

Trước diễn biến mau lẹ của tình hình, ngày 28/01/1941, Bác Hồ từ nước ngoài về Cao Bằng trực tiếp chỉ đạo phong trào Cách mạng Việt Nam. Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Minh được thành lập nhằm tập hợp lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. 

Từ năm 1943 trở đi, trên phạm vi cả nước, rất nhiều cuộc đấu tranh, khởi nghĩa của nhân dân diễn ra báo hiệu thời kỳ phát triển mạnh mẽ mới của phong trào cách mạng. Trong tỉnh, trong huyện, nhiều đồng chí cán bộ lãnh đạo phong trào vừa từ nhà tù về đã nhanh chóng móc nối, hoạt động mạnh mẽ trở lại.

Trước khí thế cách mạng mạnh mẽ khắp nơi, cùng với mâu thuẫn sâu sắc giữ nông dân và địa chủ phong kiến, nhiều cuộc đấu tranh của nông dân Đông Phương đã nổ ra. Điển hình như cuộc đấu tranh tháng 5/1944 tại chợ Vàng (Phương Xá) của các ông Nguyễn Văn Thảo, Phạm Bả Bối, Vũ Viết... Ông Vũ Viết Tính đã xông vào đánh bọn lý lý dịch, địa chủ vì chúng dìm công gặt quá thấp. Kết quả, Lý Ích buộc phải đứng ra để điều chỉnh nâng thêm công gặt. Tháng 12/1944, tại nhà các ông Nguyễn Hữu Đảng và Phạm Đình Vách đã đấu tranh mạnh mẽ, đánh cả một số địa chủ ở Phương Xá vì tội cân gian lận thiếu muối… 

Đầu năm 1945, tình hình thế giới và trong nước diễn biến nhanh chóng, khẩn trương. Hồng quân Liên Xô đã phản công đuổi phát xít Đức khỏi nước mình và một loạt các nước Đông Âu, chuyển sang tiến công quân Nhật ở Quan Đông (Trung Quốc). Sợ mất Đông Dương, ngày 09/3/1945, Nhật làm cuộc đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Trước tình hình trên, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị chỉ rõ kẻ thù của cách mạng Việt Nam lúc này là phát xít Nhật và phát động cao trào kháng Nhật cứu nước, tích cực xây dựng lực lượng vũ trang để khi có thời cơ tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Từ đây, phong trào kháng Nhật cứu nước phát triển mạnh mẽ.

Trong lúc phong trào cách mạng có nhiều tiến triển thì nạn đói tháng 3 năm Ất Dậu (1945) diễn ra nghiêm trọng. Để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược, năm 1944 phát xít Nhật đã bắt nhân dân trong tỉnh và huyện Đông Quan phải nộp thóc tạ và nhổ ngô lúa trồng day, tăng thêm sưu thuế. Ở Đông Phương ngày ấy, chánh tổng đã thu mỗi đầu mẫu từ 2 tạ tăng lên tới 4 tạ. Trong khi đó người dân Đông Phương phải lâm vào thảm họa của nạn đói. Gạo cám chẳng còn, đến củ chuối, rau má cũng khó mà kiếm được đã đẩy người dân tới sức cùng lực kiệt. Nạn đói đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu người Việt Nam, trong đó ở tỉnh Thái Bình có hơn 280 nghìn người chết (gần 1/3 dân số của tỉnh), huyện Đông Hưng 25 nghìn người chết đói. 

