Như Tùng (chữ Hán: 如松; 1737 - 1770), Ái Tân Giác La, là một Hoàng thân thuộc 1 trong 12 Thiết mạo tử vương của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Như Tùng
如松
Thân vương nhà Thanh
Đa La Tín Quận vương
Tại vị1762 - 1770
Tiền nhiệmĐức Chiêu
Kế nhiệmTu Linh
Thông tin chung
Sinh1737
Mất1770
Phối ngẫuxem văn bản
Hậu duệxem văn bản
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La Như Tùng
(愛新覺羅 如松)
Thụy hiệu
Đa La Tín Khác Quận vương
(多羅信恪郡王)
Hòa Thạc Duệ Khác Thân vương
(和碩睿恪親王)
Hoàng tộcÁi Tân Giác La
Thân phụDuệ Thân vương Công Nghi Bố
Thân mẫuĐích Phúc tấn Chu Giai thị

Cuộc đờiSửa đổi

Như Tùng sinh vào giờ Mẹo, ngày 16 tháng 2 (âm lịch) năm Càn Long thứ 2 (1737), trong gia tộc Ái Tân Giác La. Ông là con trai thứ ba của Truy phong Duệ Khác Cần Thân vương Công Nghi Bố (功宜布) - tằng tôn của Truy phong Duệ Thân vương Đa Nhĩ Bác. Mẹ ông là Đích Phúc tấn Chu Giai thị (周佳氏).

Năm Càn Long thứ 11 (1746), tháng 6, phụ thân ông qua đời, ông được tập phong tước Phụng ân Phụ quốc công (奉恩輔國公).

Năm thứ 20 (1755), tháng 7, thưởng chức Tán trật Đại thần, được phép vào Càn Thanh môn hành tẩu.

Năm thứ 21 (1756), tháng 4, thụ Kiện Duệ doanh Thống lĩnh (健銳營統領). Tháng 6 cùng năm, nhậm Phó Đô thống Mãn Châu Tương Hoàng kỳ (鑲黃旗滿洲副都統).

Năm thứ 22 (1757), tháng giêng, thụ Chính Bạch kỳ Lĩnh thị vệ Nội đại thần rồi Tông Nhân phủ Hữu tông nhân (右宗人). Tháng 2 cùng năm, nhậm Binh bộ Thị lang. Đến tháng 4 cùng năm, lại nhậm Phó Đô thống Mãn Châu Tương Hồng kỳ.

Năm thứ 23 (1758), tháng 2, điều làm Phó Đô thống Mãn Châu Chính Hoàng kỳ.

Năm thứ 24 (1759), tháng 6, nhậm Tông Nhân phủ Tả tông nhân (左宗人), quản lý sự vụ Chính Hoàng kỳ Tân doanh trại (正黃旗新營房事務). Tháng 9, thăng làm Binh bộ Thượng thư. Đến tháng 12, thụ Chính Hoàng kỳ Lĩnh thị vệ Nội đại thần.

Năm thứ 25 (1760), tháng 10, được phong Viễn thành Tướng quân (遠城將軍).

Năm thứ 26 (1761), tháng 12, điều làm Tây An Tướng quân.

Năm thứ 27 (1762), tháng 5, Tín Khác Quận vương Đức Chiêu qua đời, triều đình lấy ông là hậu duệ của Đa Đạc, nên được kế tục tước vị Tín Quận vương (信郡王). Khi ấy cũng truy phong tằng tổ phụ Tô Nhĩ Phát (蘇爾發), tổ phụ Tắc Lặc (塞勒) và phụ thân Công Nghi Bố (功宜布) làm Tín Quận vương. Tháng 7 cùng năm, thụ Đô thống Hán quân Chính Bạch kỳ. Tháng 8, điều làm Đô thống Mông Cổ Chính Lam kỳ.

Năm thứ 28 (1763), tháng 6, quản lý Niêm Can xứ (粘杆處). Tháng 7, nhậm Tông Nhân phủ Hữu tông chính (右宗正), quản lý sự vụ Ưng Diêu xứ (鷹鹞處) rồi Tổng lý Hữu dực Tông học (總理右翼宗學). Tháng 10 cùng năm, quản lý sự vụ Tông Nhân phủ Ngân khố (銀庫).

Năm thứ 29 (1764), tháng 4, nhậm Đô thống Hán quân Tương Bạch kỳ.

Năm thứ 30 (1765), tháng 9, điều làm Đô thống Mông Cổ Tương Hoàng kỳ. Tháng 11, vì duyên sự nên ông bị cách bỏ sở quản sự vụ.

Năm thứ 35 (1770), ngày 10 tháng 11 (âm lịch), giờ Thân, ông qua đời, thọ 34 tuổi, được truy thụy Tín Khác Quận vương (信恪郡王).

Năm thứ 43 (1778), tháng 7, Càn Long Đế ra chỉ Đa Nhĩ Cổn bị tiểu nhân vu tội, lại có công khai quốc, nên phục nhậm tước vị Duệ Thân vương (睿親王), ban thụy hiệu "Trung" (忠), xứng hưởng Thái Miếu, từ đó được thế tập võng thế. Ngoài ra, còn nói Đa Nhĩ Bác vẫn là hậu duệ của Đa Nhĩ Cổn, lệnh cho con trai thứ ba của ông là Thuần Dĩnh thế tập tước vị. Khi ấy ông được truy phong làm Duệ Khác Thân vương (睿恪親王).

Gia quyếnSửa đổi

Thê thiếpSửa đổi

Đích Phúc tấnSửa đổi

  • Đông Giai thị (佟佳氏), con gái của Thừa Ân công Na Mục Đồ (那穆圖) - cháu nội của Đông Quốc Cương. Bà là một nữ thi nhân thời Thanh, có các tác phẩm "Vấn thi lâu hợp tuyển" (问诗楼合选), "Tuệ duy lệ thảo · ô tư tồn thảo" (穗帷泪草 · 乌私存草) và "Hư song nhã khóa" (虚窗雅课), ngoài ra còn có "Hội Cảnh hiên độc họa ký".

Thứ Phúc tấnSửa đổi

  • Lương thị (梁氏), con gái của Lục Thập Nhất (六十一).
  • Lý thị (李氏), con gái của Lục Đạt Tắc (六達塞).

Hậu duệSửa đổi

Con traiSửa đổi

  1. Mậu Đồng (茂同; 1756 - 1764), mẹ là Đích Phúc tấn Đông Giai thị. Chết yểu.
  2. Mậu Kiệt (茂傑; 1758 - 1759), mẹ là Đích Phúc tấn Đông Giai thị. Chết yểu.
  3. Thuần Dĩnh (湻穎; 1761 - 1800), mẹ là Đích Phúc tấn Đông Giai thị. Năm 1778 được thế tập tước vị Duệ Thân vương (睿親王). Sau khi qua đời được truy thụy Duệ Cung Thân vương (睿恭親王). Có chín con trai.
  4. Thuần Minh (湻明; 1763 - 1766), mẹ là Đích Phúc tấn Đông Giai thị. Chết yểu.
  5. Thuần Tú (湻秀; 1763 - 1763), mẹ là Thứ Phúc tấn Lý thị. Chết yểu.
  6. Thuần Kính (湻敬; 1764 - 1765), mẹ là Thứ Phúc tấn Lương thị. Chết yểu.
  7. Thuần Linh (湻靈; 1766 - 1766), mẹ là Đích Phúc tấn Đông Giai thị. Chết yểu.

Tham khảoSửa đổi