Lachnolaimus maximus là loài cá biển duy nhất thuộc chi Lachnolaimus trong họ Cá bàng chài. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1792.

Lachnolaimus maximus
Hogfish in the National Aquarium of Baltimore.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Bộ (ordo)Perciformes
Họ (familia)Labridae
Chi (genus)Lachnolaimus
Cuvier, 1829
Loài (species)L. maximus
Danh pháp hai phần
Lachnolaimus maximus
(Walbaum, 1792)

Phân bố và môi trường sốngSửa đổi

L. maximus có phạm vi phân bố rộng khắp Tây Đại Tây Dương. Chúng được tìm thấy từ bang Bắc Carolina (Hoa Kỳ) và Bermuda ở phía bắc, trải rộng khắp vùng bờ biển Caribevịnh Mexico, về phía nam đến khu vực bờ biển phía bắc của Brazil. L. maximus trưởng thành sống xung quanh những rạn san hô ở độ sâu khoảng 3 - 40 m; cá con ẩn mình trong những thảm cỏ biển và những rạn san hô gần bờ[1][2].

L. maximus đã bị đánh bắt quá mức vào những năm 1970. Số lượng của L. maximus đã sụt giảm tới 30% trong phạm vi phân bố của chúng, với mức suy giảm đáng kể lên tới 60% tại bang Florida. Vì thế mà L. maximus được xếp vào danh sách Loài sắp nguy cấp[1].

Mô tảSửa đổi

L. maximus có chiều dài cơ thể tối đa được ghi nhận là 91 cm và có thể sống được khoảng 23 năm[2]. Đây là một loài lưỡng tính với tốc độ thay đổi giới tính tương đối chậm (diễn ra vài tháng sau giai đoạn cá bột). Mùa sinh sản kéo dài từ tháng 1 đến tháng 5[1].

Cá đực có màu nâu xám với một dải màu nâu sậm từ mõm băng qua trán, lan rộng đến phần lưng trước. Cá mái và cá con đang phát triển có nhiều biến thể màu sắc: xám trắng, nâu đỏ lốm đốm hoặc nâu sẫm. Cá đực lẫn cá mái đều có một đốm đen ở gốc sau của vây lưng; mống mắt có màu đỏ tươi với vây ngực có màu vàng[2][3].

Số gai ở vây lưng: 14 (3 gai đầu tiên vươn dài); Số tia vây mềm ở vây lưng: 11; Số gai ở vây hậu môn: 3; Số tia vây mềm ở vây hậu môn: 10[2].

Thức ăn của L. maximusđộng vật thân mềm, động vật giáp xácnhím biển[1][2].

Hình ảnhSửa đổi

Chú thíchSửa đổi