Ở Đông Phương, nạn đói đã cướp đi sinh mệnh của 527 người dân lương giáo. Nhiều ngả đường trong xã đến chợ Vàng từ trẻ con người lớn xác chết ngổn ngang. Nhiều gia đình chết hết chẳng còn ai như gia đình ông Vi 11 người, ông Luân 8 người, ông Ứng 7 người, ông Thụ, ông Chính, ông Nguyễn Văn, mỗi nhà có tới 6 người chết. Một số gia đình chỉ còn sống sót từ 1 đến 2 người như gia đình ông Điển, ông Huống, ông Vinh, ông Hữu, ông Hảo… Đặc biệt có 6 gia đình phải não ruột, não gan đem con bỏ chợ. Cả hai thôn Phương Quan và Phương Xá có 327 người phải đi tha phương cầu thực trong đó có 21 người lang thang xin ăn rồi biệt tăm tin tức. Mối thù Ất Dậu năm 1945 nhân dân Đông Phương muôn đời ghi nhớ. Cùng trong cảnh ngộ, ai có thể quên được cảnh lính Nghệ chôn người còn sống miệng tha thiết van xin mà chúng quyết không tha. Trong khi đó bọn địa chủ vẫn đàng hoàng sống trong cảnh tiền dư, thóc mục. Tình cảnh đó càng làm cho nhân dân Đông Phương nói riêng, nhân dân cả nước nói chung thêm sục sôi căm thù, quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược, lật đổ ách thống trị của phát xít ngày càng thêm nung nấu.

Tháng 4/1945, anh em đồng chí Bùi Thọ Ty, Bùi Thọ Tư ở Phù Lưu (Đông Sơn) sau thời gian hoạt động cách mạng ở địa phương bị địch phát hiện và truy bắt phải trốn đi hoạt động nơi khác đã quyết định trở về quê hương tìm cách hoạt động. Sau khi bắt liên lạc được với đồng chí Nguyễn Tài Khóa, Ngô Duy Đông, đồng chí Bùi Thọ Ty và Bùi Thọ Tư đã lựa chọn một số người hăng hái giác ngộ để thành lập tổ Việt Minh Phù Lưu gồm 6 đồng chí.

Sau khi thành lập, các đồng chí trong tổ Việt Minh Phù Lưu đã tỏa xuống các làng xung quanh vùng để tuyên truyền, giác ngộ và xây dựng lực lượng cách mạng. Trong đó đồng chí Phạm Huy Ngung được phân công phụ trách khu Phương Quan và Đồng Vi.

Tại Phương Quan, được sự bắt mối của tổ chức Việt Minh Phù Lưu, đồng chí Hoàng Ngọc Tuyển đã tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Mặt trận Việt Minh để thu hút lực lượng, tập hợp quần chúng. Kết quả, các thôn của tổng Phương Quan đã có 18 người tham gia tổ chức Việt Minh.

Ngay sau khi thành lập, Tổ chức Việt Minh ở Phương Quan đã khẩn trưởng lãnh đạo để tổ chức cứu đói cho dân. Dới sự chỉ đạo của tổ chức Việt Minh, các ông Lê Sỹ Tá, Lê Sỹ Kiệt đã đầu đơn trình quan huyện về tội hà lạm trong việc thu thóc tạ của Phạm Thế Thiệu. Nhân dịp quan tri huyện về, các ông đã vận động hàng trăm người mang theo quang ró kéo đến nhà Thiệu. Trước áp lực đấu tranh của nhân dân, tri huyện lệnh cho Thiệu phải xuất thóc trả dân. Đồng thời, tổ chức Việt Minh ở Đông Phương dưới sự chỉ đạo của đồng chí Tuyển đã phân công nhau đến vận động một số gia đình khá giả và địa chủ quyên gạo, cơm, ngô cứu đói. Tất cả số gạo thu được đem phát chẩn cho dân, nhờ vậy nhiều người dân ở Đông Phương đã thoát qua nạn đói.

Song song với việc cứu đói, được sự chỉ đạo của Ban mặt trận Việt Minh huyện, tổ Việt Minh bí mật của Phương Quan và Đồng Vi đã tổ chức cuộc tuyên truyền xung phong tại chợ Hồ để gây thanh thế của Mặt Trận Việt Minh.

