Húng tây (tiếng Anh: Basil, /ˈbæzəl/,[1] hoặc US: /ˈbzəl/;[2] Ocimum basilicum), còn được gọi là húng quế tây, húng quế lá to hay đại húng, là một loại rau thơm thuộc họ Hoa môi.

Húng tây
Basil-Basilico-Ocimum basilicum-albahaca.jpg
Phân loại sinh học edit
Giới:
Plantae                    

Thực vật

nhánh:
Tracheophytes                    

Thực vật có mạch

nhánh:
Angiosperms                    

Thực vật có hoa

nhánh: Eudicots
nhánh: Asterids
Bộ: Lamiales
Họ: Lamiaceae
Chi: Ocimum
L.
Loài: O. basilicum
Danh pháp hai phần
Ocimum basilicum
L.
Video tua nhanh của cây húng tây mọc mầm
Húng tây mọc dưới ánh mặt trời
Cây húng tây giai đoạn đầu
Húng tây héo đang phân tán hạt
Một con ong bầu cái đang hút mật hoa húng tây
Húng tây, tươi
Giá trị dinh dưỡng cho mỗi 100 g (3,5 oz)
Năng lượng94 kJ (22 kcal)
2.65 g
Chất xơ1.6 g
0.64 g
3.15 g
Vitamin
Vitamin A equiv.
(33%)
264 μg
(29%)
3142 μg
Thiamine (B1)
(3%)
0.034 mg
Riboflavin (B2)
(6%)
0.076 mg
Niacin (B3)
(6%)
0.902 mg
Pantothenic acid (B5)
(4%)
0.209 mg
Vitamin B6
(12%)
0.155 mg
Folate (B9)
(17%)
68 μg
Choline
(2%)
11.4 mg
Vitamin C
(22%)
18.0 mg
Vitamin E
(5%)
0.80 mg
Vitamin K
(395%)
414.8 μg
Chất khoáng
Canxi
(18%)
177 mg
Sắt
(24%)
3.17 mg
Magiê
(18%)
64 mg
Mangan
(55%)
1.148 mg
Phốt pho
(8%)
56 mg
Kali
(6%)
295 mg
Natri
(0%)
4 mg
Kẽm
(9%)
0.81 mg
Thành phần khác
Nước92.06 g
Tỷ lệ phần trăm xấp xỉ gần đúng sử dụng lượng hấp thụ thực phẩm tham chiếu (Khuyến cáo của Hoa Kỳ) cho người trưởng thành.
Nguồn: CSDL Dinh dưỡng của USDA

Húng tây là loài bản địa của vùng nhiệt đới từ Trung Phi cho tới Đông Nam Á.[3] Nó là loại cây khó sống khi gặp điều kiện bất lợi, và được dùng trong nhiều nền ẩm thực trên toàn thế giới. Tùy thuộc vào loài và giống cây, lá sẽ có vị hơi tương tự tiểu hồi cần, với mùi hương hắc, nồng, hơi ngọt.

Có rất nhiều thứ húng tây, cũng như nhiều loài có quan hệ gần hoặc loài lai cũng được gọi tên tiếng Anh "basil". Loài hay được sử dụng làm gia vị thường được gọi là húng ngọt hay húng Genovese, ngoài ra còn có một số loài khác như húng quế (O. basilicum var. thyrsiflora). Trong khi hầu hết các thứ húng tây được trồng như là cây hàng năm, một số lại được trồng như cây lâu năm tại những vùng khí hậu nhiệt đới ấm, và một giống cây được gọi là "húng xanh Phi".

Mô tảSửa đổi

Húng tây là một loài rau thơm hàng năm, thỉnh thoảng là loài lâu năm, sử dụng phần lá. Tùy vào thứ, cây có thể phát triển từ 30 cm (0,98 ft) đến 150 cm (4,9 ft). Lá của cây có đậm màu xanh và hình quả trứng có đầu nhọn, nhưng cũng có thể khác tùy thuộc vào giống cây. Kích cỡ lá dài khoảng từ 3 cm (1,2 in) đến 11 cm (4,3 in), và rộng từ 1 cm (0,39 in) đến 6 cm (2,4 in). Rễ của cây là rễ cọc dày. Hoa nhỏ có màu trắng, mọc thành chùm dài.

Hóa thực vật họcSửa đổi

Các thứ húng khác nhau lại có mùi riêng biệt vì loài cây này có nhiều loại tinh dầu khác nhau với lượng khác nhau tùy thuộc vào giống cây.[3] Tinh dầu trong giống húng tây châu Âu chứa nồng độ linalool cao và methyl chavicol (estragole), với tỉ lệ khoảng 3:1.[3][4] Các thành phần khác bao gồm: Eucalyptol, eugenol, và myrcene, cùng nhiều chất nữa.[3][5] Mùi đinh hương của húng ngọt là từ eugenol.[6] Đặc điểm mùi hương của húng tây bao gồm Eucalyptol[7][8]methyl eugenol.[7][9]

Phân loại họcSửa đổi

Phân loại học của húng tây chưa thực sự chắc chắn do số lượng giống cây lớn, tính đa hình sẵn có cộng thêm thường xuyên thụ phấn chéo (tạo nên loài lai mới) với các thành viên khác cùng chi Ocimum (chi Húng quế) và trong cùng một loài. Ocimum basilicum có ít nhất 60 thứ, làm phân loại trở nên càng phức tạp.[3]

Hầu hết giống húng là giống cây từ húng ngọt.

  • Húng hồi cần, húng cam thảo hay húng Ba Tư (O. basilicum 'Licorice')
  • Húng gia vị Mexico (Ocimum basilicum 'Cinnamon')
  • Húng quế tím (Ocimum basilicum 'Dark Opal')
  • Húng xà lách (Ocimum basilicum 'Crispum')
  • Húng tím Osmin (Ocimum basilicum 'Purpurescens')
  • Húng Rubin (Ocimum basilicum 'Rubin')
  • Hùng lùn, húng Pháp (Ocimum basilicum 'Minimum'[10])
  • Húng quế (Ocimum basilicum thyrsifolium)

Loài laiSửa đổi

  • Húng xanh Phi (Ocimum basilicum X O. kilimandscharicum)
  • Húng gia vị (Ocimum basilicum X O. americanum), which is sometimes sold as holy basil)
  • Húng chanh (Ocimum basilicum X O. americanum[11][12]), không nên nhầm với cây húng chanh được dùng ở Việt Nam

Loài tương tựSửa đổi

Phân bố và môi trường sốngSửa đổi

Húng tây là loài bản địa của Ấn Độ và một số vùng nhiệt đới trải dài từ châu Phi cho đến Đông Nam Á, nhưng giờ đã có mặt ở khắp nơi trên thế giới do hoạt động nông nghiệp của con người.[3]

Sử dụngSửa đổi

 
Lá húng tây khô

Ẩm thựcSửa đổi

Húng tây thường được dùng tươi trong nấu ăn. Nhìn chung, nó thường được thêm vào lúc cuối do nấu sẽ phá hủy mùi vị. Rau tươi có thể bảo quản được ngắn ngày trong túi để trong tủ lạnh, hay lâu hơn nếu để trong tủ đông sau khi chần nhanh qua nước sôi. Húng tây khi làm khô cũng bị mất khá nhiều mùi vị, và nó sẽ có vị hơi khác so với lá tươi, với vị coumarin nhẹ, như cỏ khô.[cần dẫn nguồn]

Húng tây là một trong những nguyên liệu chính của pesto—một loại sốt hỗn hợp dầu và rau của Ý.

Giống húng tây hay được sử dụng nhất ở khu vực Địa Trung Hải là "Genovese", "Purple Ruffles", "Mammoth", "Cinnamon", "Lemon", "Globe", and "African Blue". Ẩm thực Trung Quốc cũng sử dụng húng tây trong các món súp. Ở Đài Loan, lá húng tây cũng được ăn với súp. Húng tây (phổ biến nhất là húng quế) còn có thể được thêm vào sữa hoặc kem để tạo vị mới lạ. Hoa của cây húng tây cũng có thể dùng trong ẩm thực, nó có vị mạnh hơn và có thể ăn được.

HạtSửa đổi

Khi được ngâm nước, hạt của một số giống húng sẽ trở nên dai, và được sử dụng trong đồ uống ở châu Á, ví dụ như faluda, sharbat-e-rihan, hay hạt é.

Các nghiên cứu cho rằng tinh dầu húng có tính chất kháng nấm mốc và đuổi côn trùng,[15] và có thể là độc tố đối với muỗi.[16]

Bài thuốc truyền thốngSửa đổi

Trong các bài thuốc truyền thống, như là của người Ayurveda hay đông y, húng tây được tin là có tính chất trị liệu.[17][18]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “British: Basil”. Collins Dictionary. 2 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  2. ^ “American: Basil”. Collins Dictionary. 2 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  3. ^ a ă â b c d Simon, James E (ngày 23 tháng 2 năm 1998). “Basil”. Center for New Crops & Plant Products, Department of Horticulture, Purdue University, West Lafayette, IN. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  4. ^ J. Janick (ed.), James E. Simon, Mario R. Morales, Winthrop B. Phippen, Roberto Fontes Vieira, and Zhigang Hao (1999). Basil: A Source of Aroma Compounds and a Popular Culinary and Ornamental Herb. In: Perspectives on new crops and new uses (PDF). ASHS Press, Alexandria, VA. ISBN 978-0-9615027-0-6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  5. ^ Eberhard Breitmaier (ngày 22 tháng 9 năm 2006). Terpenes: Flavors, Fragrances, Pharmaca, Pheromones. John Wiley & Sons. tr. 11–. ISBN 978-3-527-31786-8. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. Acyclic monoterpenoid trienes such as p-myrcene and configurational isomers of p- ocimene are found in the oils of basil (leaves of Ocimum basilicum, Labiatae), bay (leaves of Fimenta acris, Myrtaceae), hops (strobiles of Humulus lupulus,...  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  6. ^ Md Shahidul Islam (ngày 4 tháng 2 năm 2011). Transient Receptor Potential Channels. Springer. tr. 50–. ISBN 978-94-007-0265-3. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. Eugenol is a vanilloid contained in relatively high amounts in clove oil from Eugenia caryophyllata, as well as cinnamon leaf oil (Cinnamomum zeylanicum) and oil from the clove basil Ocimum gratissimum. While eugenol is often referred to as...  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  7. ^ a ă Johnson, B. Christopher và đồng nghiệp (1999). “Substantial UV-B-mediated induction of essential oils in sweet basil (Ocimum basilicum L.)”. Phytochemistry 51 (4): 507–510. doi:10.1016/S0031-9422(98)00767-5. 
  8. ^ Baritaux, O.; Richard, H.; Touche, J.; Derbesy, M. và đồng nghiệp (1992). “Effects of drying and storage of herbs and spices on the essential oil. Part I. Basil, Ocimum basilicum L.”. Flavour and Fragrance Journal 7 (5): 267–271. doi:10.1002/ffj.2730070507. 
  9. ^ Miele, Mariangela; Dondero, R; Ciarallo, G; Mazzei, M và đồng nghiệp (2001). “Methyleugenol in Ocimum basilicum L. Cv. 'Genovese Gigante'”. Journal of Agricultural and Food Chemistry 49 (1): 517–521. PMID 11170620. doi:10.1021/jf000865w. 
  10. ^ “Ocimum minimum information from NPGS/GRIN”. ars-grin.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  11. ^ Ocimum africanum Lour. taxonomy detail from NPGS/GRIN”. ars-grin.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  12. ^ Ocimum × africanum Lour. in 'The Plant List: A Working List of All Plant Species', truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2016 
  13. ^ Fandohan, P.; Gnonlonfin, B; Laleye, A; Gbenou, JD; Darboux, R; Moudachirou, M và đồng nghiệp (2008). “Toxicity and gastric tolerance of essential oils from Cymbopogon citratus, Ocimum gratissimum and Ocimum basilicum in Wistar rats”. Food and Chemical Toxicology 46 (7): 2493–2497. PMID 18511170. doi:10.1016/j.fct.2008.04.006. 
  14. ^ Pessoa, L. M.; Morais, SM; Bevilaqua, CM; Luciano, JH (2002). “Anthelmintic activity of essential oil of Ocimum gratissimum Linn. and eugenol against Haemonchus contortus”. Veterinary Parasitology 109 (1–2): 59–63. PMID 12383625. doi:10.1016/S0304-4017(02)00253-4. 
  15. ^ Dube S, Upadhhyay PD, Tripath SC (1989). “Antifungal, physicochemical, and insect-repelling activity of the essential oil of Ocimum basilicum”. Canadian Journal of Botany 67 (7): 2085–2087. doi:10.1139/b89-264. 
  16. ^ Maurya, Prejwltta; Sharma, Preeti; Mohan, Lalit; Batabyal, Lata; Srivastava, C.N. và đồng nghiệp (2009). “Evaluation of the toxicity of different phytoextracts of Ocimum basilicum against Anopheles stephensi and Culex quinquefasciatus”. Journal of Asia-Pacific Entomology 12 (2): 113–115. doi:10.1016/j.aspen.2009.02.004. 
  17. ^ Hiltunen R, Holm Y (2003). Basil: The Genus Ocimum. CRC Press. tr. 120–1. ISBN 9780203303771. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  18. ^ Ambrose, Dawn C. P.; Manickavasagan, Annamalai; Naik, Ravindra (ngày 25 tháng 7 năm 2016). Leafy Medicinal Herbs: Botany, Chemistry, Postharvest Technology and Uses (bằng tiếng Anh). CABI. ISBN 9781780645599. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi