Crom(III) oxit

(đổi hướng từ Crôm (III) ôxít)

Crom(III) oxit (công thức Cr2O3) là một oxit của crom. Nó có phân tử gam 151,9942 g/mol, nhiệt độ nóng chảy 2435 °C.

Crom(III) oxit
Tên khácCrom sesquioxit, cromia, crom lục, eskolait
Nhận dạng
Số CAS1308-38-9
PubChem517277
Thuộc tính
Công thức phân tửCr2O3
Khối lượng mol151,9942 g/mol
Bề ngoàichất rắn lục
Khối lượng riêng5,22 g/cm³
Điểm nóng chảy 2.435 °C (2.708 K; 4.415 °F)
Điểm sôi 4.000 °C (4.270 K; 7.230 °F)
Độ hòa tan trong nướckhông tan
Các nguy hiểm
Các hợp chất liên quan
Hợp chất liên quanCrom(II) oxit
Crom(IV) oxit
Crom(V) oxit
Crom(VI) oxit
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).

Crom(III) oxit lưỡng tính là dạng oxit bền vững duy nhất của crom trong khoảng nhiệt độ đến 1200 °C (sau đó nó sẽ bắt đầu hoá hơi một phần). Chất này lấy từ nguồn crom oxit tự nhiên hoặc kali đicromat.

Trong vật liệu gốmSửa đổi

Cr2O3 được dùng là chất tạo màu trong vật liệu gốm nhóm tạo màu. Nó luôn cho màu xanh lục (xanh crom) đặc trưng dù nung chậm hay nhanh, môi trường lò oxy hóa hay khử. Tuy nhiên nó cho men màu xanh mờ và nhạt. Nếu có CaO, màu xanh có thể chuyển sang màu xanh cỏ.

Chất làm mờ zirconi với hàm lượng 1–2% thường được thêm vào men có crom để ổn định hoá men và ngăn chặn hiện tượng "viền nâu". Có thể chuyển màu xanh xám của crom thành màu xanh lông công bằng cách thêm coban(II) oxit (1% mỗi loại, có thể phải có thêm một chút MgO), sử dụng trong các loại men chứa bo và natri.

Crom(III) oxit sử dụng trong men có kẽm có khuynh hướng tạo ra kẽm cromat màu vàng đến vàng lục. Crom(III) oxit kết hợp với thiếc cho màu hồng vì vậy nếu cần làm sáng màu xanh crom có thể sử dụng vôi bột trắng và nhôm oxit thay vì dùng thiếc. Màu hồng crom-thiếc sẽ có độ đồng nhất cao nếu hỗn hợp được nung chảy trước (chủ yếu là tạo sự biến màu) và nếu men có hàm lượng canxi hay stronti cao (tối thiểu 10% CaO), không có kẽm. Thông thường hàm lượng thiếc oxit khoảng 4–5%, cao hơn crom(III) oxit từ 20 đến 30 lần. Màu hồng crom-thiếc chuyển sang màu tím nếu trong men có lượng đáng kể bo. Nếu men có thành phần là 3,3 SiO2, 0,27 Al2O3, 0,2 B2O3, 0,15 Li2O, 0,5 CaO, 0,1 MgO, 0,15 Na2O được pha màu 5% thiếc oxit, 0,6% coban(II) cacbonat, 0,17% crom(III) oxit sẽ có màu tím đẹp ở mức 6 của que thăm nhiệt.

Crom(III) oxit trong men có hàm lượng chì cao sẽ tạo thành chì(II) cromat màu vàng. Trong men gốc nên có thêm các oxit kiềm thổ. Thêm kẽm oxit sẽ có thể tạo màu cam. Dưới 950 °C, trong men có hàm lượng chì cao, nhôm thấp, crom(III) oxit cho màu đỏ đến cam, thường có dạng kết tinh bề mặt. Nếu thêm soda màu sẽ chuyển sang vàng.

Crom(III) oxit được sử dụng trong hầu hết mọi loại vết màu đen ôxi hóa. Nó có thể chiếm đến 40% trong hệ Cr-Co-Fe và 65% trong hệ Cu-Cr.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi