Nintendo DS Lite [a]máy chơi trò chơi cầm tay hai màn hình do Nintendo phát triển và sản xuất. Máy là một thiết kế lại, mỏng hơn, sáng hơn và nhẹ hơn của Nintendo DS gốc. Máy được công bố vào ngày 26 tháng 1 năm 2006, hơn một tháng trước khi phát hành lần đầu tại Nhật Bản vào ngày 2 tháng 3 năm 2006 do nhu cầu quá lớn đối với phiên bản gốc.[2] Máy đã được phát hành ở Úc, Bắc Mỹ, Châu Âu, New Zealand, Singapore và các khu vực xác định ở Nam Mỹ, Trung ĐôngĐông Á. Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2014, số lượng xuất xưởng của DS Lite đã đạt 93,86 triệu trên toàn thế giới, theo Nintendo.[1]

Nintendo DS Lite
Nintendo DS Lite logo.svg
Nintendo-DS-Lite-Black-Open.jpg
Một máy Nintendo DS Lite màu đen
Còn được gọiiQue DS Lite (China)
Nhà chế tạoNintendo
Dòng sản phẩmDòng Nintendo DS
LoạiMáy chơi trò chơi điện tử cầm tay
Thế hệThế hệ thứ bảy
Ngày ra mắt
  • JP 2 tháng 3 năm 2006
  • AUS 1 tháng 6 năm 2006
  • NA 11 tháng 6 năm 2006
  • EU 23 tháng 6 năm 2006
  • CHN 26 tháng 6 năm 2006
  • KOR 18 tháng 1 năm 2007
Ngừng sản xuấtToàn thế giới: ngày 31 tháng 3 năm 2014
Số lượng vận chuyểnThế giới: 93.86 triệu (tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2014)[1] (details)
Truyền thôngGame Boy Advance băng
Nintendo DS Game Card
CPU67 MHz ARM9 và 33 MHz ARM7
Lưu trữThẻ game, 4 MB RAM, bộ nhớ flash 256 KB
Kết nốiWi-Fi
Dịch vụ trực tuyếnNintendo Wi-Fi Connection
Trò chơi bán chạy nhấtNew Super Mario Bros, khoảng 30.80 triệu bản
Sản phẩm trướcNintendo DS (Thiết kế trước đó)
Game Boy Advance
Sản phẩm sauNintendo DSi (Thiết kế lại)
Dòng Nintendo 3DS

Quá trình ra mắt và phát triểnSửa đổi

DS Lite không công bố phiên bản lớn hơn.[3] Khi phiên bản này đã sẵn sàng để sản xuất hàng loạt, Nintendo đã quyết định không phát hành vì doanh số của DS Lite vẫn rất cao. Thay vào đó, Nintendo chuẩn bị ra mắt DSi và phát hành phiên bản " DSi XL" một năm sau đó.

DS Lite có kích thước màn hình tăng lên 3,8 inch (9,7 cm) (nhỏ hơn một chút so với 4,2 inch (11 cm) màn hình của DSi XL 4,2 inch (11 cm)) và thiếu góc nhìn rộng của DSi XL.

Nhật BảnSửa đổi

Nintendo DS Lite được phát hành vào ngày 2 tháng 3 năm 2006 tại Nhật Bản, với giá bán lẻ đề xuất là 16.800 yên, nhưng do thiếu nguồn cung và nhu cầu quá lớn của Nintendo DS khi ra mắt tại Nhật Bản, nhiều nhà phân phối thiết bị điện tử châu Á đã tăng giá bán lẻ của hệ máy được thiết kế lại này lên đến 23.300 yên. Trên một số trang web đấu giá của Nhật Bản, máy đã được chào bán với giá rất cao, lên đến 40.000 yên.[4] Mặc dù Nintendo đã bán ra 550.000 máy vào tháng 3 năm 2006[5] (cao hơn dự đoán ban đầu của họ), DS Lite đã được bán hết ngay sau khi ra mắt.[6] Sự thiếu hụt được cho là sẽ giảm bớt sau khi Nintendo phát hành 700.000 Nintendo DS Lite trong tháng 4 năm 2006; tuy nhiên, các nhà bán lẻ ở Tokyo lại bán hết sạch hàng vào cuối tháng 5 năm 2006.[7] Sự thiếu hụt này kéo dài từ năm 2006 và 2007, các nhà bán lẻ trên toàn quốc có các thông cáo thường trực để xin lỗi về sự thiếu hàng và thông báo rằng vẫn chưa biết khi nào sẽ có. Khi sản phẩm đến tay, máy sẽ được bán hết ngay trong vài ngày. Vì lượng hàng dự trữ thất thường, việc tìm kiếm sản phẩm thường rất khó khăn, người dùng phải chịu khó đi đến các nhà bán lẻ khác nhau và hầu hết là không còn hàng. Điều này vẫn xảy ra ở Nhật Bản vào ngày 25 tháng 4 năm 2007, với việc các cửa hàng còn không thể chọn lựa những khách hàng tiềm năng do máy bán hết quá nhanh.[8]

ÚcSửa đổi

Nintendo DS Lite được phát hành tại Úc vào ngày 1 tháng 6 năm 2006 với giá 199,95 đô la Úc. Đi kèm với một bản demo của Dr. Kawashima's Brain Training: How Old Is Your Brain?[9] Tính đến giữa năm 2009, thiết bị được bán với giá khoảng 188,00 đô la Úc.[10][11]

Bắc MỹSửa đổi

Nintendo DS Lite phát hành vào ngày 11 tháng 6 năm 2006, với giá 129,99 đô la Mỹ (tính đến tháng 6 năm 2011 là 99,99 đô la Mỹ) và 149,99 đô la Canada ở Canada.[12]

Đã có nhiều báo cáo khác nhau về việc các cửa hàng Target, Wal-Mart, KmartMeijer ở Bắc Mỹ đã bán các máy Nintendo DS Lite sớm nhất là vào ngày 30 tháng 5 năm 2006, tức là trước cả ngày ra mắt chính thức.[13]

Vào ngày 12 tháng 6 năm 2006, GameSpot báo cáo Nintendo DS Lite ở Bắc Mỹ đã bán hết sạch tại các cửa hàng bán lẻ trực tuyến lớn, cũng như một số cửa hàng truyền thống.[14]

Vào ngày 13 tháng 6 năm 2006, Nintendo thông báo 136.500 máy đã được bán sạch trong hai ngày kể từ khi DS Lite được bán ở Bắc Mỹ và dường như đã đạt được kỷ lục doanh số của Nintendo DS gốc là 500.000 bản trong mười ngày đầu tiên.[15] Ngay sau khi ra mắt, DS Lite đã được bán hết tại các nhà bán lẻ lớn của Mỹ; tuy nhiên, không xảy ra tình trạng thiếu hụt liên tục như ở Nhật Bản trong năm 2006 và 2007.[6]

Châu ÂuSửa đổi

Nintendo DS Lite chính thức được phát hành tại Châu Âu vào ngày 23 tháng 6 năm 2006, với 99,99 bảng ở Anh, 149,99 euro ở các nước thuộc khu vực đồng euro. Tại Phần LanThụy Điển, DS Lite được phát hành vào ngày 22 tháng 6 năm 2006, do Midsummer. Chỉ trong 10 ngày, Nintendo thông báo đã bán được 200.000 DS Lite ở châu Âu.[16]

Vào ngày 12 tháng 7 năm 2006, tổ chức truyền thông Trung Quốc Sina.com đã báo cáo một container chứa lô hàng gửi sang châu Âu đã bị đánh cắp, trong đó có số hàng hóa trị giá 18 triệu đô la Hồng Kông (2.32 triệu đô la Mỹ), gồm máy Nintendo DS Lite màu đen và thẻ trò chơi.[17][18] Sau đó, GamesIndustry.biz báo cáo Nintendo đã thực sự xác nhận rằng "Một số DS Lite màu trắng sản xuất cho thị trường Anh đã bị đánh cắp ở Hồng Kông."[19]

Nam Triều TiênSửa đổi

Nintendo đã mở công ty con mới nhất của mình, Nintendo of Korea, do Mineo Kouda làm giám đốc, vào ngày 20 tháng 7 năm 2006. DS Lite là hệ máy chơi game đầu tiên được phát hành tại Hàn Quốc bởi một công ty con,[20] được phát hành vào ngày 18 tháng 1 năm 2007 với giá 150.000 won.[21] Nam diễn viên nổi tiếng Hàn Quốc Jang Dong-gunAhn Sung-ki đã quảng cáo cho máy. Nintendo of Korea tuyên bố họ đã bán được hơn một triệu máy trong năm đầu tiên với khoảng 1,4 triệu máy, tính đến tháng 4 năm 2008.[22][23]

Phần cứngSửa đổi

 
DS Lite (trái) so với DS gốc (phải)

Bài chi tiết: So sánh các máy chơi trò chơi điện tử cầm tay trên Nintendo

Đặc trưngSửa đổi

Nintendo DS Lite tương thích với Game Boy Advance và các trò chơi DS thông thường. DS Lite có một khe cắm DS ở trên cùng và khe Game Boy ở dưới cùng. Nó cũng có một micrô và màn hình kép.

So sánh kỹ thuậtSửa đổi

  • Có khả năng nhận tín hiệu Wi-Fi từ các hệ máy khác trong dòng Nintendo DS và 3DS, hệ thống Nintendo Wii và điểm truy cập Wi-Fi. Các mạng được mã hóa và không mã hóa WEP đều được hỗ trợ. Mã hóa WPA không được hỗ trợ.[24]
  • Hàng chục màu sắc và phiên bản giới hạn đã được phát hành.

Thông số kỹ thuậtSửa đổi

  • Kích thước: cao 73,9 mm (2,9 inch), rộng 133 mm (5,2 inch), dày 21,5 milimét (0,85 inch).
  • Màn hình phía trên: Một màn hình LCD màu TFT truyền sáng, 3,12 inch, có đèn nền với độ phân giải 256x192 pixel và có độ phân giải 24mm, khả năng hiển thị tổng cộng 262.144 màu
  • Màn hình cảm ứng: Thông số kỹ thuật tương tự như màn hình trên, nhưng có màn hình cảm ứng tương tự trong suốt.
  • Độ sáng màn hình:[25] Màn hình trên: Lên đến 200 cd/m² Màn hình cảm ứng: Lên đến 190 cd/m²
  • Giao tiếp không dây: IEEE 802.11; phạm vi không dây là 30 đến 100 feet; nhiều người dùng có thể chơi một số trò chơi nhiều người chơi nhất định với một thẻ DS bằng DS Download Play.
  • Điều khiển: Màn hình cảm ứng, micrô tích hợp bên trong để nhận dạng giọng nói, nút A/B/X/Y, nút điều hướng, nút đệm vai L/R, Nút Start và Select nhỏ và thanh trượt bật tắt Nguồn. Bút stylus dài hơn 1 cm và dày hơn 2 mm so với bút stylus của Nintendo DS gốc.
  • Đầu vào/Đầu ra: Có khe cắm cho cả thẻ Nintendo DS và băng Game Boy Advance, chỗ cắm dây tai nghe âm thanh nổi và micrô. Nắp che có thể tháo rời nằm ở khe cắm băng Game Boy Advance giúp bảo vệ khe khỏi bụi và các vật lạ khác.
  • Các tính năng khác: Phần mềm PictoChat tích hợp cho phép tối đa 16 người dùng trong phạm vi địa phương của nhau trò chuyện cùng một lúc; đồng hồ thời gian thực tích hợp; ngày, giờ và báo thức; hiệu chỉnh màn hình cảm ứng. Báo thức chỉ có thể được kích hoạt khi bật nguồn.
  • CPU: Hai bộ vi xử lý ARM, một CPU chính ARM946E-S và bộ đồng xử lý ARM7TDMI với tốc độ xung nhịp 67 MHz và 33 MHz tương ứng.[26]
  • Âm thanh: Loa âm thanh nổi cung cấp âm thanh vòm ảo, tùy thuộc vào phần mềm.
  • Pin: Pin Lithium ion (1000 mAh) cho từ 15 đến 19 giờ chơi và sạc ba giờ; chế độ ngủ tiết kiệm điện; cục sạc chuyển điện.

Phụ kiệnSửa đổi

Giống như tiền nhiệm, Nintendo DS Lite tương thích với phụ kiện Tai nghe Nintendo DS. Tuy nhiên, DS Lite sử dụng cục chuyển điện AC khác với cục được sử dụng cho Nintendo DS gốc và Game Boy Advance SP do cổng AC nhỏ hơn.[27]

Doanh số bán hàngSửa đổi

Xem thêm: Doanh số bán hàng của Nintendo DS

Số lượng máy đã xuất xưởng từ trước đến nay
Ngày Nhật Bản Mỹ Những nước khác Tổng cộng
ngày 31 tháng 3 năm 2006[28] 0.58 triệu
-
-
0.58 triệu
ngày 30 tháng 6 năm 2006[29] 2.72 triệu 0.68 triệu 0.76 triệu 4.15 triệu
ngày 30 tháng 9 năm 2006[30] 4.97 triệu 2.23 triệu 1.86 triệu 9.06 triệu
ngày 31 tháng 12 năm 2006[31] 7.89 triệu 4.84 triệu 4.60 triệu 17.33 triệu
ngày 31 tháng 3 năm 2007[32] 9.48 triệu 6.41 triệu 5.96 triệu 21.85 triệu
ngày 30 tháng 6 năm 2007[33] 11.56 triệu 8.81 triệu 8.32 triệu 28.69 triệu
ngày 30 tháng 9 năm 2007[34] 13.16 triệu 10.73 triệu 11.04 triệu 34.93 triệu
ngày 31 tháng 12 năm 2007[35] 15.12 triệu 14.85 triệu 16.00 triệu 45.97 triệu
ngày 31 tháng 3 năm 2008[36] 15.84 triệu 17.06 triệu 18.88 triệu 51.78 triệu
ngày 30 tháng 6 năm 2008[37] 16.42 triệu 19.78 triệu 22.53 triệu 58.72 triệu
ngày 30 tháng 9 năm 2008[38] 17.16 triệu 22.30 triệu 26.05 triệu 65.51 triệu
ngày 31 tháng 12 năm 2008[39] 17.46 triệu 26.60 triệu 31.67 triệu 75.74 triệu
ngày 31 tháng 3 năm 2009[40] 17.63 triệu 28.80 triệu 33.51 triệu 79.94 triệu
ngày 30 tháng 6 năm 2009[41] 17.71 triệu 29.76 triệu 34.79 triệu 82.26 triệu
ngày 30 tháng 9 năm 2009[42] 17.84 triệu 30.75 triệu 35.90 triệu 84.49 triệu
ngày 31 tháng 12 năm 2009 18.01 triệu 33.51 triệu 37.67 triệu 89.19 triệu
ngày 30 tháng 6 năm 2010[43] 18.10 triệu 34.33 triệu 38.35 triệu 90.78 triệu
ngày 30 tháng 9 năm 2010[44] 18.16 triệu 34.65 triệu 38.60 triệu 91.41 triệu
ngày 31 tháng 12 năm 2010[45] 18.20 triệu 35.74 triệu 38.89 triệu 92.83 triệu
ngày 31 tháng 3 năm 2011[46] 18.20 triệu 35.89 triệu 38.97 triệu 93.06 triệu
ngày 30 tháng 6 năm 2011[47] 18.20 triệu 36.15 triệu 39.07 triệu 93.42 triệu
ngày 30 tháng 9 năm 2011[48] 18.20 triệu 36.21 triệu 39.12 triệu 93.53 triệu
ngày 31 tháng 12 năm 2011[49] 18.20 triệu 36.37 triệu 39.16 triệu 93.74 triệu
ngày 31 tháng 12 năm 2012[50] 18.20 triệu 36.44 triệu 39.21 triệu 93.85 triệu
ngày 31 tháng 3 năm 2014[1] 18.21 triệu 36.44 triệu 39.21 triệu 93.86 triệu

Thư viện hình ảnhSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ ニンテンドーDS Lite (Nhật: Nintendō DS Lite?)

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a b c “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 2 tháng 5 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014.
  2. ^ Rojas, Peter (ngày 20 tháng 2 năm 2006). “The Engadget Interview: Reggie Fils-Aime, Executive Vice President of Sales and Marketing for Nintendo”. Engadget. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2006.
  3. ^ “DSi XL Was Once DS Lite XL”. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010.
  4. ^ “Yahoo! Japan DS Auctions”. Yahoo!. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2006.
  5. ^ Ben Parfitt (ngày 2 tháng 12 năm 2008). “Japan: DSi sells half a million”. MCV. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2008.
  6. ^ a b David Radd (ngày 5 tháng 11 năm 2008). “DSi Sells Out in Japan in Four Days”. GameDaily. AOL. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2008.
  7. ^ Danny Choo. “Japan DS Lite”. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2006.
  8. ^ “Analyst Predicts Wii Shortages Into 2009”. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2007.
  9. ^ “Brain Training demo with DS lite launch in Australia”. GoNintendo. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2009.
  10. ^ “Game Consoles >> EB Games Australia >> We take games seriously”. Ebgames.com.au. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009.
  11. ^ “Games, Consoles: JB HI-FI”. Jbhifionline.com.au. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009.
  12. ^ “New Nintendo DS Lites The Way For Mario”. Nintendo. ngày 4 tháng 5 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2006.
  13. ^ Polybren (ngày 31 tháng 5 năm 2006). “DS Lite launches early?”. GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2006.
  14. ^ Surette, Tim (ngày 12 tháng 6 năm 2006). “DS Lites up US retailers”. GameSpot. CNET. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2006.
  15. ^ “Nintendo news: Nintendo DS continues to dominate portable video games”. Nintendo. ngày 12 tháng 6 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2006.
  16. ^ “Lite up your life!”. Nintendo. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2006.[liên kết hỏng]
  17. ^ 12 tháng 6 năm 2006/1526154872.shtml “Robbers steal 18 million worth of NDSL handheld (AP)” Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp) (bằng tiếng Chinese). Sina.com. ngày 12 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2008.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)[liên kết hỏng]
  18. ^ “$2.32 Million of Black Nintendo DS Lite Gone Missing”. Play Gadgets. ngày 14 tháng 6 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2008.
  19. ^ Gibson, Ellie (ngày 19 tháng 6 năm 2006). “Nintendo confirms theft of DS Lite shipment”. GamesIndustry.biz. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2008.
  20. ^ “Nintendo Opens Korean Offices”. The Wiire. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2006.
  21. ^ “Nintendo Korea's DS page”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2008.
  22. ^ “Nintendo Korea Press Release”. Web.archive.org. ngày 14 tháng 4 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2010.
  23. ^ “Wii Launching Conference”. Nintendo.co.kr. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2010.
  24. ^ “Nintendo - Customer Service”. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2007.
  25. ^ Soneira, Raymond Soneira (2006). “Sony PSP and Nintendo DS Lite LCD Shoot-Out”. www.displaymate.com. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.
  26. ^ “Nintendo DS/DS lite”. What console. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2011.
  27. ^ Customer Service | Nintendo DS Lite - Accessories. Nintendo. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013.
  28. ^ “Consolidated financial highlights” (PDF). Nintendo. ngày 25 tháng 6 năm 2006. tr. 30. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2007.
  29. ^ “Consolidated financial highlights” (PDF). Nintendo. ngày 24 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2007.
  30. ^ “Consolidated financial highlights” (PDF). Nintendo. ngày 26 tháng 10 năm 2006. tr. 28. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2007.
  31. ^ “Consolidated Financial Highlights” (PDF). Nintendo. ngày 25 tháng 1 năm 2007. tr. 8. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2007.
  32. ^ “Consolidated Financial Highlights” (PDF). Nintendo. ngày 26 tháng 4 năm 2007. tr. 8. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2007.
  33. ^ “Consolidated Financial Highlights” (PDF). Nintendo. ngày 25 tháng 7 năm 2007. tr. 8. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2007.
  34. ^ “Consolidated Financial Highlights” (PDF). Nintendo. ngày 25 tháng 10 năm 2007. tr. 22. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2007.
  35. ^ “Consolidated Financial Highlights” (PDF). Nintendo. ngày 24 tháng 1 năm 2007. tr. 8. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2007.
  36. ^ “Consolidated Financial Statements” (PDF). Nintendo. ngày 24 tháng 4 năm 2008. tr. 22. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008.
  37. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 30 tháng 7 năm 2008. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2008.
  38. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 30 tháng 10 năm 2008. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008.
  39. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 29 tháng 1 năm 2009. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008.
  40. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 1 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2009.[liên kết hỏng]
  41. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 30 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2009.[liên kết hỏng]
  42. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 29 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2009.[liên kết hỏng]
  43. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 28 tháng 7 năm 2010. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014.
  44. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 27 tháng 10 năm 2010. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014.
  45. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 26 tháng 1 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014.
  46. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 22 tháng 4 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014.
  47. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 28 tháng 7 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014.
  48. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 29 tháng 10 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014.
  49. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 29 tháng 1 năm 2012. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014.
  50. ^ “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo. ngày 29 tháng 1 năm 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014.

Liên kết ngoàiSửa đổi

Trang web chính thức