Trước ngày tổ chức tuyên truyền, đồng chí Bùi Thọ Ty người diễn thuyết và đồng chí Hoàng Ngọc Tuyển (dự bị) đã thực tập diễn thuyết liền mấy buổi tại một gia đình cơ sở Việt Minh ở Đông Sơn. Ngày 9/4/1945, đúng vào phiên chợ Hồ (xã Thụy Thanh, Thái Thụy) cuộc tuyên truyền xung quanh đã được tổ chức. Khoảng 8 giờ sáng đồng chí Bùi Thọ Ty đã đứng lên diễn thuyết về uy thế của Mặt trận Việt Minh và hô hào nhân dân tham gia đánh Pháp, đuổi Nhật. Sau buổi diễn thuyết bọn quan lại và tổng lý ở các nơi trong huyện vô cùng hoảng sợ.

Những hoạt động của tổ Việt Minh ở Phương Quan và Đông Vi đã làm cho phong trào cứu quốc ở Đông Phương càng dâng cao mạnh mẽ. Tháng 6/1945, Tỉnh ủy đã mở cuộc vận động cứu đói trong nhân dân. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, tổ chức Việt Minh ở Đông Phương, Đông Hải, Đông Tân, Đông Kinh đã lãnh đạo quần chúng đến vay thóc những nhà giàu.

Phương Quan là nơi đi đầu trong cuộc đấu tranh. Đồng chí Hoàng Ngọc Tuyển dưới danh nghĩa đại diện cho cơ sở Việt Minh đã gửi thơ cho lý trưởng Hoàng Đức Nghinh yêu cầu chính quyền phong kiến phải trả thóc nghĩa thương và thóc công để cứu tế cho nhân dân (Lý trưởng Hoàng Đức Nghinh là chú ruột của đồng chí Tuyển cũng là người có cảm tình với cách mạng). Nhận được thư, ông Nghinh đã triệu tập cuộc họp với Hội đồng kỳ mục để phổ biến nội dung yêu cầu của Việt Minh. Trước sự áp đảo của phong trào cách mạng, từ lý trưởng đến phó lý, đến kỳ mục đều phải đồng ý thừa hành. Tất cả những gia đình giàu giữ thóc nghĩa thương và bọn tổng lý kỳ hào đều phải xuất thóc để cứu tế. Kết quả ở Phương Quan đã thu được hàng trăm tấn thóc cứu tế cho nhân dân.

Sau thắng lợi trên, Việt Minh Phương Quan đã cùng với lực lượng Việt Minh ở tổng Thượng Liệt đấu tranh đòi chính quyền phong kiến phải xuất thóc cứu đói cho dân.

Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã góp phần tích cực ổn định đời sống nhân dân và tập hợp được đông đảo lực lượng áp đảo kẻ thù. Ở Phương Quan và Phương Xá, bộ máy chính quyền phong kiến hoang mang rệu rã. Mọi công việc ở làng xã bọn kỳ hào lý dịch đều phải xin ý kiến của Việt Minh.

Dưới sự chỉ đạo của mặt trận Việt Minh huyện, nhân ngày quốc tế lao động 1/5/1945, tổ Việt Minh Đông Phương đã chọn cây thông cao nhất ở đầu làng để treo cờ đỏ búa liềm đúng vào phiên chợ Đọ. Mọi người dân Đông Phương cùng các xã Đông Cường, Đông Xá nhìn lá cờ tung bay ngạo nghễ ai nấy đều tràn đầy niềm tự hào sung sướng. Trong khi đó bọn tổng lý cường hào hết sức hoảng hốt.

Đi đôi với việc lãnh đạo nhân dân đấu tranh vượt qua nạn đói, tuyên truyền mở rộng ảnh hưởng, Mặt trận Việt Minh huyện quyết định tổ chức thành lập lực lượng bán vũ trang, vũ trang, phát động phong trào mua sắm vũ khí để tự trang bị, sát cánh cùng nhân dân tuyên truyền xung phong, nổi dậy đấu tranh tiến tới vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền. Thực hiện chỉ đạo của huyện bộ Việt Minh, tổ tự vệ chiến đấu ở Phương Quan và Phương Xá được thành lập dưới sự chỉ huy của đồng chí Hoàng Ngọc Tuyển. Đêm đêm, tại các địa điểm đình Đông, đình Lưu và đình Chợ, các đội viên tự vệ Đông Phương đã tập dượt, thao luyện các động tác võ dân tộc, đánh gậy và múa kiếm. Đồng thời lực lượng tự vệ còn phân công canh giữ các ngả đường trong xã để phòng bọn Việt gian phản động.

