Jean de Lattre de Tassigny

Jean Joseph Marie Gabriel de Lattre de Tassigny (2 tháng 2 năm 188911 tháng 1 năm 1952), phiên âm tiếng Việt là Giăng Giô-dép Ma-ri Ga-bri-en Đờ-lát Đờ Tát-xi-nhi) là Đại tướng quân đội Pháp (Général d'Armée), anh hùng nước Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau thế chiến, ông tiếp tục tham gia Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và mất vì bệnh trong khi chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn. Ông từng là tham mưu trưởng các lực lượng lục quân Tây Âu tại NATO. Sau khi mất, ông được truy tặng quân hàm Thống chế.

Jean de Lattre de Tassigny
Jean de Lattre de Tassigny (1946).jpg
Chân dung De Lattre ngày 5 tháng 6 1945 tại Berlin
Tiểu sử
Biệt danhRoi Jean
SinhMouilleron-en-Pareds, Pháp
MấtParis, Pháp
Binh nghiệp
Phục vụFlag of France.svg Quân đội Pháp
Năm tại ngũ1911 - 1951
Cấp bậcOfficier général francais 7 etoiles.svg Thống chế
Chỉ huyTập đoàn quân thứ nhất Pháp
Lực lượng viễn chinh Đông Dương
Tham chiếnChiến tranh thế giới thứ nhất
Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Khen thưởngThống chế (được truy tặng sau khi chết)
Bắc Đẩu bội tinh
Gia đìnhBernard de Lattre de Tassigny (con trai)

Thân thếSửa đổi

Jean de Lattre de Tassigny sinh ngày 2 tháng 2 1889 tại Mouilleron-en-Pareds, trong một gia đình quý tộc, và là đồng hương với cựu thủ tướng Pháp Georges Clemenceau.

Binh nghiệpSửa đổi

Học viên trường quân sựSửa đổi

Năm 1911, ông tốt nghiệp Trường Võ bị Saint-Cyr với quân hàm thiếu úy, và tiếp tục theo học tại Học viện kị binh Sammur. Một năm sau (1912), thiếu úy de Lattre phục vụ trong trung đoàn kị binh dragoon số 12, đóng tại Pont-à-Mousson.

Chiến tranh thế giới thứ nhấtSửa đổi

Ngày 11/8/1914, ông bị thương lần đầu tiên khi mảnh bom nổ văng trúng trong lúc đang thực hiện nhiệm vụ do thám. Một tháng sau (ngày 14/9), de Lattre lại bị thương lần hai; khi đang chỉ huy một trung đội dragoon xung kích, một lính kị binh Phổ dùng giáo đâm ông trọng thương. Ngay sau đó, ông được đưa về Mountaville chữa trị. Trong lúc đang dưỡng thương, ông lại bị quân Phổ bắt giữ cho đến khi được một chiến sĩ thuộc trung đoàn hussar số 5 là thiếu úy Schmelz.

Đến năm 1915, de Lattre được thăng quân hàm đại úy và phục vụ trong trung đoàn bộ binh số 93 đóng tại Verdun. Tổng cộng, ông bị thương 5 lần và 8 lần được tuyên dương.

Thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến (1916-1940)Sửa đổi

Sau thế chiến thứ nhất, de Lattre tiếp tục tham chiến tại Maroc.

Năm 1932, khi đang là trung tá, ông trở thành sĩ quan tham mưu dưới quyền tướng Maxime Weygand nhờ cấp hàm và dòng dõi gia đình. 3 năm sau đó, ông trở thành chỉ huy của trung đoàn bộ binh số 151 tại Metz với quân hàm đại tá.

