Nguyễn Huy Lượng

Nguyễn Huy Lượng (chữ Hán: 阮輝諒; 1750 - 1808) là Nhà chính trị, danh sỹ nổi tiếng ở cuối đời Lê trung hưng, nhà Tây Sơn đến đầu đời nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Tiểu sửSửa đổi

Nguyễn Huy Lượng bút hiệu là Bạch Liên Am Nguyễn tiên sinh, người làng Sủi, tức làng Trung Nghĩa, hay làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh cũ, nay thuộc Hà Nội. Có một thời gian ngắn di cư chạy loạn sang làng Lương Xá, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội) do bố ông là Nguyễn Huy Bá có 01 người vợ dòng dõi họ Đặng ở làng này (nay là Làng Lam Điền).

Họ Nguyễn Huy là một dòng họ có nhiều người hiển đạt nhất của làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc xưa. Nguyễn Huy Nhuận đỗ tiến sĩ năm 1703 (làm quan trải đến chức Tham tụng (Tể tướng). Con ông là Nguyễn Huy Dận đỗ tiến sĩ năm 1748. Con ông Huy Dận là Nguyễn Huy Cẩn (tức Cận) đỗ tiến sĩ năm 1760. Hai người em con chú của Nguyễn Huy Nhuận là Nguyễn Huy Mãn, Nguyễn Huy Thuật cũng lần lượt đỗ tiến sỹ. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc, thì dường như cha Nguyễn Huy Lượng có dính líu đến vụ tố cáo âm mưu Trịnh Khải chống lại cha là chúa Trịnh Sâm, nên khi Trịnh Khải lên làm chúa thì ông phải lánh sang tị nạn ở làng Lương Xá. Tuy nhiên, theo GS. Nguyễn Lộc thì cha Nguyễn Huy Lượng không đỗ đạt gì, chỉ ở nhà chuyên làm ruộng. Tuy nhiên, theo Gia phả gốc của dòng họ Nguyễn Huy thì nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc là chính xác. Theo "Di trạch đường phả ký" viết năm 1802 do Tiền quân Văn hàn Nguyễn Huy Doanh soạn lại thì Nguyễn Huy Lượng sinh ra trong một dòng họ danh gia vọng tộc ở huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Ông nội Nguyễn Huy Lượng là Tiến sỹ Nguyễn Huy Mãn, cha ông là Tiến sỹ (Tiến triều) Đông các Đại học sỹ Nguyễn Huy Bá (một đại quan thời đó, thân thiết với Đặng Thị Huệ, Ngô Thì Nhậm), anh họ của ông là Hội nguyên Tiến sỹ Nguyễn Huy Cẩn (con Tiến sỹ Nguyễn Huy Dận). Môn đăng hộ đối với bên bố là bên mẹ ông, thuộc dòng họ Nguyễn Gia cùng phủ Thuận An trấn Kinh Bắc, mẹ ông là con gái út của Siêu quận công Nguyễn Gia Châu, vì thế ông gọi Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều là anh họ bên mẹ (bên ngoại), thường xuyên đàm luận văn chương. Nguyễn Gia Thiều viết "Cung oán ngâm khúc" thì Nguyễn Huy Lượng viết "Cung oán thi" gồm 100 bài cùng chủ đề về nỗi đau khổ của những tỳ thiếp bị giam hãm trong cung vua[1]. Hiện nay, còn lưu giữ được một số bài viết về đàm luận văn chương, thù tạc giữa Nguyễn Huy Lượng và Nguyễn Gia Thiều (con cháu dòng họ Nguyễn Huy, hậu duệ ở Làng Sủi hiện còn lưu giữ).

Dưới thời -Trịnh, Nguyễn Huy Lượng thi đỗ Hương cống (cử nhân), được bổ làm Phụng nghi bộ Lễ (tức là một chức quan nhỏ phụ trách việc xem xét các lễ vật khi cúng tế).

Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung ra Bắc, đại phá quân Thanh (Trung Quốc), giải phóng Bắc Hà. Nguyễn Huy Lượng sau đó ra làm quan cho triều Tây Sơn cùng Ngô Thì Nhậm, Vũ Huy Tấn... Ông nhận chức Hữu thị lang Bộ Hộ, tước Chương lĩnh hầu.

Năm 1801, vua Cảnh Thịnh làm lễ tế giao ở một địa điểm gần Hồ Tây, đã giao cho Nguyễn Huy Lượng, bấy giờ đang là Hữu thị lang bộ Hộ (Bộ Hộ thời Lê giữ việc ruộng đất, nhân khẩu, kho tàng, thu phát, bổng lộc, đồ cống nạp, thuế khoá, muối và sắt. Bộ Hộ thời Nguyễn giữ chính sách điền thổ, hộ khẩu, tiền thóc, điều hòa nguồn của cải nhà nước, ngoài ra bộ Hộ còn được xem là bộ Lao động Sản Xuất) nên còn được gọi là Hữu Hộ Lượng, tước Chương Lĩnh hầu), soạn một bài thơ và một bài phú tiến dâng, và bài Tụng Tây Hồ phú nổi tiếng đã ra đời nhân dịp này.

Sau khi nhà Tây Sơn bị diệt, triều Nguyễn (Gia Long) triệu tập ông, bắt buộc nhận chức Tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Khi vua Gia Long đi tuần du, ông được đi theo. Nhờ vậy, ông soạn được bài Ngự đạo hành cung nhật trình (Con đường từng ngày của nhà vua qua các hành cung).

Theo sách Minh đô sử thì ông bị bức tử năm 1808 [2].

Tác phẩmSửa đổi

Sáng tác của Nguyễn Huy Lượng đa số đều được viết bằng chữ Nôm, hiện còn:

  • Tụng Tây Hồ phú (Phú ca tụng hồ Tây). Đây là bài phú chữ Nôm, gồm 86 liên, dùng chỉ một vần "hồ" (độc vận). Dụng ý của tác giả là mượn cảnh Tây Hồ để tán tụng sự nghiệp và công đức của nhà Tây Sơn. Đây là lúc triều đại này đã suy mà ông vẫn viết nên bài phú với một niềm say sưa không hề giảm.

Cuốn "Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến" có đoạn viết: Có thể nói, trước và sau Nguyễn Huy Lượng, chưa hề có một tác phẩm nào viết về non sông đất nước Thăng Long Hà Nội hay đến thế, đẹp đến thế. Chỉ với một danh tác ấy cũng đủ xếp Nguyễn Huy Lượng vào hàng những văn nghệ sĩ tài hoa bậc nhất Thăng Long...Áng văn Nôm trác tuyệt tân kỳ, dân Hà thành hồi ấy gọi là "Phú ông Lựợng". Trong khi người ta đổ xô đi tìm mua giấy mực về chép lại khiến cho giá giấy phường Hàng Giấy, Hàng Gai vọt hẳn lên [3].

Nhờ câu: Ngoài năm mươi thẹn bóng tang du có trong bài mà đoán rằng lúc này ông đã ngoài 50 tuổi. Về sau, Phạm Thái lấy nguyên vận bài này làm ra bài Chiến tụng Tây Hồ phú để chống lại lời tán tụng của Nguyễn Huy Lượng.

  • Lượng như long phú (Phú Lượng như rồng). Bùi Hạnh Cẩn biên dịch, đã in sách.
  • Ngự đạo hành cung nhật trình (Con đường từng ngày của nhà vua qua các hành cung).
  • Cung oán thi (Thơ về nỗi oán của người cung nữ). Đây là tập thơ gồm 100 bài thơ Đường luật (thất ngôn bát cú). Có tài liệu nói đây là tác phẩm của Vũ Trinh hoặc Nguyễn Hữu Chỉnh, tuy nhiên gần đây mới xác định là của ông [4]. Trong bản "Cung oán thi" còn lưu tại Thư viện Đại học Yale (Mỹ) còn ghi rõ tác giả là Bạch Liên Am Nguyễn tiên sinh soạn, và ghi rõ quê của ông "Bắc Ninh, Gia Lâm, Trung Nghĩa lý". (Thời đó, làng Sủi có tên chữ là làng Trung Nghĩa (do chúa Trịnh ban danh vì đã có công chống lại giặc cướp). TS. Nguyễn Hữu Sơn (Viện Văn học) đã nghiên cứu và phiên âm, dịch, chú giải cuốn sách này. Sách ký hiệu: AB.549 tại Viện nghiên cứu Hán Nôm.
  • Văn tế tướng sĩ trận vong

GS.Nguyễn Huệ Chi và GS. Nguyễn Lộc cho biết: Bấy lâu nay có nhiều sách ghi bài này là của Tổng trấn Trần Văn Thành. Nhưng theo một vài tài liệu Hán Nôm còn giữ được, trong đó có bộ Minh đô sử do Lê Trọng Hàm làm chủ biên, thì trước khi làm lễ tế các tướng sĩ nhà Nguyễn tử trận, Tổng trấn Thành đã cho mời Nguyễn Huy Lượng và Phan Huy Ích đến dinh để cùng làm văn tế. Sau đấy, bài của ông Lượng được chọn dùng...[5]. Tuy nhiên, phát hiện này vẫn có người chưa đồng thuận.