Đầu tháng 8/1945, thực hiện chủ trương của Mặt trận Việt Minh về tìm cách thu vũ khí của bọn địa chủ, quan lại để trang bị cho lực lượng cách mạng, đồng chí Ngô Duy Đông đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Hồng Long cùng một số đội viên tự vệ ở Thanh Long (Đông Hoàng) đã tiến hành tước súng của Hàn Sáng, chánh Thấu (Bình Cách) và Cửu Vũ ở Đông Phương. Cùng thời gian này, tổ tự vệ chiến đấu của Phú La, Tiến Trật xã Đô Lương phối hợp với một số đồng chí ở Phương Quan về thôn Tuộc (Phú Lương) thu của Hàn Trâm, Nghị Nhuệ và Chánh Đài 3 khẩu súng, kịp thời trang trị cho lực lượng vũ trang huyện.

Việc thu súng của bọn quan lại, địa chủ có thế lực đạt được kết quả đã khẳng định vị thế và sức mạnh của lực lượng Việt Minh; đồng thời đáp ứng đòi hỏi về trang bị vũ khí, tăng cường sức mạnh cho lực lượng vũ trang, khí thế cách mạng ngày càng một sục sôi.

Tháng 8/1945, Hồng quân Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật. Sự tiến công mạnh mẽ của Hồng quân Liên Xô đã đánh tan đội quân Quan Đông của Nhật ở đông bắc Trung Quốc. Đây là thời cơ ngàn năm có một của cách mạng Việt Nam. Trước tình hình vô cùng thuận lợi đó, ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp, quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, ra Quân lệnh số 1. Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) dưới sự chủ trì của Bác Hồ, Đại hội thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (được coi là Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ủy ban dân tộc giải phóng ra lệnh tổng khởi nghĩa, kêu gọi nhân dân cả nước đồng loạt đứng lên giành chính quyền. 

Nắm vững thời cơ, chiều ngày 18/8/1945, tại nhà đồng chí Hồng Long (Thanh Long - Đông Hoàng), Ban Thường vụ Tỉnh ủy họp bàn dưới sự chủ trì của đồng chí Ngô Duy Đông đã quyết định phát động tổng khởi nghĩa trong toàn tỉnh. Ngay sau khi Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quyết định tổng khởi nghĩa cũng là thời điểm cuộc khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra đầu tiên của Thái Bình là ở phủ Thái Ninh vào chiều ngày 18/8/1945 (Phủ lỵ Thái Ninh lúc đó đặt tại Châu Giang, nay thuộc xã Đông Phong, huyện Đông Hưng). Tin vui lan truyền, ban chấp hành Việt Minh khu B đã triệu tập cuộc họp tại đình Tầu (Đông Sơn) bàn và ra lệnh khởi nghĩa giành chính quyền huyện và ở các tổng làng xã.

Thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy và nghị quyết của Ban Việt minh khu B, Tổ việt minh Đông Phương đã họp tại nhà đồng chí Hoàng Ngọc Tuyển phân công hội viên về các thôn huy động lực lượng quần chúng trong toàn tổng tập trung tại sân ở đình Lưu. Vào khoảng 3 giờ sáng ngày 19/8/1945, các hội viên Việt minh, lực lượng tự vệ và quần chúng nhân dân từ Cổ Tuyết, Đồng Lệ An đến Thân Thượng, Rồi Công cùng lực lượng đông đảo của Phương Quan, Phương Xá bừng bừng khí thế và chỉnh tề trong đội ngũ giương cao lá cờ đỏ sao vàng kéo lên phủ lị giành chính quyền. Các đội viên tự vệ mỗi người đều mang một thứ vũ khí thô sơ như: Dao, kiếm, gậy, mã tấu... Trong đoàn quân khởi nghĩa còn có cả các chị phụ nữ trên đầu chít khăn mỏ quạ, thắt lưng dây và quần ống chít. Ai nấy đều rạng rỡ niềm vui.

