Nguyễn Phúc Mân (chữ Hán: 安邊郡王 阮福旻; ? – 26 tháng 3 năm 1783), là một công tử con của Khang vương Nguyễn Phúc Luân (sau được vua Gia Long truy tôn Khang Hoàng đế) trong lịch sử Việt Nam.

An Biên Quận vương
安邊郡王
Thông tin chung
Tên húy
Nguyễn Phúc Mân
阮福旻
Thụy hiệu
Trung Hoài An Biên Quận vương
忠懷安邊郡王
Thân phụKhang Hoàng đế
Nguyễn Phúc Luân
Thân mẫuNguyễn Từ phi
Sinh?
Mất26 tháng 3 năm 1783

Tiểu sửSửa đổi

Công tử Mân, hay còn gọi là Tôn Thất Mân, là con trai thứ năm của Khang vương Nguyễn Phúc Luân và là em khác mẹ với vua Gia Long nhà Nguyễn[1]. Mẹ của công tử là bà Nguyễn Từ phi, chị của Hiếu Khang Hoàng hậu Nguyễn Thị Hoàn. Không rõ năm sinh của ông[2].

Mùa xuân năm Ất Mùi (1775), Tôn Thất Mân theo chúa Nguyễn Phúc Thuần và những người anh em vào Gia Định đánh giặc, được bổ chức Thiếu phó Quận công[1]. Năm Nhâm Dần (1782), quân Tây Sơn tấn công Gia Định, ông cùng Chu Văn Tiếp chia các tướng ra từng bộ để đánh nhau với tướng Đỗ Nhàn Trập ở Ngưu Chữ (tức Bến Nghé), chiếm lại Gia Định, rước Nguyễn Ánh từ Phú Quốc về[1].

Mùa xuân năm Quý Mão (1783), quân Tây Sơn lại tấn công, Tôn Thất Mân giữ đồn Giác Ngư[3]. Đồn bị vây hãm, ông chạy sang cầu phao bỏ trốn. Đô đốc Tây Sơn là Lê Văn Kế cho chặt đứt cầu phao[4], Tôn Thất Mân rơi xuống nước mà chết đuối, là ngày 24 tháng 2 (âm lịch)[2].

Năm Kỷ Dậu (1789), vua Gia Long truy tặng cho Tôn Thất Mân chức Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Cẩm y vệ Chưởng vệ sự Chưởng doanh, thụy là Trung Dũng (忠勇). Năm Gia Long thứ 4 (1805), vua tiếp tục truy tặng ông làm Dực Vận Tuyên Lực tôn thần, Khai phủ phụ quốc Nguyên soái, Thiếu phó, Quận công, thuỵ là Trung Liệt (忠烈), cho phụ tế ở Thái miếu. Năm thứ 13 (1814), tiếp gia tặng là Tuyên Lực tôn thần, Khai phủ phụ quốc Nguyên soái Thái phó, Nghị công, thụy là Trung Hiến (忠獻), chuyển sang thờ ở đền Triển Thân[1].

Năm Giáp Thân, Minh Mạng thứ 5 (1824), vua chuyển ông sang thờ ở Thế miếu. Năm thứ 12 (1831), gia tặng là Tá Vận tôn thần, Tôn nhân phủ tôn nhân lệnh, đổi tên thụy là Trung Hoài (忠懷), phong tước An Biên Quận vương[1]. Đến năm Canh Tuất (1850), Tự Đức lại cho rước bài vị của ông về thờ ở đền Thân Huân[1].

Tôn Thất Mân không có con thừa tự[1].

Sách tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d đ Đại Nam liệt truyện, tập 2, quyển 2 - phần An Biên quận vương Mân
  2. ^ a ă Nguyễn Phúc Tộc, tr.225-226
  3. ^ Lũy Giác Ngư, hay còn gọi dân dã là đồn Cá Trê, nằm ở tả ngạn sông Sài Gòn, gần cầu Tân Thuận ngày nay.
  4. ^ Ngô Giáp Đậu, sđd