  • Hy Minh thi tập.

Sách chữ Hán tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.526. Bài tựa tập thơ cho biết, Nguyễn Huy Lượng vốn quê làng Phú Thị, Gia Lâm là một tác gia văn học nổi tiếng nước ta, nhất là về thơ phú Nôm. Lời tựa tập sách cho biết "Tổ của Nguyễn Huy Lượng từng nhậm chức Thượng thư Bộ Hộ, tước Triệu Quận công", Triệu Quận công chính là Nguyễn Huy Nhuận.[Đinh Khắc Thuân 1]

  • Chinh Phụ Ngâm Diễn Ca (lục bát) (Nguyễn Huy Lượng). Học giả Hoàng Xuân Hãn viết "Chinh phụ ngâm bị khảo", có dịch và sao lục bài này ra quốc ngữ. Nxb. Minh Tân, Paris, 1953), tr. 207-218;
  • Thơ Tây Hồ (đọc xuôi và đọc ngược), 1801;
  • Phan Trần truyện;
  • .......

Nguyễn Huy Lượng còn để lại nhiều tác phẩm văn nôm. Phong cách văn ông vừa tài hoa, vừa có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Trước nay học giới đã quen với phong cách mạnh mẽ hùng biện của ông qua các bài phú, văn tế. Trong khung cảnh học thuật cổ thời, văn biền ngẫu mà có phong cách lôi cuốn như bài Tụng Tây Hồ Phú và bài Văn Tế  Nghĩa Sĩ Trận Vong thì phải là người văn tài hơn người.

Cho đến nay, chúng ta biết được văn tài Nguyễn Huy Lượng qua các bài văn Tụng Tây Hồ Phú và Văn Tế Tướng Sĩ Trận Vong. Hình ảnh nhà văn Nguyễn Huy Lượng qua những câu văn biền ngẫu trên là một người học rộng, thấm nhuần phong cách văn chương cổ điển, chữ nghĩa người xưa đầy ắp trong câu văn ông mà quý thay con người cá nhân nhà văn vẫn không chìm ngập trong kho chữ nghĩa tập cổ đó; ông đã lặn sâu trong chữ nghĩa mà vẫn nổi lên khỏi nó để chữ nghĩa văn từ trong bài văn vẫn là mình, phản ảnh bản sắc con người mình. Một bài phú Tây Hồ đã tập đại thành đầy đủ phong cách văn chương này. Hiểu và thích thú với văn chương bài phú đòi hỏi công phu làm quen với phong cách từ chương cổ điển; nhưng chữ nghĩa vần không làm mờ nhạt bản sắc văn phong cá nhân tác giả bài văn biền nổi tiếng.

Bên cạnh con người nhà văn nho sĩ có khẩu khí hào sảng, tràn đầy sức sống, từ nay chúng ta còn biết thêm là có một Nguyễn Huy Lượng tài hoa, văn chương nhã luyện của phong cách văn chương thời đại ông: văn chương lãng mạn, tài tử. Phong cách bài phỏng dịch Chinh Phụ Ngâmcủa Bạch Liên Am là phong cách tài hoa, giàu mĩ cảm. Những câu thơ tự tình lục bát mềm mại của bài ngâm cũng đã thể hiện nữ tính đa cảm của người chinh phụ, khắc hoạ một chân dung cảm xúc phong nhiêu của một nhà văn giàu sức liên cảm với số phận nhưng con người quanh ông, cụ thể trong bài văn Chinh Phụ Ngâm này là của người phụ nữ mong chồng chinh chiến sớm trở về. 246 câu thơ lục bát đó còn là biểu hiện của tấm lòng liên ái những phận người kém may mắn, thua thiệt trong một xã hội đã quá nhiều tao loạn. Tấm lòng rộng lớn của nhà văn chưa đủ làm nên nhà văn lớn nếu ông không có một tài năng hơn người khi vận dụng ngôn từ để trải lòng mình ra trên giấy. Những cung bậc tình cảm của người phụ nữ trong bài Chinh Phụ Ngâm lục bát đã phản ảnh con người tài hoa đa cảm của nhà văn Bạch Liên Am.

