Cô Tô

Huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Ninh

Cô Tô là một quần đảo trong Vịnh Bắc Bộ thuộc vùng đất tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam.[2][3] Về hành chính quần đảo thuộc huyện Cô Tô tỉnh Quảng Ninh, có diện tích 47,3 km², dân số hơn 4.985 người.[4]

Cô Tô

Huyện
Hành chính
VùngĐông Bắc Bộ
TỉnhQuảng Ninh
Huyện lỵThị trấn Cô Tô
Phân chia hành chính1 thị trấn, 2 xã
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDTrần Như Long
Chủ tịch HĐNDMai Tuấn Phượng
Địa lý
Tọa độ: 20°56′50″B 107°41′53″Đ / 20,94722°B 107,69806°Đ / 20.94722; 107.69806Tọa độ: 20°56′50″B 107°41′53″Đ / 20,94722°B 107,69806°Đ / 20.94722; 107.69806
Diện tích47,3 km²
Dân số (2018)
Tổng cộng5.840 người [1]
Mật độ110 người/km²
Khác
Websitewebsite

Lịch sửSửa đổi

 
Ảnh chụp từ vệ tinh

Cô Tô có tên cổ là Chàng Sơn (Núi Chàng), từ lâu đời đã là nơi cư trú ngụ của thuyền bè ngư dân Vùng Đông Bắc, song chưa thành nơi định cư vì luôn bị những toán cướp biển Trung Quốc quấy phá.

Năm 1832, Nguyễn Công Trứ với cương vị Tổng đốc Hải An (Hải Dương - An Quảng) đã xin triều đình cho thành lập làng xã, cắt cử người cai quản. Làng đầu tiên ở đây được Nguyễn Công Trứ đặt là làng Hướng Hoá. Ít lâu sau, nhà Nguyễn cho thu thuế và lập đồn Hướng Hoá canh phòng giặc biển. Dân cư đông dần, tất cả đều là người gốc nhiều dân tộc thiểu số ở vùng ven biển Quảng Đông, Phúc Kiếnđảo Hải Nam phiêu bạt đến.

Thời Pháp thuộc, Cô Tô là một tổng có năm xã thuộc châu Hà Cối phủ Hải Đông tỉnh Hải Ninh. Sau ngày Nhật đảo chính, Pháp quay lại chiếm đóng Cô Tô. Từ Cô Tô và cảng Vạn Hoa trên đảo Cái Bầu, tàu chiến Pháp vào quấy rối vùng biển Hòn Gai và cảng Hải Phòng. Tháng 11 năm 1946, Đại đội Ký Con giải phóng quân từ Hòn Gai dùng tàu chiến Le Créyac mới chiếm được của Hải quân Pháp tiến ra giải phóng Cô Tô nhưng không thành công. Cho đến cuối năm 1955, thực hiện Hiệp định Genève, quân Pháp mới rút khỏi.

 
Cảnh Cô Tô

Đầu năm 1954, Cô Tô là thuộc huyện Móng Cái, sau đó là hai xã đặc biệt trực thuộc tỉnh. Từ 1964, hai xã đã sáp nhập vào huyện Cẩm Phả.

Kinh tế trên quần đảo Cô Tô đã phát triển đến đỉnh cao vào năm 1977.

Trước năm 1978, quần đảo Cô Tô - Thanh Lân là vùng đảo sầm uất, dân số đông tới 6740 người. Trong đó có 545 hộ, 3200 người, 1424 lao động sống bằng nông nghiệp, 548 hộ, 3141 người, 1236 lao động sống bằng nghề đánh bắt cá. Nửa cuối năm 1978, người gốc Hoa về Trung Quốc, trên đảo chỉ còn lại 10% dân số, mọi hoạt động sản xuất suy giảm.

Ngày 23 tháng 3 năm 1994, chính phủ đổi tên huyện Cẩm Phả thành huyện Vân Đồn đồng thời tách quần đảo Cô Tô gồm hai xã Thanh Lân, Cô Tô thành lập huyện Cô Tô.

Ngày 28 tháng 10 năm 1996, đảo Trần (hoặc đảo Chằn) thuộc huyện Hải Ninh được giao về huyện Cô Tô quản lý và thuộc địa phận xã Thanh Lân.[5]

Ngày 25 tháng 8 năm 1999, chia xã Cô Tô thành thị trấn Cô Tô và xã Đồng Tiến.

Năm 2006, dân số huyện đảo Cô Tô là 5240 người với 1178 hộ dân. Từ năm 1994 đến nay nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ về giá điện, giá xăng dầu, xây dựng nâng cấp cơ sở hạ tầng, hàng ngày đều có tàu khách Vân Đồn - Cô Tô, làm cho đời sống nhân dân nơi đây không ngừng được cải thiện.

Ngày 16 tháng 10 năm 2013, Cô Tô đã chính thức có điện lưới quốc gia khi hoàn thành dự án đưa điện ra đảo trị giá 1106 tỷ đồng.[6][7]

Hành chínhSửa đổi

Huyện Cô Tô có 3 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Cô Tô (huyện lỵ) và 2 xã: Đồng Tiến, Thanh Lân.

Địa lýSửa đổi

Quần đảo Cô Tô có khoảng hơn 50 đảo, hòn (đảo nhỏ) và đá (đảo ngầm) [3]

  1. Đảo Cô Tô Lớn 20°58′20″B 107°45′55″Đ / 20,972197°B 107,765225°Đ / 20.972197; 107.765225
  2. Đảo Cô Tô Con 21°02′20″B 107°46′16″Đ / 21,039006°B 107,771072°Đ / 21.039006; 107.771072
  3. Đảo Trần (đảo Chằn, đảo Chàng Tây) 21°14′19″B 107°57′43″Đ / 21,23856°B 107,961912°Đ / 21.23856; 107.961912 [8]
  4. Đảo Thanh Lân (Thanh Lam) 21°01′04″B 107°49′40″Đ / 21,017741°B 107,827903°Đ / 21.017741; 107.827903
  5. Hòn Bắc Ba Đỉnh 21°03′20″B 107°51′46″Đ / 21,055581°B 107,862759°Đ / 21.055581; 107.862759
  6. Hòn Bắc Bồ Cát 21°12′19″B 108°00′45″Đ / 21,205346°B 108,012532°Đ / 21.205346; 108.012532
  7. Hòn Bát Hương 21°03′05″B 107°51′05″Đ / 21,05147°B 107,851451°Đ / 21.05147; 107.851451
  8. Hòn Bảy Âm Dương 21°06′09″B 107°49′34″Đ / 21,102405°B 107,825974°Đ / 21.102405; 107.825974
  9. Hòn Bảy Sao 21°07′55″B 107°47′41″Đ / 21,131816°B 107,794827°Đ / 21.131816; 107.794827
  10. Hòn Bồ Cát 21°11′29″B 108°00′57″Đ / 21,191308°B 108,015762°Đ / 21.191308; 108.015762
  11. Hòn Cá Chép 21°04′10″B 107°46′21″Đ / 21,069409°B 107,772362°Đ / 21.069409; 107.772362
  12. Hòn Cá Chép Con (Đảo Dê) 21°02′55″B 107°45′13″Đ / 21,048675°B 107,753515°Đ / 21.048675; 107.753515
  13. Hòn Chòi Canh 21°06′00″B 107°46′10″Đ / 21,100129°B 107,769471°Đ / 21.100129; 107.769471
  14. Hòn Con Chuột 21°03′04″B 107°50′39″Đ / 21,051153°B 107,844275°Đ / 21.051153; 107.844275
  15. Hòn Đá Thủng 20°59′44″B 107°49′41″Đ / 20,99544°B 107,827933°Đ / 20.99544; 107.827933
  16. Hòn Đặng Văn Cháu 20°59′05″B 107°47′58″Đ / 20,984615°B 107,799317°Đ / 20.984615; 107.799317
  17. Hòn Đèn 21°09′41″B 107°51′53″Đ / 21,161485°B 107,864596°Đ / 21.161485; 107.864596
  18. Hòn Đồi Mồi 21°07′48″B 107°51′35″Đ / 21,130043°B 107,859703°Đ / 21.130043; 107.859703
  19. Hòn Đông Nam 20°58′25″B 107°47′10″Đ / 20,973689°B 107,78608°Đ / 20.973689; 107.78608
  20. Hòn Hai Hòn 21°00′54″B 107°48′35″Đ / 21,014961°B 107,80975°Đ / 21.014961; 107.80975
  21. Hòn Khe Con 21°02′07″B 107°49′14″Đ / 21,035298°B 107,820684°Đ / 21.035298; 107.820684
  22. Hòn Khe Trâu 20°58′42″B 107°47′18″Đ / 20,978242°B 107,788402°Đ / 20.978242; 107.788402
  23. Hòn Khoai Lang 21°08′12″B 107°50′52″Đ / 21,136724°B 107,847722°Đ / 21.136724; 107.847722
  24. Hòn Khói 21°02′01″B 107°47′37″Đ / 21,033596°B 107,793519°Đ / 21.033596; 107.793519
  25. Hòn Ngang 21°06′37″B 107°48′50″Đ / 21,110277°B 107,813783°Đ / 21.110277; 107.813783
  26. Hòn Ngựa 21°09′21″B 107°51′24″Đ / 21,155826°B 107,856762°Đ / 21.155826; 107.856762
  27. Hòn Ngựa Bé 21°08′48″B 107°50′38″Đ / 21,146796°B 107,844016°Đ / 21.146796; 107.844016
  28. Hòn Núi Nhọn 21°08′33″B 107°52′01″Đ / 21,142466°B 107,867026°Đ / 21.142466; 107.867026
  29. Hòn Thoải Rơi 21°04′25″B 107°49′15″Đ / 21,073669°B 107,820826°Đ / 21.073669; 107.820826
  30. Hòn Vạn Thoại (Vàng Thoải) 21°02′48″B 107°50′10″Đ / 21,0466°B 107,836134°Đ / 21.0466; 107.836134
  • Hòn Vệ Tinh
  • Hòn Vàn Thầu
  • Hòn Sao Thủy
  • Hòn Sao Thổ
  • Hòn Sao Mộc
  • Hòn Sao Hỏa
  • Hòn Nhạn Xanh
  • Hòn Ngập Nước
  • Hòn Kim Sa
  • Hòn Khe
  • Hòn Hang Thông
  • Hòn Đuôi Núi Nhọn
  • Hòn Cồn Răn
  • Hòn Cồn
  • Hòn Bầu Rượu
  • Hòn Bắc Đẩu
  • Hòn Ba Bái
  • Đá Xấu Hổ
  • Đá Thoải
  • Đá Thiên Môn
  • Đá Sư Tử
  • Đá Sao Đêm
  • Đá Quả Thông Già
  • Đá Ngầm Sâu
  • Đá Ngầm Nam
  • Đá Nam Ba Đỉnh
  • Đá Chuột Nhắt
  • Đá Chân Hương
  • Cồn Vó Ngựa
  • Cồn Tai Khỉ
  • Cồn Sao Nhỏ
  • Cồn Ngoài
  • Cồn Hang Chuột
  • Cồn Gạc Hươu
  • Cồn Đuôi Cá Chép
  • Cồn Đá Xếp Thấp
  • Cồn Đá Xếp Cao
  • Cồn Con Ngựa
  • Cồn Chân Miếu
  • Cồn Chân Kiểng
  • Cồn Ba Đỉnh Con
  • Vụng Tràng Đông

Cô Tô có địa hình đồi núi. Đỉnh giáp Cáp Cháu trên đảo Thanh Lân cao 210 m, đỉnh đài khí tượng trên đảo Cô Tô lớn cao 160 m. Phần giữa các đảo đều cao, vây quanh là núi thấp và những cánh đồng hẹp, ven đảo là những bãi cát nhỏ và vịnh nhỏ. Đất đai chủ yếu là đất pheralit trên sa thạch. Đất rừng rộng 2.200 ha, đất Cô Tô có nông nghiệp đến (771 ha) chiếm 20% diện tích đất tự nhiên, trong đó một nửa số có khả năng cấy lúa, trồng màu, gần nửa có khả năng chăn thả gia súc và trồng cây ăn quả.

Cô Tô ít sông suối, đã đắp đập hình thành 11 hồ nhỏ. Nước ngầm phong phú, chất lượng tốt. Thực vật trên các đảo khá phong phú, nhiều chủng loại. Rừng tự nhiên đa dạng với nhiều loại gỗ tốt và nhiều song mây, ràng rang. Rừng trồng gồm phi lao, bạch đàn, thông đuôi ngựa.Đảo Thanh Lân còn có cam, quýt, chuối đã nhiều năm thành sản phẩm nổi tiếng trong tỉnh. Có nhiều loại dược liệu quý hiếm như hương nhu, sâm đất, thầu dầu tía... trên mọi đảo. Động vật rừng núi từ xa xưa khá nhiều nay ở đảo Thanh Lân có cả đàn khỉ vàng chừng 100 con, một ít trăn, tắc kè.

Nghề đánh bắt tôm, cá, mực... ở đảo Cô Tô đã ở giai đoạn cạn kiệt nên nhiều loại hải sản bị cấm khai thác.

Du lịchSửa đổi

Khu Di tích lưu niệm Hồ Chủ tịch: Lúc sinh thời, Hồ Chí Minh từng có lần đến thăm Cô Tô vào năm 1961. Năm 1962, khi chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm vùng Đông Bắc, Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh xin phép cho dựng tượng trên đảo Cô Tô, xây dựng nhà lưu niệm, dựng bia ở những nơi ông đến thăm, đã được đồng ý. Đây là nơi duy nhất Hồ Chí Minh đồng ý cho dựng tượng lúc còn sống.

Bãi đá Cầu Mỵ có hệ thống đá trầm tích được bào mòn qua hàng vạn năm bởi nước biển tạo ra một kì quan thực sự với cảnh quan đẹp mắt và có giá trị nghiên cứu địa chất địa mạo.

Đảo Cô Tô con: Cách trị trấn Cô Tô 7 km, nơi có cánh rừng nguyên sinh chứa đựng nhiều loài động vật quý hiếm, trong lòng biển chứa nhiều rặng san hô tuyệt đẹp.

Ngọc trai, san hôSửa đổi

Lượng san hô quanh các đảo bị giảm sút nghiêm trọng, đến nay đã mất 70%, 80% diện tích san hô.

Cô Tô trong văn họcSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 2, tr.12.
  2. ^ Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
  3. ^ a ă Bản đồ tỷ lệ 1:50.000 tờ F-48-72- ABCD. Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, 2013. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Bd50fa-72” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  4. ^ http://www.quangninh.gov.vn/vi-VN/huyenthi/HuyenCoTo/Trang/default.aspx
  5. ^ Nghị định số 66-CP năm 1996
  6. ^ “Khánh thành dự án đưa điện lưới ra huyện đảo Cô Tô”. 
  7. ^ “Chậm nhất 19.10, Cô Tô sẽ có điện lưới quốc gia”. 
  8. ^ Cho đảo xa thêm sức xuân. baoquangninh, 03/01/2012

Liên kết ngoàiSửa đổi