Chiến tranh thế giới thứ haiSửa đổi

 
Eisenhower, Zhukov, Mongomery và de Lattre ngày 9 tháng 5 năm 1945 tại Berlin

Trận chiến nước PhápSửa đổi

Ngày 22/3/1939, 1 ngày sau khi Đức Quốc xã tấn công Ba Lan, de Lattre được phong quân hàm chuẩn tướng và được bổ nhiệm làm tham mưu trưởng quân đoàn 5. Ngày 1 tháng 1 năm 1940, ông chỉ huy sư đoàn bộ binh số 14 cầm chân quân đội Wehrmacht ĐứcRethel trong 1 tháng; nhưng do quân Đức đông gấp 3 lần, quân phòng ngự Pháp thua trận và 2.000 lính bị bắt làm tù binh.

Sau đó, ông tiếp tục phân tán lực lượng để kháng cự ở nhiều địa phương khác cho đến khi ký kết hiệp định đình chiến giữa chính phủ VichyĐức quốc xã.

Phục vụ chính phủ VichySửa đổi

Năm 1941, ông được thăng hàm trung tướng, và làm tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Tunisia. Một năm sau (1942), ông tiếp tục được phong hàm đại tướng, chỉ huy sư đoàn bộ binh số 16 tại Montpellier. Tại đây, ông bắt đầu tập hợp lực lượng chống đối Đức quốc xã nên cuối cùng đã bị chính phủ Vichy bắt ở Toulouse rồi tuyên án 10 năm tù giam ở Lyon.

Quân giải phóng Pháp của de GaulleSửa đổi

Ngày 3/9/1943, de Lattre vượt ngục thành công bèn cùng gia đình trốn khỏi Riom rồi tìm cách liên lạc với tướng Charles de GaulleLondon. Ngày 20/12/1943, ông sang Algiers chỉ huy Tập đoàn quân B, phối hợp cùng với liên quân Đồng Minh chống phát xít Đức[1]. Ngày 11/11/1943, tướng de Gaulle kí sắc lệng phong hàm thống tướng cho de Lattre.

Ngày 17/6/1944, de Lattre dẫn quân đổ bộ lên đảo Elbe rồi tái chiếm Provence ở miền nam nước Pháp ngày 16/8. Mục tiêu trước mắt của ông là giải phóng ToulonMarseilles, hai thành phố cảng quan trọng của Pháp trên biển Địa Trung Hải. Tại đây, 35.000 quân Đức đã phòng ngự kiên cường, vì trước đó, Adolf Hitler ra lệnh cho họ chống trả tới người cuối cùng. Đại tướng de Lattre chia quân làm 5 cánh nhằm bao vây đối phương, rồi đánh chiếm Toulon và Marseilles. Đến ngày 21/8, các cánh quân Pháp hoàn toàn bao vây Toulon. Giao tranh diễn ra rất ác liệt; lực lượng chính quy Pháp cùng quân kháng chiến nội địa đã chiếm được các pháo đài lớn. Một tuần sau (ngày 28/8), toàn bộ quân Đức ở Toulon phải đầu hàng, 17.000 bị bắt làm tù binh, còn quân Pháp thiệt hại 2.700 người.[2] Cùng lúc đó, quân Pháp tiến đánh Marseilles. Nhân dân Marseilles cũng nổi dậy, khiến quân Đức phải phân tán lực lượng, tạo cơ hội cho quân chính quy bao vây và cô lập các cứ điểm địch. Ngày 28/8, Marseilles thất thủ. Pháp thiệt hại 1.825 người nhưng bắt được 10.000 tù binh Đức.[3]