Trong Truyện Phan Trần, những nhân vật (vốn xuất thân là những người thuộc đẳng cấp nho sĩ) đã nếm trải hết mùi vị cuộc sống, từ dùi mài kinh sử, đến yêu đương nồng nhiệt của tuổi trẻ, từ những thất bại trong khoa trường và tình trường đến những hạnh phúc gia đình yêu thương và vinh hoa của đời phục vụ xã hội. Những hạnh phúc và đau khổ, những khuôn thước xã hội và những quá đà trong đời sống tình cảm tuổi trẻ, những cảm nhận về nhân tình thế thái mà ta thấy trong dọc dài câu chuyện kể về một mối tình lãng mạn hẳn phải là phản ảnh kho kinh nghiệm sống của tác giả truyện nôm này. Nói cách khác, Bạch Liên Am phả vào từng câu thơ phong cách con người đa tình tài hoa của một nhà văn nho thần.

Nói về phong cách văn chương Truyện Phan Trần, không thiếu những câu lục bát giàu chất thơ như ta thường gặp trong kho tàng truyện nôm lục bát ở thời kì cuối thế kỉ  XVII-đầu thế kỉ XIX. Phong cách chung những câu lục bát trong truyện nôm là những kĩ xảo tiểu đối, cân phương, hô ứng, ý ở ngoài lời…, tạo nên phong cách bóng bẩy của văn chương, của ngôn từ văn học một thời. Trong chừng mức này, Truyện Phan Trần là một truyện nôm sánh ngang cùng những danh tác cùng thời đại của nó[6].

Vinh danhSửa đổi

Hiện nay, tại TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng, TP. Huế, TP. Quy Nhơn - Bình Định, TP. Rạch Giá - Kiên Giang có đường phố mang tên ông. Ở Hà Nội chưa có. Trong Bảo tàng Tây Sơn ở Bình Định hiện nay có lưu danh tiếng của ông cùng với Ngô Thì Nhậm và một số vị danh sỹ khác trong một bảng vàng rất long trọng.

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Xem Cung oán thi
  2. ^ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 544) và Từ điển văn học (bộ mới, tr. 1148) đều chép theo Minh đô sử. Đây là bộ sách bằng chữ Hán, gồm 100 quyển, làm ra năm 1922, do nhiều người soạn (Lê Trọng Hàm làm chủ biên).
  3. ^ Theo Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến, Nhà xuất bản Lao động, 2009, trang 312.
  4. ^ Theo Từ điển văn học (bộ mới), tr. 1149.
  5. ^ Theo GS. Nguyễn Huệ Chi (Gương mặt văn học Thăng Long, tr. 709) và GS. Nguyễn Lộc (Từ điển Văn học, bộ mới, tr. 1140). Theo Minh đô sử thì cuộc tế này được tổ chức vào năm 1802.
  6. ^ Chú thích trống (trợ giúp) 

Tham khảoSửa đổi

  • Nguyễn Lộc, mục từ "Nguyễn Huy Lượng" trong Từ điển Văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • GS. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), bài "Nguyễn Huy Lượng và Phạm Thái xung quanh bài phú Tụng Tây Hồ" in trong Gương mặt văn học Thăng Long. Nhà xuất bản Hà Nội 2010.
  • Nguyễn Thạch Giang, Văn học thế kỷ 18. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.
  • PGS.TS. Đinh Khắc Thuân (Viện nghiên cứu Hán Nôm, 2018). Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Huy Nhuận qua tài liệu Hán Nôm. (Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tiến sỹ Nguyễn Huy Nhuận (1678-1758) và dòng họ khoa bảng Nguyễn Huy Làng Sủi, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội.
  • Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992.
  • Nguyễn Vinh Phúc, "Hữu thị lang Nguyễn Huy Lượng" đăng trên website Hà Nội [1], [2]
  • Kinh Bắc phong thổ ký diễn quốc sự.


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “Đinh Khắc Thuân”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="Đinh Khắc Thuân"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu