Livyatan melvillei

(đổi hướng từ Livyatan)

Livyatan melvillei hay còn gọi là siêu cá nhà táng một thành viên đã tuyệt chủng của bộ cá voi có răng thời tiền sử và được xem là loài cá voi có răng to lớn nhất từng biết. Chúng có thể sống cách đây 13,6 đến 11,6 triệu năm.[2][3] Những chiếc răng khổng lồ và kích thước cơ thể to lớn của loài cá voi này sẽ khiến nhiều người phải kinh hãi khi gặp chúng ở đại dương. Melvillei cùng với Megalodon trở thành hai loài săn mồi đối thủ ở đại dương thời cổ đại. Một là loài cá ăn thịt lớn nhất (C. Megalodon), hai là loài thú có vú săn mồi lớn nhất (L. Melvillei).

Livyatan melvillei
Thời điểm hóa thạch: Late Oligocene - Early Pleistocene
Livyatan melvillei.jpg
Livyatan melvillei
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Phân ngành (subphylum)Vertebrata
Lớp (class)Mammalia
Phân lớp (subclass)Elasmobranchii
Bộ (ordo)Cetacea
Họ (familia)incertae sedis
Chi (genus)Livyatan
Lambert et al., 2010[1]
Loài (species)L. melvillei
Danh pháp hai phần
Livyatan melvillei
Agassiz, 1843[1]
Danh pháp đồng nghĩa
  • Leviathan melvillei
    Lambert et al., 2010[1]
Hộp sọ và hàm răng của Livyatan

Chiều dài của loài cá nhà táng khổng lồ cổ đại này dài khoảng 13,5 m đến 17,5m, hiện vẫn chưa biết được cân nặng của nó nhưng ước tính là khoảng 40 tới 70 tấn. Với kích thước này và với việc sống chung trong một vùng với siêu cá mập Carcharodon megalodon thì việc có va chạm với những trận đấu nảy lửa với Livyatan melvillei là điều khó tránh khỏi. Về kích thước thì 2 loài tương đương nhau, nhưng Livyatan có một số ưu thế: trí thông minh cao hơn, bộ răng lớn hơn và có thể săn mồi theo đàn.

Thực đơn của siêu cá nhà táng này cũng rất phong phú, từ động vật thân mềm như mực khổng lồ đến các loài cá voi khác (nhiều khi là cả siêu cá mậpcá voi xanh).

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â Lambert, Olivier; Bianucci, Giovanni; Post, Klaas; de Muizon, Christian; Salas-Gismondi, Rodolfo; Urbina, Mario; Reumer, Jelle (1 tháng 7 năm 2010). “The giant bite of a new raptorial sperm whale from the Miocene epoch of Peru”. Nature 466 (7302): 105–108. PMID 20596020. doi:10.1038/nature09067. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2010. 
  2. ^ Fang, Janet (30 tháng 6 năm 2010). “Call me Leviathan melvillei”. nature news. Nature. doi:10.1038/news.2010.322. 
  3. ^ Paleobiology Database

Tham khảoSửa đổi