Tiếp theo, de Lattre dẫn quân vượt đến Vosges. De Lattre chiếm Belfort nhưng chấm dứt bước tiến của quân ông. Điều này khiến cho quân Đức thành lập "cái túi Colmar". Tháng 12 năm 1944, cố gắng chiếm Colmar đều thất bại. Tháng 1 năm 1945, trung tướng Jacob Devers - Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân số 6 của Mỹ, đã ra lệnh cho Tassigny thanh toán "cái túi" này. Ngày 20 tháng 1 năm 1945, chiến dịch hợp vây Colmar bắt đầu, 5 sư đoàn Pháp của Tassigny tấn công thất bại, trong khi sư đoàn Bộ binh số 3 của Mỹ cũng không thu được thắng lợi gì đáng kể.[4] Khó khăn của liên quân Mỹ - Pháp trong chiến dịch này gợi nhớ đến cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất.[5] Trước tình hình đó, Devers phải tăng viện 1 quân đoàn Mỹ. Ngày 9 tháng 2, "cái túi Colmar" bị tiêu diệt, quân Đức thiệt hại nặng và rút chạy qua sông Rhine.[6][7] Nước Pháp được giải phóng, ngày 30 tháng 3 năm 1945, de Lattre dẫn 300.000 quân vượt sông Rhine, lần lượt chiếm Karlsruhe, UlmStuttgart trước khi vượt sông Danube đến Áo. Ngày 8 tháng 5 năm 1945, ông đại diện nước Pháp cùng với các tướng lĩnh hàng đầu khác của phe Đồng Minh như Dwight D. EisenhowerGeorgy Zhukov ký kết văn kiện đầu hàng vô điều kiện của Đức quốc xã tại Berlin, kết thúc chiến tranh tại Châu Âu.

Chiến tranh Đông DươngSửa đổi

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Tassigny trở thành tham mưu trưởng các lực lượng lục quân tại NATO, dưới quyền chỉ đạo của Thống chế Bernard Montgomery. Ngày 6 tháng 12 năm 1950, chính phủ Pháp đã cử ông sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh kiêm cao ủy Pháp ở Đông Dương nhằm lấy lại ưu thế tại đây. Nắm quyền chỉ huy, de Lattre nhanh chóng đề ra nhiều kế hoạch mới: khẩn trương xây dựng lực lượng quân Âu-Phi cơ động chiến lược mạnh, tăng cường bổ sung nhiều lính người Việt vào quân đội viễn chinh Pháp, xây dựng quân đội quốc gia cho chính quyền Bảo Đại và nhất là ông đã huy động một lực lượng công binh rất lớn để xây 2200 bunker tạo thành một "vành đai trắng" bao quanh vùng trung duđồng bằng Bắc Bộ nhằm đối phó Việt Minh. Mục tiêu của de Lattre là tiến hành chiến tranh tổng lực để bình định những vùng tạm chiếm và chuẩn bị tiến ra vùng tự do[8].

Để thực hiện những kế hoạch trên, de Lattre đã tập trung phần lớn các tiểu đoàn cơ động chiến lược tại Bắc Bộ xây dựng được 7 binh đoàn cơ động chiến lược (GM) và 4 tiểu đoàn lính nhảy dù. Ông cũng chủ trương lôi kéo Mỹ can thiệp sâu vào Chiến tranh Đông Dương để tăng nguồn viện trợ cho Pháp. Ngay sau khi nhậm chức, ngày 14 tháng 1 năm 1951, ông đã đến Vĩnh Yên để chỉ đạo chiến đấu phản kích Việt Minh. Ông điều binh đoàn cơ động 2 (GM2) từ Hà Nội đến làm quân dự phòng rồi ra lệnh cho GM1 tấn công từ phía tây với hỏa lực yểm trợ của không quân. GM1 sau đó đã cùng GM3 đánh bật Việt Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chỉ huy của Việt Minh, quyết định tấn công lần nữa nhưng lại bị đẩy lùi vì Tassigny đã tập trung không quân mở chiến dịch ném bom lớn và chủ yếu là bom napalm gây thương vong rất lớn cho Việt Minh.

 
Phần mộ de Lattre de Tassigny

Sau chiến thắng ở trận Vĩnh Yên, de Lattre lại lần nữa đẩy lùi được Việt Minh tại Mạo Khê. Nhưng vào ngày 30 tháng 3 năm 1951, con trai duy nhất của ông là trung úy Bernard de Lattre de Tassigny đã chết sau một cuộc tấn công của Việt Minh tại Ninh Bình. Sau đó, xác của Benard đã được tìm thấy và mặc dù chiến sự vẫn đang còn tiếp diễn, de Lattre đã đưa xác con về Pháp và tổ chức đám tang rất trọng thể[9].

Sau khi trở lại Việt Nam, Tassigny quyết định chọn Hòa Bình làm điểm quyết chiến mới để hi vọng ngăn chặn đường giao thông Bắc-Nam và tiêu diệt chủ lực quân của Việt Minh. Ngày 9 tháng 11 năm 1951, Tassginy đã sử dụng một lực lượng quân cơ động chiến lược gồm khoảng 20 tiểu đoàn bộ binh, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và nhiều tàu thuyền, quân dù mở cuộc tấn công Hòa Bình và đến ngày 14 tháng 11 thì chiếm được Hòa Bình. Trước tình hình đó, Việt Minh đã mở chiến dịch Hòa Bình do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy nhằm giành lại Hòa Bình. Và vào thời điểm gay cấn nhất của trận đánh, de Lattre de Tassigny lâm bệnh nặng phải trở về Pháp lần nữa vào ngày 19 tháng 11. Lúc bấy giờ bệnh tình của ông đã không còn hy vọng cứu chữa vì từ nhiều tháng nay ông bị ung thư chân đồng thời phải đảm đương nhiều công việc ở Đông Dương, những hành trình qua Pháp và qua Mỹ để xin viện trợ. Ngoài ra, cái chết của người con trai duy nhất cũng làm ông thêm suy sụp tinh thần khiến cho bệnh tình càng ngày càng trầm trọng.[10] Cuối cùng vào ngày 11 tháng 1 năm 1952, de Lattre từ trần tại Paris. Chính phủ Pháp đã truy tặng ông chức Thống chế và làm lễ quốc táng. Đám tang của ông kéo dài trong 5 ngày và được tạp chí LIFE mô tả là "đám tang dành cho quân nhân lớn nhất kể từ sau cái chết của Thống chế Foch năm 1929". Đám tang ông có sự tham gia của người cha 97 tuổi của ông là Roger de Lattre - thành viên cuối cùng của dòng họ. Quan tài của ông được đặt bên cạnh con ông là Bernard.[11] Sau cái chết của de Lattre, các tướng lĩnh Pháp sau đó được cử đến Đông Dương như Raoul SalanHenri Navarre đã không hoàn thành nhiệm vụ và sau cùng Pháp đã thua trận tại Đông Dương.

Vinh danhSửa đổi

50 năm sau ngày ông mất, lễ tưởng niệm ông đã được tổ chức trọng thể tại Paris và quê hương ông với sự tham gia của nhiều cựu chiến binh. Trước nhà ông ở Mouilleron-en-Pareds, người ta gắn tấm biển lớn ghi các chức tước của ông với dòng chữ: "Il sauve le Tonkin" ("Cứu tinh xứ Bắc Kì").[12] Trước 1954, tên ông từng được đặt cho một số đường phố và cầu ở Việt Nam:

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Nguyễn Phương Nam, trang 145
  2. ^ Stout & Yeide 2007, tr. 100-121..
  3. ^ Clarke & Smith (1993), tr. 140–142.
  4. ^ Charles Whiting, The other Battle of the Bulge: Operation Northwind, trang 132
  5. ^ Georges Blond, The death of Hitler's Germany, trang 140
  6. ^ John Craig Ferguson, Hellcats: the 12th Armored Division in World War II, trang 79
  7. ^ Thomas B. Buell, John N. Bradley, Jack W. Dice, John H. Bradley, The Second World War: Europe and the Mediterranean, trang 388
  8. ^ Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, trang 85-86
  9. ^ Nguyễn Phương Nam, trang 164
  10. ^ [1]
  11. ^ Destiny is too hard, LIFE 28 tháng 1 năm 1952, trang 20
  12. ^ Nguyễn Phương Nam, trang 144
  • Nguyễn Phương Nam (2008). Những viên tướng ngã ngựa. Việt Nam: Nhà xuất bản Lao động. 
  • Nhiều tác giả (2007). Đại cương Lịch sử Việt Nam tập III. Việt Nam: Nhà xuất bản Giáo dục. 

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi