Ở huyện Đô Lương, Nghệ An hiện có hai con Sông Đào (sông nhân tạo do người đào) và đều được hoàn thành trong thời kỳ người Pháp còn đô hộ Đông Dương.

Con Sông Đào thứ nhất được người dân Đô Lương, Yên Thành đào đắp lấy. Sông nằm trong cụm công trình thủy lợi Bắc Nghệ An, được hoàn thành năm 1936 do hoàng thân Xupanuvong làm Kĩ sư trưởng.[cần dẫn nguồn]. Sông bắt nguồn tại Bara Đô Lương, kết thúc tại huyện Yên Thành có nhiệm vụ cung cấp nước cho các huyện Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu và Quỳnh Lưu của tỉnh Nghệ An. Sông Đào cùng với Bara Đô Lương là một trong những dấu ấn của người Pháp tại việt Nam trong giai đoạn xâm chiếm 1858 - 1945. con Sông Đào này là nguồn cung cấp nước tưới cho khoảng 33.000ha ruộng vườn, nước sinh hoạt và điều hòa không khí, góp phần thoát lũ và giảm tải đường bộ cho các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò.[1]

Con Sông Đào thứ hai là con sông nhỏ, ngắn hơn và nằm hoàn toàn trên đia phận xã Nam Sơn của huyện Đô Lương và được làm sau khi người Pháp đã xây Bara chắn ngang dòng Sông Lam ở đọan xã Đặng Sơn như nói ở trên. Con sông này nối thượng nguồn và hạ nguồn của đọan Sông Lam đọan chảy hình vòng tròn ôm lấy các xã Bắc Sơn, Đặng Sơn và một phần của xã Nam Sơn, và là đường đi tắt của thuyền, bè lưu thông trên Sông Lam do nhanh hơn và cũng để tránh cái Bara chắn ngang trên dòng Sông Lam. Do đọan cuối của con Sông Đào này đi qua thung lũng nằm giữa hai hòn núi nhỏ là hòn Cóc (núi nhỏ dáng con Cóc ngồi) và hòn Lả (ngày xưa thường có ánh lửa lập lòe trên núi về ban đêm) nên người Pháp cho xây 1 cài vòm (vòm Cóc) chui qua thung lũng để thuyền bè lưu thông dễ dàng.

Ở huyện Đô Lương, Nghệ An hiện có hai con Sông Đào (sông nhân tạo do người đào) và đều được hoàn thành trong thời kỳ người Pháp còn đô hộ Đông Dương. Con Sông Đào thứ nhất được người dân Đô Lương, Yên Thành đào đắp lấy. Sông nằm trong cụm công trình thủy lợi Bắc Nghệ An, được hoàn thành năm 1936 do hoàng thân Xupanuvong làm Kĩ sư trưởng.[cần dẫn nguồn]. Sông bắt nguồn tại Bara Đô Lương, kết thúc tại huyện Yên Thành có nhiệm vụ cung cấp nước cho các huyện Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu và Quỳnh Lưu của tỉnh Nghệ An. Sông Đào cùng với Bara Đô Lương là một trong những dấu ấn của người Pháp tại việt Nam trong giai đoạn xâm chiếm 1858 - 1945. con Sông Đào này là nguồn cung cấp nước tưới cho khoảng 33.000ha ruộng vườn, nước sinh hoạt, điều hòa không khí, góp phần thoát lũ và giảm tải đường bộ.[1] Con Sông Đào thứ hai là con sông nhỏ, ngắn hơn và nằm hoàn toàn trên đia phận xã Nam Sơn của huyện Đô Lương và được làm sau khi người Pháp đã xây Bara chắn ngang dòng Sông Lam ở xã Đặng Sơn. Con sông này nối thượng nguồn và hạ nguồn của khúc Sông hình cánh cung ôm lấy các xã Bắc Sơn, Đặng Sơn và một phần của xã Nam Sơn là đường đi tắt của thuyền, bè lưu thông trên Sông Lam tránh đập Bara chắn ngang trên dòng Sông Lam. Đoạn cuối của con Sông Đào này đi qua thung lũng nằm giữa hai hòn núi nhỏ là hòn Cóc (núi nhỏ dáng con Cóc ngồi) và hòn Lả (ngày xưa thường có ánh lửa lập lòe trên núi về ban đêm) nên người Pháp cho xây một cái vòm (vòm Cóc) chui qua thung lũng để thuyền bè lưu thông dễ dàng.

Ở huyện Đô Lương, Nghệ An hiện có hai con Sông Đào (sông nhân tạo do người đào) và đều được hoàn thành trong thời kỳ người Pháp còn đô hộ Đông Dương.

Con Sông Đào thứ nhất được người dân Đô Lương, Yên Thành đào đắp lấy. Sông nằm trong cụm công trình thủy lợi Bắc Nghệ An, được hoàn thành năm 1936 do hoàng thân Xupanuvong làm Kĩ sư trưởng.[cần dẫn nguồn]. Sông bắt nguồn tại Bara Đô Lương, kết thúc tại huyện Yên Thành có nhiệm vụ cung cấp nước cho các huyện Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu và Quỳnh Lưu của tỉnh Nghệ An. Sông Đào cùng với Bara Đô Lương là một trong những dấu ấn của người Pháp tại việt Nam trong giai đoạn xâm chiếm 1858 - 1945. con Sông Đào này là nguồn cung cấp nước tưới cho khoảng 33.000ha ruộng vườn, nước sinh hoạt, điều hòa không khí, góp phần thoát lũ và giảm tải đường bộ.[1] Con Sông Đào thứ hai là con sông nhỏ, ngắn hơn và nằm hoàn toàn trên đia phận xã Nam Sơn của huyện Đô Lương và được làm sau khi người Pháp đã xây Bara chắn ngang dòng Sông Lam ở xã Đặng Sơn. Con sông này nối thượng nguồn và hạ nguồn của khúc Sông hình cánh cung ôm lấy các xã Bắc Sơn, Đặng Sơn và một phần của xã Nam Sơn là đường đi tắt của thuyền, bè lưu thông trên Sông Lam tránh đập Bara chắn ngang trên dòng Sông Lam. Đoạn cuối của con Sông Đào này đi qua thung lũng nằm giữa hai hòn núi nhỏ là hòn Cóc (núi nhỏ dáng con Cóc ngồi) và hòn Lả (ngày xưa thường có ánh lửa lập lòe trên núi về ban đêm) nên người Pháp cho xây một cái vòm (vòm Cóc) chui qua thung lũng để thuyền bè lưu thông dễ dàng.

Ở huyện Đô Lương, Nghệ An hiện có hai con Sông Đào (sông nhân tạo do người đào) và đều được hoàn thành trong thời kỳ người Pháp còn đô hộ Đông Dương.

Con Sông Đào thứ nhất được người dân Đô Lương, Yên Thành đào đắp lấy. Sông nằm trong cụm công trình thủy lợi Bắc Nghệ An, được hoàn thành năm 1936 do hoàng thân Xupanuvong làm Kĩ sư trưởng.[cần dẫn nguồn]. Sông bắt nguồn tại Bara Đô Lương, kết thúc tại huyện Yên Thành có nhiệm vụ cung cấp nước cho các huyện Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu và Quỳnh Lưu của tỉnh Nghệ An. Sông Đào cùng với Bara Đô Lương là một trong những dấu ấn của người Pháp tại việt Nam trong giai đoạn xâm chiếm 1858 - 1945. con Sông Đào này là nguồn cung cấp nước tưới cho khoảng 33.000ha ruộng vườn, nước sinh hoạt, điều hòa không khí, góp phần thoát lũ và giảm tải đường bộ.[1] Con Sông Đào thứ hai là con sông nhỏ, ngắn hơn và nằm hoàn toàn trên đia phận xã Nam Sơn của huyện Đô Lương và được làm sau khi người Pháp đã xây Bara chắn ngang dòng Sông Lam ở xã Đặng Sơn. Con sông này nối thượng nguồn và hạ nguồn của khúc Sông hình cánh cung ôm lấy các xã Bắc Sơn, Đặng Sơn và một phần của xã Nam Sơn là đường đi tắt của thuyền, bè lưu thông trên Sông Lam tránh đập Bara chắn ngang trên dòng Sông Lam. Đoạn cuối của con Sông Đào này đi qua thung lũng nằm giữa hai hòn núi nhỏ là hòn Cóc (núi nhỏ dáng con Cóc ngồi) và hòn Lả (ngày xưa thường có ánh lửa lập lòe trên núi về ban đêm) nên người Pháp cho xây một cái vòm (vòm Cóc) chui qua thung lũng để thuyền bè lưu thông dễ dàng.

Ở huyện Đô Lương, Nghệ An hiện có hai con Sông Đào (sông nhân tạo do người đào) và đều được hoàn thành trong thời kỳ người Pháp đô hộ Đông Dương. Con Sông Đào thứ nhất được người dân Đô Lương, Yên Thành đào đắp. Sông nằm trong cụm công trình thủy lợi Bắc Nghệ An, được hoàn thành năm 1936 do hoàng thân Xupanuvong làm Kĩ sư trưởng.[cần dẫn nguồn]. Sông bắt nguồn tại Bara Đô Lương, kết thúc tại huyện Yên Thành có nhiệm vụ cung cấp nước cho các huyện Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu và Quỳnh Lưu của tỉnh Nghệ An. Sông Đào cùng với Bara Đô Lương là một trong những dấu ấn của người Pháp tại việt Nam trong giai đoạn xâm chiếm 1858 - 1945. con Sông Đào này là nguồn cung cấp nước tưới cho khoảng 33.000ha ruộng vườn, nước sinh hoạt, điều hòa không khí, góp phần thoát lũ và giảm tải đường bộ.[1] Con Sông Đào thứ hai nhỏ, ngắn hơn, ở xã Nam Sơn huyện Đô Lương, được làm sau khi người Pháp xây đập Bara chắn ngang dòng Sông Lam xã Đặng Sơn. Sông này nối thượng nguồn và hạ nguồn của khúc Sông chảy hình cánh cung ôm lấy các xã Bắc Sơn, Đặng Sơn và một phần của xã Nam Sơn, là đường đi tắt cho thuyền, bè lưu thông trên Sông Lam để tránh đập Bara chắn ngang Sông. Đoạn cuối của con Sông Đào đi qua thung lũng nằm giữa hai hòn núi nhỏ là hòn Cóc (núi nhỏ dáng con Cóc ngồi) và hòn Lả (ngày xưa thường có ánh lửa lập lòe trên núi về ban đêm) nên người Pháp cho xây một cái vòm (vòm Cóc) qua thung lũng để thuyền bè lưu thông dễ dàng.

chú thíchSửa đổi