Nguồn gốc ngôn ngữ

Ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học lý thuyết
Ngữ âm học
Âm vị học
Hình thái học
Cú pháp
Chính tả
Ngữ nghĩa học
Ngữ nghĩa học từ vựng
Ngữ nghĩa học cấu trúc
Ngữ nghĩa học nguyên mẫu
Tu từ học
Ngữ pháp quy định
Ngữ dụng học
Ngôn ngữ học ứng dụng
Ngôn ngữ học tâm lý
Ngôn ngữ học xã hội
Ngôn ngữ học phái sinh
Ngôn ngữ học nhận thức
Ngôn ngữ học máy tính
Ngôn ngữ học mô tả
Ngôn ngữ học lịch sử
Từ nguyên học
Danh sách các nhà ngôn ngữ học
Thuật ngữ ngôn ngữ học
Thuật ngữ ngữ âm học
Sửa bảng này

Nguồn gốc ngôn ngữ của loài người là chủ đề học thuật được thảo luận trong nhiều thế kỷ. Mặc dù vậy, không đạt được sự thống nhất về nguồn gốc hay tuổi của ngôn ngữ loài người. Một vấn đề làm cho các chủ đề rất khó nghiên cứu là việc thiếu bằng chứng trực tiếp. Do đó, các học giả có nhu cầu nghiên cứu về nguồn gốc của ngôn ngữ phải rút ra kết luận từ các loại chứng cứ khác như hóa thạch, bằng chứng khảo cổ học, sự đa dạng ngôn ngữ hiện đại, nghiên cứu về ngôn ngữ, và những so sánh giữa ngôn ngữ của con người và các hệ thống thông tin liên lạc hiện có các loài động vật khác (đặc biệt là các loài linh trưởng). Nhiều người cho rằng nguồn gốc của ngôn ngữ có thể liên quan chặt chẽ đến nguồn gốc của hành vi con người hiện đại, nhưng có rất ít đồng thuận về những tác động và định hướng của kết nối này.

Sự thiếu hụt bằng chứng trực tiếp đã khiến nhiều học giả coi toàn bộ chủ đề này là không phù hợp cho một nghiên cứu nghiêm túc. Năm 1866, Hiệp hội ngôn ngữ học Paris cấm mọi cuộc tranh luận về vấn đề này, một lệnh cấm có ảnh hưởng đến hầu khắp các nước phương Tây cho đến cuối thế kỷ 20. Ngày nay có nhiều giả thuyết về "thế nào, tại sao, khi nào, nơi nào" ngôn ngữ có thể đã xuất hiện[1]. Mặc dù vậy, sự đồng thuận xem ra hiếm hơn thời một trăm năm trước đây, khi thuyết tiến hóa của chọn lọc tự nhiên của Charles Darwin gây nên một loạt những suy đoán "trong phòng kính" về chủ đề này[2].

Tuy nhiên từ đầu những năm 1990 một số nhà ngôn ngữ học, khảo cổ học, tâm lý học, nhân chủng học, và những người khác đã cố gắng tìm cách giải quyết "vấn đề khó khăn nhất trong khoa học"[3] này với các phương pháp mới. Lưu ý rằng thuyết tiến hóa nhìn nhận sự phát triển của ngôn ngữ như là một mốc quan trọng trong sự phát triển của con người.

Các phương phápSửa đổi

Tiếp cận nguồn gốc ngôn ngữ diễn ra với nhiều trường phái khác nhau. Một số giả định cơ bản là:

  • "Lý thuyết liên tục" xây dựng trên ý tưởng rằng ngôn ngữ thể hiện rất nhiều sự phức tạp mà người ta không thể tưởng tượng nó chỉ đơn giản là xuất hiện từ hư không. Nó đã phải phát triển từ hệ thống tiền ngôn ngữ trước đó ở tổ tiên là loài linh trưởng.
  • "Lý thuyết gián đoạn" đi theo cách tiếp cận ngược lại - rằng ngôn ngữ là một đặc điểm độc đáo không thể so sánh với bất cứ thứ gì tìm thấy trong số những loài "phi con người", và do đó phải đã xuất hiện khá bất ngờ trong quá trình tiến hóa của con người.
  • Một số lý thuyết nhìn nhận ngôn ngữ chủ yếu như là một khả năng bẩm sinh, phần lớn được mã hóa ở gen.
  • Các giả thuyết khác coi ngôn ngữ như một hệ thống chủ yếu là văn hóa, con người học được thông qua sự tương tác xã hội.

Các giả thuyếtSửa đổi

Các phán đoán ban đầuSửa đổi

Tôi không còn nghi ngờ gì nữa rằng ngôn ngữ có nguồn gốc từ sự bắt chước và hiệu chỉnh, với sự hỗ trợ từ các dấu hiệu và cử chỉ, của nhiều âm thanh tự nhiên khác nhau, những giọng nói của các loài muông thú và tiếng hét bản năng của con người.

— Charles Darwin, 1871. The Descent of Man, and Selection in Relation to Sex[4]

Năm 1861, nhà ngôn ngữ học lịch sử Max Müller đã công bố một danh sách các lý thuyết đầu cơ liên quan đến nguồn gốc của ngôn ngữ:[5]

  • Gâu gâu. Giả thuyết gâu gâu hoặc cúc cu, mà Müller gán cho nhà triết học người Đức Johann Gottfried Herder, cho rằng những lời nói đầu tiên bắt chước theo tiếng kêu của những con thú và chim.
  • Pooh-pooh. Giả thuyết pooh-pooh cho rằng những từ đầu tiên là sự xen lẫm của cảm xúc và cảm thán được kích hoạt bởi nỗi đau, niềm vui, sự bất ngờ, v.v.
  • Binh boong. Müller đề xuất cái mà ông gọi là học thuyết binh boong, phát biểu rằng mọi thứ đều có tần số rung động cộng hưởng riêng và bằng một cách nào đó, chúng đã được con người sao chép lại bằng những từ đầu tiên.
  • Yo-he-ho. Giả thuyết yo-he-ho đề xuất rằng ngôn ngữ xuất hiện từ sự lao động tập thể nhịp nhàng, nỗ lực đồng bộ hóa cử động cơ bắp dẫn đến các âm thanh như heave trong tiếng Anh (hổn hển), xen kẽ với các âm thanh như ho ().
  • Ta-ta. Giả thuyết này không có trong danh sách của Max Müller, đã được đề xuất vào năm 1930 bởi Ngài Richard Paget.[6] Theo giả thuyết ta-ta, con người tạo ra những từ đầu tiên bằng chuyển động lưỡi bắt chước cử chỉ bàn tay.

Hầu hết các học giả ngày nay coi tất cả các giả thuyết ở trên không hẳn là sai—chúng thường cho ta hiểu biết tổng quát về ngôn ngữ—nhưng còn ngây thơ và không quá liên quan.[7][8] Vấn đề với những giả thuyết này là chúng rất máy móc. Chúng cho rằng một khi tổ tiên của chúng ta đã vấp phải cơ chế khéo léo thích hợp để liên kết âm thanh với ý nghĩa, ngôn ngữ sẽ tự động phát triển và thay đổi.

Các vấn đề về độ tin cậy và lừa dốiSửa đổi

Từ quan điểm của lý thuyết báo hiệu, trở ngại chính cho sự phát triển của giao tiếp thông qua ngôn ngữ trong tự nhiên không phải là vấn đề cơ học. Thay vào đó, là do các biểu tượng (mối liên kết cụ thể giữa âm thanh và các dạng liên quan khác đến ý nghĩa của chúng) không đáng tin cậy và có thể sai.[40] Dân gian ta có câu nói, "từ ngữ rất rẻ mạt" và "nói thì dễ hơn làm".[9] Vấn đề về độ tin cậy hoàn toàn không được Darwin, Müller hoặc các nhà lý thuyết tiến hóa ban đầu khác thừa nhận.

Hầu hết các tín hiệu âm thanh của động vật đều đáng tin cậy. Khi một con mèo rú lên, nó đã cho ta biết một cách chính xác trạng thái cảm xúc của nó hiện giờ. Chúng ta tin vào tín hiệu đó, không phải vì con mèo có xu hướng trung thực mà vì nó không thể giả mạo âm thanh đó. Giao tiếp của linh trưởng có thể dễ thao túng hơn một chút, nhưng chúng vẫn đáng tin cậy vì lý do tương tự, do chúng khó giả mạo.[10] Trí thông minh xã hội của các loài linh trưởng thuộc dạng "trí tuệ Machiavelli" (đặt theo tên chính trị gia Machiavelli, lỗi lạc và mưu mô) ích kỷ và không bị ràng buộc bởi những rắc rối đạo đức. Khỉ và vượn thường cố gắng lừa dối lẫn nhau, đồng thời không ngừng cảnh giác những kẻ lừa dối khác.[11][12] Nghịch lý thay, người ta cho rằng cơ cấu phòng chống sự lừa dối của loài linh trưởng là điều ngăn cản chúng phát triển thứ gì đó giống ngôn ngữ của ta. Ngôn ngữ bị sàng lọc vì cách tốt nhất để không bị lừa là loại bỏ tất cả tín hiệu ngoại trừ những tín hiệu có thể được kiểm chứng ngay lập tức. Các lời nói tự động bị loại ra trong bài kiểm tra này.[13]

Lời nói rất dễ bị giả mạo. Nếu chúng là lời dối trá, người nghe sẽ thích nghi bằng cách bỏ qua chúng để chỉ tìm các chỉ thị hoặc tín hiệu thành thật hơn. Do đó, để ngôn ngữ có thể hoạt động, người nghe phải tự tin rằng những người mà họ trò chuyện có tính trung thực.[14] Một tính năng khá đặc biệt của ngôn ngữ là sự "tham chiếu thay thế", có nghĩa là ta có thể dùng ngôn ngữ để nói đến các chủ đề nằm ngoài tình huống hiện tại. Tính chất này ngăn không cho lời nói bị kiểm chứng ngay lập tức "ở đây" và "ngay bây giờ". Vì lý do này, ngôn ngữ phải có một mức độ tin cậy hai phía tương đối cao để được thiết lập theo thời gian dựa trên chiến lược ổn định tiến hóa (một phần của lý thuyết trò chơi tiến hóa). Sự ổn định này được sinh ra từ sự tin tưởng lẫn nhau lâu dài và là thứ trao quyền lực cho ngôn ngữ. Vì vậy, các giả thuyết về nguồn gốc của ngôn ngữ phải giải thích tại sao con người có thể bắt đầu tin vào các tín hiệu rẻ mạt theo cách mà các động vật khác dường như không thể làm được (xem lý thuyết báo hiệu).

Giả thuyết tiếng mẹ đẻSửa đổi

Giả thuyết "tiếng mẹ đẻ" đã được đề xuất vào năm 2004 như là một giải pháp khả thi cho vấn đề này.[15] W. Tecumseh Fitch cho rằng nguyên tắc "Chọn lọc theo dòng dõi" của Darwin[16] (sự hội tụ lợi ích di truyền giữa những người họ hàng) có thể là một mảnh của câu trả lời. Fitch cho rằng các ngôn ngữ ban đầu là 'tiếng mẹ đẻ'. Nếu ngôn ngữ phát triển ban đầu để giao tiếp giữa các bà mẹ và con đẻ của họ, sau đó được mở rộng để bao gồm cả người thân đã trưởng thành, thì lợi ích của người nói và người nghe sẽ có xu hướng trùng khớp. Fitch lập luận rằng các lợi ích di truyền chia sẻ giữa các họ hàng sẽ dẫn đến sự tin tưởng và hợp tác đối với các tín hiệu không đáng tin cậy về mặt bản chất.

Các đối thủ của lý thuyết này chỉ ra rằng sự chọn lọc dòng dõi không phải là duy nhất đối với con người.[17] Vì vậy, ngay cả khi một người chấp nhận cơ sở ban đầu của Fitch, việc mở rộng mạng lưới 'tiếng mẹ đẻ' từ những người họ hàng gần đến họ hàng xa hơn vẫn không giải thích được.[17] Tuy nhiên, Fitch lập luận rằng thời gian kéo dài của sự non nớt về thể chất của trẻ sơ sinh và sự phát triển sau sinh của não người mang lại cho mối quan hệ giữa con người và trẻ sơ sinh một giai đoạn phụ thuộc giữa các thế hệ khác nhau kéo dài hơn so với bất kỳ loài nào khác.[15]

Giả thuyết vị tha đối ứng bắt buộcSửa đổi

Ib Ulbæk[18] viện dẫn một nguyên tắc cơ bản khác của Darwin vị tha đối ứng[19] để giải thích mức độ trung thực có chủ ý cao bất thường cần thiết cho ngôn ngữ để phát triển. "Lòng vị tha đối ứng" có thể được hiểu đơn giản là "nếu bạn gãi lưng cho tôi, tôi sẽ gãi lưng cho bạn". Về mặt ngôn ngữ, điều đó có nghĩa là "nếu bạn nói thật với tôi, tôi sẽ nói thật với bạn". Ulbæk chỉ ra lý thuyết vị tha thông thường của Darwin, là một mối quan hệ được thiết lập giữa các cá nhân thường xuyên tương tác. Tuy nhiên, để ngôn ngữ chiếm ưu thế trên toàn bộ cộng đồng, sự tương hỗ cần thiết sẽ cần phải được thực thi trên toàn tập thể thay vì do sự lựa chọn cá nhân. Ulbæk kết luận rằng để ngôn ngữ phát triển, toàn bộ xã hội phải chịu sự điều chỉnh của đạo đức.

Các nhà phê bình chỉ ra rằng lý thuyết này không giải thích được khi nào, bằng cách nào, tại sao hoặc bởi ai 'lý thuyết vị tha đối ứng bắt buộc' có thể được thi hành.[20] Nhiều đề xuất đã được đưa ra để khắc phục khiếm khuyết này.[20] Một chỉ trích nữa là ngôn ngữ không hoạt động trên cơ sở lòng vị tha đối ứng. Con người trong các nhóm đàm thoại có xu hướng cởi mở thông tin với tất cả mọi người chứ không riêng gì đối với người nghe có khả năng đáp lễ bằng thông tin có giá trị. Ngược lại, họ dường như muốn phổ biến cho cả thế gian biết ta đây có những thông tin liên quan đến xã hội, tuồn ra thông tin mà không mong đợi bất kỳ một sự đáp lễ nào từ người nghe.[21]

Giả thuyết chuyện phiếm và chải chuốtSửa đổi

Chuyện phiếm ở con người, theo Robin Dunbar trong cuốn sách Chải chuốt, chuyện phiếm và sự tiến hóa của ngôn ngữ, có vai trò tương tự như việc chải chuốt lông ở các loài linh trưởng khác, cho phép các cá nhân củng cố mối quan hệ xã hội và do đó duy trì liên minh dựa trên nguyên tắc vị tha đã đề cập ở trên. Dunbar lập luận rằng khi con người bắt đầu sống trong các nhóm xã hội ngày càng lớn hơn, nhiệm vụ chải chuốt thủ công tất cả bạn bè và người quen của họ trở nên tốn thời gian đến mức bất khả thi.[22] Để đối phó với vấn đề này, con người đã phát triển 'một hình thức chải chuốt giá rẻ và cực kỳ hiệu quả. Để giữ cho các đồng minh hạnh phúc, giờ đây người ta chỉ cần 'chải chuốt' họ bằng âm thanh giọng nói chi phí thấp, phục vụ đồng thời nhiều đồng minh trong khi vẫn giữ cả hai tay cho các nhiệm vụ khác. Giọng ca chải chuốt sau đó phát triển dần dần thành ngôn ngữ thanh nhạc. Ban đầu dưới dạng 'chuyện phiếm'.[22] Giả thuyết của Dunbar dường như được ủng hộ bởi thực tế là cấu trúc của ngôn ngữ cho thấy sự thích nghi với chức năng tường thuật nói chung.[23]

Những người chỉ trích lý thuyết này chỉ ra rằng hiệu quả của việc 'chải chuốt giọng nói' (thực tế là lời nói rẻ mạt) sẽ làm giảm khả năng báo hiệu sự cam kết không như loại được truyền tải bằng cách chải chuốt thủ công tốn kém và phí thời gian.[24] Một chỉ trích nữa là lý thuyết không thể giải thích sự chuyển đổi quan trọng từ giọng hát chải chuốt (sự sản xuất những âm thanh dễ chịu nhưng vô nghĩa) sang lời nói cú pháp (âm thanh có ý nghĩa phức tạp).

Đồng tiến hóa nghi thức/lời nóiSửa đổi

Lý thuyết đồng tiến hóa nghi thức/lời nói ban đầu được đề xuất bởi nhà nhân chủng học xã hội Roy Rappaport[18] trước khi được các nhà nhân chủng học như Chris Knight,[13] Jerome Lewis,[25] Nick Enfield,[26] Camilla Power[14] và Ian Watts xây dựng.[27] Nhà khoa học nhận thức và kỹ sư robot Luc Steels[28] là một người ủng hộ nổi bật khác của lý thuyết chung này, cũng như nhà nhân chủng sinh học/thần kinh học Terrence Deacon.[29]

Những học giả này cho rằng không tồn tại thứ gọi là 'lý thuyết về nguồn gốc của ngôn ngữ'. Điều này là do ngôn ngữ không phải là một sự thích ứng riêng biệt mà là một khía cạnh bên trong của một thứ gì đó rộng lớn hơn nhiều, cụ thể là văn hóa biểu tượng của con người nói chung.[30] Những nỗ lực giải thích ngôn ngữ một cách độc lập trong bối cảnh rộng lớn hơn đã thất bại một cách ngoạn mục, theo các nhà khoa học, bởi vì họ đang giải quyết một vấn đề không có giải pháp. Thử hỏi xem, liệu một sử gia có thể giải thích nguồn gốc của thẻ tín dụng một cách độc lập với hệ thống rộng lớn hơn mà nó là một phần không? Sử dụng thẻ tín dụng chỉ có ý nghĩa nếu bạn có tài khoản ngân hàng được một tổ chức nào đó công nhận và chính tổ chức này cũng lại nằm trong một loại xã hội tư bản tiên tiến nhất định, nơi một công nghệ truyền thông điện tử và máy tính kỹ thuật số đã được phát minh và có thể phát hiện và ngăn chặn gian lận. Tương tự như vậy, ngôn ngữ sẽ không hoạt động bên ngoài các cơ chế và thể chế xã hội cụ thể. Chẳng hạn, nó sẽ không hoạt động đối với một con vượn không giao tiếp với cá thể khác trong tự nhiên. Ngay cả những con vượn thông minh nhất cũng không thể làm cho ngôn ngữ hoạt động trong những điều kiện như vậy.

Những người ủng hộ trường phái tư tưởng này chỉ ra rằng từ ngữ rất rẻ mạt. Nếu một con vượn đặc biệt thông minh, hoặc thậm chí là một nhóm vượn người phi thường, cố gắng sử dụng từ ngữ trong tự nhiên, chúng vẫn sẽ không có niềm tin. Những tiếng động mang sự thuyết phục, những tiếng mà chúng thực sự sử dụng, không giống như lời nói, ở chỗ chúng biểu cảm về mặt cảm xúc, bản chất có ý nghĩa và đáng tin cậy vì chúng tương đối tốn kém và khó giả tạo.

Ngôn ngữ bao gồm các tương phản kỹ thuật số mà chi phí về cơ bản là bằng không. Là những quy ước xã hội thuần túy, những tín hiệu thuộc loại này không thể phát triển trong một thế giới xã hội Darwin, chúng bất khả thi về mặt lý thuyết.[40] Bản chất không đáng tin cậy, ngôn ngữ chỉ hoạt động nếu bạn có thể tạo dựng được danh tiếng về sự đáng tin trong một loại xã hội nhất định, đó là nơi mà các sự kiện văn hóa tượng trưng (đôi khi được gọi là 'sự thật tổ chức') có thể được thiết lập và duy trì thông qua chứng thực xã hội tập thể.[59] Trong bất kỳ xã hội săn bắn-hái lượm nào, cơ chế cơ bản để thiết lập niềm tin vào các sự kiện văn hóa tượng trưng là nghi thức tập thể.[60] Do đó, nhiệm vụ mà các nhà nghiên cứu phải đối mặt với nguồn gốc của ngôn ngữ là một chủ đề liên ngành. Nó liên quan đến việc giải quyết sự xuất hiện tiến hóa của văn hóa biểu tượng con người nói chung, với ngôn ngữ là một thành phần quan trọng.

Những người chỉ trích lý thuyết này bao gồm Noam Chomsky, người gọi đây là giả thuyết 'không tồn tại', phủ nhận sự tồn tại của ngôn ngữ như một đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên.[31] Lý thuyết riêng của Chomsky là ngôn ngữ xuất hiện ngay lập tức và ở dạng hoàn hảo,[32] khiến các nhà phê bình của ông lần lượt vặn lại rằng chỉ có thứ gì đó không tồn tại, một cấu trúc lý thuyết hoặc giả tưởng khoa học thuận tiện mới có thể xuất hiện theo cách kỳ diệu như vậy.[19] Cuộc tranh luận này vẫn chưa có một lời giải quyết chính đáng.

Tính vững bền của văn hóa công cụ và ngữ pháp của Homo sớmSửa đổi

Mặc dù có thể bắt chước việc tạo ra các công cụ như những công cụ do Homo đầu tiên tạo ra trong các trường hợp thao diễn, nghiên cứu về văn hóa công cụ linh trưởng cho thấy văn hóa thiếu ngôn ngữ dễ bị tổn thương trước sự thay đổi của môi trường. Cụ thể, nếu môi trường mà một kỹ năng có thể được sử dụng biến mất trong một khoảng thời gian dài hơn tuổi thọ của một con vượn hoặc người, thì kỹ năng đó sẽ bị thất truyền nếu văn hóa đó bắt chước và không bằng lời nói. Tinh tinh, khỉ maca và khỉ capuchin đều bị mất kỹ thuật công cụ trong những trường hợp như vậy. Do đó, các nhà nghiên cứu về tính bền vững của văn hóa linh trưởng cho rằng kể từ khi loài Homo đầu tiên trở đi như Homo habilis vẫn giữ được văn hóa công cụ của họ mặc dù có nhiều chu kỳ biến đổi khí hậu trong khoảng thời gian từ hàng thế kỷ đến hàng thiên niên kỷ, các loài này đã phát triển đủ khả năng ngôn ngữ để mô tả các quy trình hoàn chỉnh và do đó có xuất hiện ngữ pháp mà không chỉ hai từ "ngôn ngữ nguyên thủy".[63][64]

Lý thuyết nhân vănSửa đổi

Trường phái ủng hộ chủ nghĩa nhân văn coi ngôn ngữ là phát minh của con người. Nhà triết học thời Phục hưng Antoine Arnauld đã mô tả chi tiết ý tưởng của ông về nguồn gốc ngôn ngữ trong cuốn Ngữ pháp Port-Royal. Theo Arnauld, con người có bản chất xã hội và lý trí, và điều này thúc đẩy ta tạo ra ngôn ngữ như một phương tiện để truyền đạt ý tưởng của mình cho người khác. Việc kiến thiết ngôn ngữ sẽ là một quá trình rất chậm và dần dần.[69] Trong lý thuyết sau này, đặc biệt là trong ngành ngôn ngữ học chức năng, nhu cầu giao tiếp quan trọng hơn nhu cầu tâm lý. [70]

Tuy nhiên, sự phát triển của ngôn ngữ không được coi là quan trọng đối với việc nghiên cứu các ngôn ngữ. Nhà ngôn ngữ học cấu trúc Ferdinand de Saussure từ bỏ ngôn ngữ học tiến hóa sau khi đi đến kết luận rằng nó chắc chắn sẽ không thể cung cấp bất kỳ cái nhìn sâu sắc mang tính cách mạng nào nữa sau khi hoàn thành các công trình chính trong ngôn ngữ học lịch sử vào cuối thế kỷ XIX. Saussure đặc biệt hoài nghi về cách tiếp cận của August Schleicher và các nhà ngôn ngữ học trường phái Darwin tái tạo các ngôn ngữ tiền sử dưới dạng nguyên thủy (proto).[71]

Ngôn ngữ học tiến hóa cũng đã vấp phải nhiều chỉ trích. Hiệp hội ngôn ngữ Paris từng cấm chủ đề tiến hóa ngôn ngữ vào năm 1866 vì nó thiếu bằng chứng khoa học.[72] Cùng thời gian đó, Max Müller chế giễu các học thuyết hiện hành giải thích nguồn gốc ngôn ngữ. Trong cách phân loại của ông, 'giả thuyết gâu gâu' là loại giải thích coi các ngôn ngữ đã phát triển như một sự bắt chước của âm thanh tự nhiên. 'Lý thuyết pooh-pooh' cho rằng lời nói bắt nguồn từ tiếng hét và tiếng kêu của con người tự phát; lý thuyết 'yo-he-ho' gợi ý rằng ngôn ngữ được phát triển từ tiếng càu nhàu và thở hổn hển được gợi lên bởi nỗ lực thể chất; trong khi 'lý thuyết hát hò' cho rằng lời nói phát sinh từ các nghi lễ nguyên thủy.[73]

Giải pháp của Saussure cho vấn đề tiến hóa ngôn ngữ là phải phân chia ngôn ngữ học lý thuyết làm hai. Ngôn ngữ học tiến hóa và lịch sử được đổi tên thành ngôn ngữ học lịch đại. Ngành này nghiên cứu về sự thay đổi của ngôn ngữ, nhưng nó chỉ có khả năng hạn chế do sự không phù hợp của tất cả các tài liệu nghiên cứu đáng tin cậy có thể có sẵn. Ngược lại, ngôn ngữ học đồng đại có mục đích mở rộng tầm hiểu biết về ngôn ngữ của các nhà khoa học thông qua một nghiên cứu về giai đoạn ngôn ngữ đương đại hoặc lịch sử theo một hệ thống theo đúng nghĩa của nó.[74]

Chủ nghĩa cấu trúc, lần đầu tiên được giới thiệu trong xã hội học bởi Émile Durkheim, là một loại lý thuyết tiến hóa nhân văn giải thích sự đa dạng hóa là cần thiết bởi sự phức tạp ngày càng tăng.[76] Đã có một sự thay đổi trọng tâm sang giải thích chức năng ngôn ngữ sau khi Saussure qua đời. Các nhà cấu trúc chức năng bao gồm các nhà ngôn ngữ học Prague CircleAndré Martinet đã giải thích sự tăng trưởng và bảo trì các cấu trúc là bắt buộc bởi các chức năng của chúng.[70] Ví dụ, các công nghệ mới khiến con người phải phát minh ra các từ mới, nhưng những từ này có thể mất chức năng và rơi vào lãng quên khi các công nghệ đó lỗi thời và được thay thế bằng những từ hiện đại hơn.

Lý thuyết bước đơn của ChomskySửa đổi

Theo lý thuyết đột biến đơn của Chomsky, sự xuất hiện của ngôn ngữ giống như sự hình thành của một tinh thể; với vô hạn kỹ thuật sốtinh thể hạt nằm trong bộ não linh trưởng siêu bão hòa, trên bờ vực nở rộ vào tâm trí con người, theo quy luật vật lý, một khi tiến hóa đã thêm một viên đá nhỏ nhưng rất quan trọng.[68][62] Trong khi một số người cho rằng theo lý thuyết này, ngôn ngữ xuất hiện khá đột ngột trong lịch sử tiến hóa của loài người, Chomsky, viết cho nhà ngôn ngữ học tính toán và nhà khoa học máy tính Robert C. Berwick, giải thích nó hoàn toàn tương thích với sinh học hiện đại. Họ lưu ý rằng "không một giả thuyết nào gần đây về sự tiến hóa ngôn ngữ hoàn toàn nắm bắt được sự chuyển giao từ thuyết Darwin thông thường sang phiên bản hiện đại ngẫu nhiên của nó, rằng có những hiệu ứng ngẫu nhiên không chỉ do lấy mẫu như trôi dạt vô hướng, mà còn do sự thay đổi ngẫu nhiên có hướng về thể lực, di cư và khả năng di truyền. Thật vậy, tất cả các "lực" ảnh hưởng đến tần số gen hoặc cá thể.... Tất cả những điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả tiến hóa-kết quả mà chúng ta có thể đưa ra chưa được đề cập đến trong những cuốn sách gần đây về sự phát triển của ngôn ngữ, nhưng sẽ phát sinh ngay lập tức trong trường hợp có bất kỳ sự đổi mới di truyền hoặc cá thể mới, chính xác là loại kịch bản có thể xảy ra khi nói về sự xuất hiện của ngôn ngữ."

Giả thuyết Romulus và RemusSửa đổi

Giả thuyết Romulus và Remus, được đề xuất bởi nhà thần kinh học Andrey Vyshedskiy, giải thích câu hỏi tại sao bộ phận tạo tiếng nói hiện đại khỏi nguồn từ hơn 500.000 năm trước những dấu hiệu sớm nhất của trí tưởng tượng của con người hiện đại. Giả thuyết này cho rằng có hai giai đoạn dẫn đến ngôn ngữ đệ quy hiện đại.

Giai đoạn đầu tiên bao gồm sự phát triển chậm của ngôn ngữ phi đệ quy với vốn từ vựng lớn cùng với bộ phận nói hiện đại, bao gồm sự biến đổi của xương móng, tăng khả năng kiểm soát các cơ hoành, sự tiến hóa của gen FOXP2, cũng như như những thay đổi khác từ 600.000 năm trước.[70] Sau đó, giai đoạn thứ hai là Bước đơn Chomsky nhanh chóng, bao gồm ba sự kiện riêng biệt xảy ra liên tục vào khoảng 70.000 năm trước và tạo điều kiện cho sự chuyển tiếp từ ngôn ngữ phi đệ quy sang ngôn ngữ đệ quy ở các loài vượn người sơ khai.

  1. Một đột biến gen làm chậm giai đoạn quan trọng Tổng hợp trước trán (PFS) của ít nhất hai đứa trẻ sống cùng nhau;
  2. Điều này cho phép những đứa trẻ tạo ra các yếu tố đệ quy của ngôn ngữ như các giới từ không gian;
  3. Sau đó, thứ này sẽ hợp nhất với ngôn ngữ phi đệ quy của cha mẹ chúng để tạo ra ngôn ngữ đệ quy.[33]

Trẻ em có vỏ não trước trán (PFC) hiện đại để cho phép phát triển của PFS là không đủ, trẻ cũng phải được kích thích về mặt tinh thần và có các yếu tố đệ quy trong ngôn ngữ của chúng để có được PFS. Vì cha mẹ của chúng chưa phát minh ra các yếu tố này, nên trẻ em sẽ phải tự làm điều đó, đây là chuyện thường xảy ra ở trẻ nhỏ sống cùng nhau, trong một quá trình gọi là cryptophasia (loại ngôn ngữ phat triển bởi hai đứa bé sinh đôi). [72] Điều này có nghĩa là việc phát triển PFC bị trì hoãn sẽ cho phép có thêm thời gian để có được PFS và phát triển các yếu tố đệ quy.

Tất nhiên, sự phát triển PFC bị trì hoãn sẽ đi kèm với những nhược điểm, chẳng hạn như thời gian phụ thuộc vào cha mẹ sẽ lâu hơn khiến tỷ lệ chết trẻ cao hơn. Để ngôn ngữ hiện đại xuất hiện, sự trì hoãn PFC phải có một lợi ích sinh tồn to lớn trong cuộc sống sau này, chẳng hạn như khả năng PFS. Điều này cho thấy rằng đột biến gây ra sự chậm trễ PFC và sự phát triển của ngôn ngữ đệ quy và PFS xảy ra đồng thời, điều này cho thấy bằng chứng về sự tắc nghẽn di truyền khoảng 70.000 năm trước.[73] Đây có thể là kết quả của một vài cá nhân đã phát triển PFS và ngôn ngữ đệ quy mang lại cho họ lợi thế cạnh tranh đáng kể so với tất cả những cá thể khác vào thời điểm đó.[71]

Giả thuyết cử chỉSửa đổi

Giả thuyết cử chỉ cho rằng ngôn ngữ của con người phát triển từ những cử chỉ được sử dụng trong giao tiếp đơn giản.

Hai loại bằng chứng ủng hộ giả thuyết này.

  1. Ngôn ngữ cử chỉ và ngôn ngữ giọng nói phụ thuộc vào cùng một hệ thống thần kinh. Các vùng trên vỏ não chịu trách nhiệm cho chuyển động miệng và tay khớp nhau.
  2. Các loài linh trưởng có thể sử dụng cử chỉ hoặc biểu tượng để giao tiếp nguyên thủy và một số cử chỉ của chúng giống với con người, như "tư thế cầu xin", với hai bàn tay duỗi ra, mà con người chia sẻ với tinh tinh.[74]

Nghiên cứu đã tìm thấy nhiều bằng chứng thuyết phục cho ý tưởng rằng ngôn ngữ lời nói và ngôn ngữ ký hiệu phụ thuộc vào các cấu trúc thần kinh tương tự. Những bệnh nhân sử dụng ngôn ngữ ký hiệu và bị tổn thương bán cầu não trái biểu hiện những rối loạn với ngôn ngữ ký hiệu của họ giống như bệnh nhân bị tổn hại âm thanh với ngôn ngữ nói của họ.[75] Các nhà nghiên cứu khác phát hiện ra rằng các vùng bán cầu não trái điều khiển ngôn ngữ ký hiệu cũng như trong quá trình sử dụng ngôn ngữ giọng nói hoặc ngôn ngữ viết. [76]

Giả thuyết từ đâu đến cái gìSửa đổi

'Từ đâu đến cái gì' là một mô hình tiến hóa ngôn ngữ dựa chủ yếu trên tổ chức xử lý ngôn ngữ trong não bộ và hai cấu trúc của nó: luồng âm thanh thính giác lưng và luồng âm thanh thính giác bụng.[96][97] Nó đưa ra giả thuyết 7 giai đoạn tiến hóa của ngôn ngữ (xem hình minh họa). Tiếng nói được sử dụng để mẹ và con có thể tìm nhau nếu bị xa rời (hình minh họa 1). Các tiếng nói này có thể thay đổi ngữ điệu để thể hiện mức độ cấp bách cao hoặc thấp (hình minh họa 2). Tiếng nói của hai bên đã kích hoạt cuộc hỏi-đáp đầu tiên. Trong trường hợp này, đứa trẻ sẽ phát ra tiếng nói cấp bách thấp để thể hiện mong muốn tương tác với một đối tượng và người mẹ sẽ đáp lại với một tiếng nói thấp (để thể hiện sự chấp thuận tương tác) hoặc cao (để thể hiện sự từ chối) (minh họa 3). Dần dần, ngữ điệu và kiểm soát giọng nói dẫn đến phát minh âm vị liên kết với các đối tượng riêng biệt (hình minh họa 4). Lúc đầu, trẻ học các âm vị này từ cha mẹ bằng cách bắt chước chuyển động của môi (hình minh họa 5). Cuối cùng, trẻ sơ sinh đã có thể ghi nhớ vào bộ nhớ dài hạn tất cả các âm vị. Do đó, bắt chước thông qua đọc môi chỉ giới hạn ở trẻ nhỏ và trẻ lớn hơn đã học các âm vị mới thông qua bắt chước mà không đọc môi (hình minh họa 6). Khi các cá nhân có khả năng tạo ra một chuỗi các âm vị, điều này cho phép các từ đa âm tiết, tăng trưởng vốn từ vựng của chúng (hình minh họa 7). Việc sử dụng các từ, bao gồm các chuỗi các âm tiết, đã cung cấp cấu trúc để giao tiếp bằng các chuỗi từ (nghĩa là các câu).

Tên của giả thuyết bắt nguồn từ hai luồng thính giác, cả hai đều được tìm thấy trong não của con người và các loài linh trưởng khác. Luồng thính giác bụng chịu trách nhiệm nhận dạng âm thanh, và do đó, nó được gọi là luồng thính giác cái gì.[98][99][100] Ở loài linh trưởng, luồng thính giác lưng chịu trách nhiệm định vị âm thanh hay gọi là luông thính giác từ đâu. Chỉ ở người (ở bán cầu não trái), nó cũng chịu trách nhiệm cho các quá trình khác liên quan đến sử dụng và thu nhận ngôn ngữ, như lặp lại và sản xuất lời nói, tích hợp các âm vị với chuyển động môi, nhận thức và sản xuất ngữ điệu, trí nhớ dài hạn về âm vị học (lưu trữ bộ nhớ dài hạn các âm thanh của từ) và bộ nhớ làm việc theo âm vị học (lưu trữ tạm thời các âm thanh của từ).[101][102][103][104][105][106][107][108] Một số bằng chứng cũng chỉ ra vai trò trong việc nhận ra người khác bằng giọng nói của họ.[109][110] Sự xuất hiện của từng chức năng này trong luồng âm thanh thính giác thể hiện một giai đoạn trung gian trong sự phát triển của ngôn ngữ.

Nguồn gốc tiếng nói liên lạc trong ngôn ngữ của con người đồng ý với các nghiên cứu trên động vật, giống như ngôn ngữ của con người, sự phân biệt tiếng nói liên lạc ở khỉ được xếp bên cạnh bán cầu trái.[111][112] Những con chuột bị loại bỏ các gen liên quan đến ngôn ngữ (như FOXP2 và SRPX2) dẫn đến việc những con con không còn có khả năng phát ra tiếng gọi tìm mẹ nếu bị chia tách.[113][114] Hỗ trợ mô hình này cũng là khả năng giải thích các hiện tượng độc đáo ở con người, như sử dụng ngữ điệu khi dùng câu mệnh lệnh và câu hỏi, xu hướng trẻ sơ sinh bắt chước cách phát âm trong những năm đầu đời (và sự biến mất của nó sau này) và môi người có thể nhìn thấy, không tìm thấy ở các loài vượn khác. Lý thuyết này có thể được coi là một phiên bản nâng cấp của giả thuyết ''đặt em bé xuống'' về tiến hóa ngôn ngữ.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Tallerman M., Gibson K. R., 2012. The Oxford handbook of language evolution. Oxford, New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-954111-9. OCLC 724665645
  2. ^ Müller F. M. 1996 [1861]. The theoretical stage, and the origin of language. Lecture 9 from Lectures on the Science of Language. Reprinted in R. Harris (ed.), The Origin of Language. Bristol: Thoemmes Press, p. 7-41.
  3. ^ Christiansen M. H., Kirby S., 2003. Language evolution: the hardest problem in science?. Language evolution, Oxford, New York: Oxford University Press, p. 77–93. ISBN 978-0-19-924484-3. OCLC 51235137.
  4. ^ Darwin, C. (1871). "The Descent of Man, and Selection in Relation to Sex, 2 vols. London: Murray, p. 56.
  5. ^ Müller, F. M. 1996 [1861]. The theoretical stage, and the origin of language. Lecture 9 from Lectures on the Science of Language. Reprinted in R. Harris (ed.), The Origin of Language. Bristol: Thoemmes Press, pp. 7–41.
  6. ^ Paget, R. 1930. Human speech: some observations, experiments, and conclusions as to the nature, origin, purpose and possible improvement of human speech. London: Routledge & Kegan Paul.
  7. ^ Firth, J. R. 1964. The Tongues of Men and Speech. London: Oxford University Press, pp. 25–6.
  8. ^ Stam, J. H. 1976. Inquiries into the origins of language. New York: Harper and Row, p. 243-44.
  9. ^ Smith, J.Maynard (1994). “Must reliable signals always be costly?”. Animal Behaviour 47 (5): 1115–1120. ISSN 0003-3472. doi:10.1006/anbe.1994.1149. 
  10. ^ Goodall, Jane (1986). The chimpanzees of Gombe: patterns of behavior. Cambridge, Massachusetts: Belknap Press of Harvard University Press. ISBN 978-0-674-11649-8. OCLC 12550961. 
  11. ^ Byrne, Richard W.; Whiten, Andrew. (1988). Machiavellian intelligence: social expertise and the evolution of intellect in monkeys, apes, and humans. Oxford: Clarendon Press. ISBN 978-0-19-852175-4. OCLC 17260831. 
  12. ^ de Waal, Frans B. M. (2005). “Intentional Deception in Primates”. Evolutionary Anthropology 1 (3): 86–92. doi:10.1002/1360010306 (không tích cực ngày 20 tháng 8 năm 2019). 
  13. ^ a ă Knight, Chris (1998). James R Hurford; Michael Studdert-Kennedy; Chris Knight, biên tập. Ritual/speech coevolution: a solution to the problem of deception (PDF). Approaches to the evolution of language: social and cognitive base (Cambridge, UK; New York: Cambridge University Press). tr. 68–91. ISBN 978-0-521-63964-4. OCLC 37742390. 
  14. ^ a ă Power, Camilla (1998). James R Hurford; Michael Studdert-Kennedy; Chris Knight, biên tập. Old wives' tales: the gossip hypothesis and the reliability of cheap signals. Approaches to the evolution of language: social and cognitive base (Cambridge, UK; New York: Cambridge University Press). tr. 111–129. ISBN 978-0-521-63964-4. OCLC 37742390. 
  15. ^ a ă Fitch, W. T. (2004). “Kin selection and "mother tongues": a neglected component in language evolution” (PDF). Trong Ulrike Griebel; D Kimbrough Oller. Evolution of communication systems: a comparative approach. Cambridge, Massachusetts: MIT Press. tr. 275–296. ISBN 978-0-262-15111-5. OCLC 845673575. 
  16. ^ Hamilton, W. D. (1964). “The genetical evolution of social behaviour. I, II”. Journal of Theoretical Biology 7 (1): 1–52. PMID 5875341. doi:10.1016/0022-5193(64)90038-4. 
  17. ^ a ă Tallerman, Maggie (2013). Rudolf P Botha, Martin Everaert, biên tập. Kin selection, pedagogy and linguistic complexity: whence protolanguage?. The evolutionary emergence of language: evidence and inference (Oxford, UK: Oxford University Press). tr. 77–96. ISBN 978-0-19-965485-7. OCLC 856795812. 
  18. ^ Ulbæk, Ib (1998). James R Hurford; Michael Studdert-Kennedy; Chris Knight, biên tập. The origin of language and cognition. Approaches to the evolution of language: social and cognitive base (Cambridge, UK; New York: Cambridge University Press). tr. 30–43. ISBN 978-0-521-63964-4. OCLC 37742390. 
  19. ^ Trivers, R. L. (1971). “The evolution of reciprocal altruism”. Quarterly Review of Biology 46: 35–57. doi:10.1086/406755. 
  20. ^ a ă Knight, Chris (2006). Angelo Cangelosi; Andrew D M Smith; Kenny Smith, biên tập. Language co-evolved with the rule of law (PDF). The evolution of language: proceedings of the 6th international conference (EVOLANG6), Rome, Italy, 12–15 April 200 (New Jersey: World Scientific Publishing). tr. 168–175. ISBN 978-981-256-656-0. OCLC 70797781. 
  21. ^ Dessalles, Jean L. (1998). James R Hurford; Michael Studdert-Kennedy; Chris Knight, biên tập. Altruism, status and the origin of relevance. Approaches to the evolution of language: social and cognitive base (Cambridge, UK; New York: Cambridge University Press). tr. 130–147. ISBN 978-0-521-63964-4. OCLC 37742390. 
  22. ^ a ă Dunbar, R. I. M. (1996). Grooming, gossip and the evolution of language. London: Faber and Faber. ISBN 9780571173969. OCLC 34546743. 
  23. ^ von Heiseler, Till Nikolaus (2014). “Language evolved for storytelling in a super-fast evolution”. Trong R. L. C. Cartmill. Evolution of Language. London: World Scientific. tr. 114–121. 
  24. ^ Power, C. (1998). “Old wives' tales: the gossip hypothesis and the reliability of cheap signals”. Trong J. R. Hurford; M. Studdert Kennedy; C. Knight. Approaches to the Evolution of Language: Social and Cognitive Bases. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 111 29. 
  25. ^ Lewis, Jerome (2009). Rudolf P Botha; Chris Knight, biên tập. As Well as Words: Congo Pygmy Hunting, Mimicry, and Play. The cradle of language (Oxford; New York: Oxford University Press). tr. 236–256. ISBN 978-0-19-954586-5. OCLC 804498749. 
  26. ^ Enfield, N. J. (2010). “Without social context?” (PDF). Science 329 (5999): 1600–1601. Bibcode:2010Sci...329.1600E. doi:10.1126/science.1194229. 
  27. ^ Watts, Ian (2009). Rudolf P Botha; Chris Knight, biên tập. Red Ochre, Body Painting, and Language: Interpreting the Blombos Ochre. The cradle of language (Oxford; New York: Oxford University Press). tr. 62–92. ISBN 978-0-19-954586-5. OCLC 804498749. 
  28. ^ Steels, L. (2009). Rudolf P. Botha, Chris Knight, biên tập. Is sociality a crucial prerequisite for the emergence of language?. The prehistory of language (Oxford; New York: Oxford University Press). ISBN 978-0-19-954587-2. OCLC 819189595. 
  29. ^ Deacon, Terrence William. (1997). The symbolic species: the co-evolution of language and the brain. New York: W.W. Norton. ISBN 978-0-393-03838-5. OCLC 807018262. 
  30. ^ Knight, Chris (2010). Ulrich J Frey; Charlotte Störmer; Kai P Willführ, biên tập. The origins of symbolic culture (PDF). Homo novus: a human without illusion (Berlin; New York: Springer). tr. 193–211. ISBN 978-3-642-12141-8. OCLC 639461749. 
  31. ^ Chomsky, Noam (2011). “Language and Other Cognitive Systems. What is Special About Language?”. Language Learning and Development 7 (4): 263–78. doi:10.1080/15475441.2011.584041. 
  32. ^ Chomsky, N. (2005). “=Three factors in language design”. Linguistic Inquiry 36 (1): 1–22. doi:10.1162/0024389052993655. 
  33. ^ Vyshedskiy, Andrey (ngày 29 tháng 7 năm 2019). “Language evolution to revolution: the leap from rich-vocabulary non-recursive communication system to recursive language 70,000 years ago was associated with acquisition of a novel component of imagination, called Prefrontal Synthesis, enabled by a mutation that slowed down the prefrontal cortex maturation simultaneously in two or more children – the Romulus and Remus hypothesis”. Research Ideas and Outcomes 5. ISSN 2367-7163. doi:10.3897/rio.5.e38546. 

Liên kết ngoàiSửa đổi