Mở trình đơn chính

Chung Tấn Phát (1929), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Sĩ quan Trừ bị do Chính phủ Quốc gia Việt Nam và Quân đội Pháp mở ra ở miền Nam Việt Nam. Ra trường ông được chọn về đơn vị Bộ binh trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Sau này ông được chuyển sang phục vụ ở lĩnh vực Tham mưu và Văn phòng.

CHUNG TẤN PHÁT
Tiểu sử
SinhTháng 2 năm 1929 (89–90 tuổi)
Gia Định, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1953-1975
Cấp bậcUS-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vịHuy hiệu Lục quân Việt Nam Cộng hòa.png Sư đoàn Bộ binh
QD IV VNCH.jpg Quân đoàn IV và QK 4
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Công việc khácChánh văn phòng

Tiểu sử & Binh nghiệpSửa đổi

Ông sinh vào tháng 2 năm 1929, trong một gia đình gồm 4 anh em trai, có truyền thống hiếu học tại Gia Định, miền Nam Việt Nam. Năm 1950, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Sài Gòn với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Được bổ dụng làm công chức tại Gia Định cho đến ngày gia nhập quân đội.

Quân đội Quốc gia Việt NamSửa đổi

Năm 1953, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia. Theo học khóa 3 Đống Đa 1 tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Năm 1954, tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường được chọn phục vụ trong Tiểu đoàn khinh binh Việt Nam với chức vụ Trung đội trưởng.

Tháng 8 năm 1954, sau Hiệp định Genève ngày 20 tháng 7, ông được cử giữ chức vụ Đại đội phó, rồi quyền Đại đội trưởng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Cuối năm 1955, sau khi Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi danh xưng thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Trung úy và chính thức giữ chức vụ Đại đội trưởng.

Đầu năm 1959, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm giữ chức vụ Tiểu đoàn phó, rồi Tiểu đoàn trưởng.

Cuối năm 1963, sau cuộc đảo chính lật đổ Chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 của nhóm tướng lãnh do Trung tướng Dương Văn Minh lãnh đạo. Ngày 2 tháng 11, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm.

Tháng 6 năm 1965, ông được cử làm chỉ huy phó Trung đoàn Bộ binh, sau đó được cử chính thức chức vụ Trung đoàn trưởng.

Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1967, ông được thăng cấp Trung tá và được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn Bộ binh.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1971, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Sau đó, được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng trong Bộ tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4 ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (miền Tây Nam phần).

Đầu năm 1974, ông được chuyển về Trung ương, phục vụ ở Bộ Quốc phòng.

1975Sửa đổi

Trung tuần tháng 4, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Cuối tháng 4, ông được cử làm Chánh văn phòng cho Thủ tướng Vũ Văn Mẫu.

Sau ngày 30 tháng 4, ông ra trình diện Chính quyền mới, bị đi tù 10 năm (1975-1985). Sau đó cùng gia đình sang định cư tại Hoa Kỳ.

Chú thíchSửa đổi

Gia đìnhSửa đổi

  • Bào huynh:
    -Ông Chung Tấn Thắng (Nguyên là Kỹ sư Việt Nam Cộng hòa)
    -Ông Chung Tấn Cang (Sinh năm 1926, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Hải quân Nha Trang. Nguyên Phó Đô đốc, cấp bậc Trung tướng Tư lệnh Quân chủng Hải quân Việt Nam Cộng hòa)
  • Bào đệ:
    -Ông Chung Tấn Cường (Nguyên là Thiếu tá phục vụ trong Quân chủng Không quân Việt Nam Cộng hòa)

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011) Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.