Quy Sắc (19242010) tên thật là Nguyễn Phú Quý là một soạn giả cải lương, nhà giáo.

Quy Sắc
Nghệ danhQuy Sắc
Thông tin cá nhân
SinhNguyễn Phú Quý
1924
Thủ Dầu Một, Bình Dương
Mất6 tháng 1, 2010(2010-01-06) (85–86 tuổi)
Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
Giới tínhnam
Quốc tịch Việt Nam
Nghề nghiệpSoạn giả
Lĩnh vựcCải lương
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loạiVọng cổ
Tác phẩmCô bán đèn hoa giấy
Nấu bánh đêm xuân
Sự nghiệp sân khấu
Tác phẩmKhi rừng mới sang thu
Người vợ không bao giờ cưới

Tiểu sửSửa đổi

  • Quy Sắc sinh năm 1924 tại Thủ Dầu Một, Bình Dương. Ông tên thật là Nguyễn Phú Quý. Nghệ danh Quy Sắc là cách chơi chữ đánh vần tên của ông.
  • Ông đỗ Thành chung của Pháp và là thầy giáo dạy Việt văn lúc còn trẻ.
  • Ông đã tự học viết tuồng và tuồng cải lương đầu tiên của ông là Nghiệp giáo.
  • Nghiệp soạn giả đến với ông khi ông gặp soạn giả Nguyễn Phương và soạn giả Kiên Giang khi ông làm gia sư cho nghệ sĩ Thanh Nga. Ông và soạn giả Kiên Giang đã hợp tác cho ra đời tuồng cải lương nổi tiếng Người vợ không bao giờ cưới (Sơn nữ Phà Ca).
  • Năm 1972, ông viết ba tuồng cải lương cho gánh Bạch TuyếtHùng Cường.
  • Ngày 6 tháng 1 năm 2010 ông qua đời tại nhà riêng C16 cư xá Vĩnh Hội, phường 5, Quận 4, TP.HCM.

Sự nghiệpSửa đổi

  • Quy Sắc soạn được khoảng 70 tuồng cải lương[1] và thường cùng với các soạn giả tên tuổi khác như Kiên Giang, Loan Thảo, Mộc Linh, Nhị Kiều,... Sau đây là một số tuồng cải lương nổi tiếng do ông biên soạn:
    • Nghiệp giáo.
    • Sơn nữ Phà Ca (Người vợ không bao giờ cưới, Đời sơn nữ): Soạn giả Kiên Giang gặp Quy Sắc khi ông làm gia sư cho Thanh Nga. Sau đó Kiên Giang đã đưa cho ông kịch bản Đời sơn nữ để ông chỉnh sửa. Sau khi xem xét, chỉnh sửa, gia cố tuồng cải lương Người vợ không bao giờ cưới được ký tên Phúc Nguyên – Kiên Giang. Phúc Nguyên là con gái trưởng của Quy Sắc. Tuồng được trình diễn thành công và giúp Thanh Nga giành huy chương vàng giải Thanh Tâm khi Thanh Nga mới 16 tuổi.
    • Kim Vân Kiều: Đây là tuồng cải lương do soạn giả Mộc Linh biên tập lại năm 1988 từ ba tuồng cải lương: Trăng thề vườn thuý, Má hồng phận bạc,Từ – Kiều ly hận của Quy Sắc viết năm 1972.
    • Khi rừng mới sang thu.
    • Huyện đề nuôi chuột: Minh Vương, Lệ Thủy,Bảo Quốc, Hoàng Giang
    • Số đỏ: Minh Phụng, Hồng Vân, Phượng Liên, Bảo Quốc
    • San hậu.[2]
    • Bà Chúa Đồi Trà (Tuyên phi Đặng Thị Huệ): Thanh Kim Huệ – Đặng Thị Huệ, Thanh Sang – Anh Quyên, Phương Quang – Chúa Trịnh Sâm...
    • Chí Phèo
    • Đại phát tài
    • Đánh cờ tướng
    • Hồng Giang di hận
    • Hương trà quán cũ
    • Khát vọng
  • Quy Sắc còn nổi tiếng trong soạn các bài tân cổ giao duyên. Một số bài nổi tiếng của ông như:
    • Nấu bánh đêm xuân: Lệ Thủy trình bày thành công bài này khi cô mới 14 tuổi cùng với Hữu Phước.
    • Cô bán đèn hoa giấy: Đây là bài hát làm nên danh hiệu "Đệ nhất nữ danh ca vọng cổ" cho nữ nghệ sĩ Thanh Hương. Sau đó nghệ sĩ Lệ Thuỷ cũng rất thành công với bài vọng cổ này.
    • Tình hận thâm cung.
    • Trước ngày xuất giá.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Thương tiếc tác giả Sơn nữ Phà Ca”. Báo Pháp luật TP.HCM online. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
  2. ^ "Đêm Quy Sắc" gây quỹ từ thiện”. Báo Pháp luật TP.HCM online. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.