Hơn 4 giờ sáng, toàn bộ lực lượng tự vệ của bốn tổng Thượng đã vượt sông đò Mon tiến thắng vào bao vây huyện lị ở phố Dù (Đông Kinh). Đoàn người xông lên như dòng thác đổ. Sức mạnh áp đảo của lực lượng khởi nghĩa đã khiến cho bọn lính cơ cùng nho lại, viên chức trong huyện đường phải nộp súng đầu hàng. Tri huyện Đào Xuân Khôi xin giao nộp toàn bộ sổ sách, hồ sơ tài liệu và đồng triện. Phủ lị Đông Quan đã hoàn toàn thuộc về tay Ủy ban nhân dân cách mạng và mặt trận Việt minh. 

Sau khi tiếp quản, một cuộc mít tinh được tổ chức ngay tại sân cung đường huyện lị. Đại diện cho ban lãnh đạo khởi nghĩa, đồng chí Bùi Thọ Ty đã nêu bật ý nghĩa thắng lợi của cuộc khởi nghĩa và cổ vũ, động viên mọi người đoàn kết, bảo vệ chính quyền và xây dựng nông thôn mới. Tới buổi chiều, đoàn quân khởi nghĩa tỏa về các thôn xã. Tại Đông Phương mọi người dân nô nức, xốn xang trong tiếng trống, tiếng loa chen lẫn tiếng gọi, hòa cùng âm thanh của tiếng gậy gộc, giáo mác đã tiến về tập trung tại sân đình Lưu.

Sau khi đội ngũ đã chỉnh tề, đồng chí Hoàng Ngọc Tuyển thay mặt chính quyền cách mạng đã đọc 10 chính sách của mặt trận Việt Minh và tuyên bố bãi bỏ chính quyền cũ, lập chính quyền cách mạng và lệnh cho lý dịch phải nộp sổ sách đồng triện.

Ngày 20/8/1945, được sự giúp đỡ của cán bộ mặt trận Việt Minh huyện. Ủy ban cách mạng lâm thời ở các xã được thành lập. Xã Phương Xá do Trưởng bạ Phạm Bá Ruệ làm Chủ tịch. Ở xã Phương Quan do lý Nghinh (tức Hoàng Đức Nghinh) làm Chủ tịch. Song mọi việc ở các làng xã đều do Việt minh chỉ đạo.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã lật đổ chế độ phong kiến thối nát đã tồn tại hàng ngàn năm và đập tan xiềng xích nô lệ gần 100 năm của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Thắng lợi này đã mở ra cho dân tộc Việt Nam một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, nhân dân Đông Phương sẽ có điều kiện để phát huy truyền thống của quê hương, góp phần cùng cả nước làm nên những thắng lợi to lớn hơn nữa

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân Đông Phương không quản ngại hy sinh, gian khổ, không tiếc máu xương, của cải, quyết tâm theo Đảng, Bác Hồ kháng chiến, góp phần làm nên những chiến công vang dội, non sông thu về một mối, Bắc Nam sum họp một nhà, cùng cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Với những công lao và đóng góp cho kháng chiến, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Đông Phương đã vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Di tích đình LưuSửa đổi

Đình Lưu là di tích lịch sử văn hóa quốc gia duy nhất trên địa bàn xã Đông Phương, huyện Đông Hưng. Đình Lưu thờ thờ Nam Hải Đại Vương và Khổng Chiêu hay Khổng Phúc Thần – là tướng nhà Đinh theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân.[5]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ
  2. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam
  3. ^ Tư liệu Ủy ban nhân dân xã Đông Phương
  4. ^ Nhận diện văn hóa làng Thái Bình - Nguyễn Thanh- Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội - 2010
  5. ^ Đình Lưu Thôn Trung – xã Đông Phương - huyện Đông Hưng – Tỉnh Thái Bình