Mở trình đơn chính

Điôxít silic là một hợp chất hóa học còn có tên gọi khác là silica (từ tiếng Latin silex), là một ôxít của siliccông thức hóa họcSiO2 và nó có độ cứng cao được biết đến từ thời cổ đại.[1] Phân tử SiO2 không tồn tại ở dạng đơn lẻ mà liên kết lại với nhau thành phân tử rất lớn. Silica có hai dạng cấu trúc là dạng tinh thể và vô định hình [2]. Trong tự nhiên silica tồn tại chủ yếu ở dạng tinh thể hoặc vi tinh thể (thạch anh, triđimit, cristobalit, cancedoan, đá mã não), đa số silica tổng hợp nhân tạo đều được tạo ra ở dạng bột hoặc dạng keo và có cấu trúc vô định hình (silica colloidal)[3]. Một số dạng silica có cấu trúc tinh thể có thể được tạo ra ở áp suất và nhiệt độ cao như coesit và stishovit.
Silica được tìm thấy phổ biến trong tự nhiên ở dạng cát hay thạch anh, cũng như trong cấu tạo thành tế bào của tảo cát. Nó là thành phần chủ yếu của một số loại thủy tinh và chất chính trong bê tông. Silica là một khoáng vật phổ biến trong vỏ Trái Đất.
Trong điều kiện áp suất thường, silica tinh thể có 3 dạng thù hình chính, đó là thạch anh, triđimit và cristobalit. Mỗi dạng thù hình này lại có hai hoặc ba dạng thứ cấp: dạng thứ cấp α bền ở nhiệt độ thấp và dạng thứ cấp β nhiệt độ cao. Ba dạng tinh thể của silica có cách sắp xếp khác nhau của các nhóm tứ diện SiO4 ở trong tinh thể. Ở thạch anh α, góc liên kết Si-O-Si bằng 150°, ở tridimit và cristobalit thì góc liên kết Si-O-Si bằng 180°. Trong thạch anh, những nhóm tứ diện SiO4 được sắp xếp sao cho các nguyên tử Si nằm trên một đường xoắn ốc quay phải hoặc quay trái, tương ứng với α-thạch anh và β-thạch anh. Từ thạch anh biến thành cristobalit cần chuyển góc Si-O-Si từ 150° thành 180°, trong khi đó để chuyển thành α-tridimit thì ngoài việc chuyển góc này còn phải xoay tứ diện SiO4 quanh trục đối xứng một góc bằng 180°.
Silica có thể được tổng hợp (điều chế) ở nhiều dạng khác nhau như silica gel, silica khói (fumed silica), aerogel, xerogel, silica keo (colloidal silica)... Ngoài ra, silica NanospringsTM được sản xuất bởi phương pháp hơi lỏng-rắn ở nhiệt độ thấp bằng với nhiệt độ phòng.[4]

Silic điôxít
Sample of silicon dioxide.jpg
Tên khácSilica
thạch anh
Nhận dạng
Số CAS7631-86-9
Thuộc tính
Công thức phân tửSiO2
Khối lượng mol60,0843 g/mol
Bề ngoàiBột trắng
Khối lượng riêng2,634 g/cm³
Điểm nóng chảy1.650(±75) °C
Điểm sôi2.230 °C
Độ hòa tan trong nước0,012 g/100 mL
Cấu trúc
Cấu trúc tinh thểXem văn bản
Hình dạng phân tửTuyến tính (pha khí)
Nhiệt hóa học
Các nguy hiểm
Chỉ mục EUKhông liệt kê
Nguy hiểm chínhHít phải bột mịn có thể gây tổn thương đường hô hấp
Điểm bắt lửaKhông cháy
Các hợp chất liên quan
Anion khácSulfua silic
Cation khácĐiôxít cacbon
Điôxít gecmani
Điôxít thiếc
Điôxít chì
Các ôxít silic liên quanMônôxít silic
Hợp chất liên quanAxít silicic
"Silica gel"
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).

Silica thường được dùng để sản xuất kính cửa sổ, lọ thủy tinh. Phần lớn sợi quang học dùng trong viễn thông cũng được làm từ silica. Nó là vật liệu thô trong gốm sứ trắng như đất nung, gốm sa thạchđồ sứ, cũng như xi măng Portland.

Tính chất hóa họcSửa đổi

Điôxit silic có thể tác dụng với kiềm và oxit bazơ tạo thành muối silicat ở nhiệt độ cao

Điôxit silic không phản ứng với nước.

Điôxit silic phản ứng với axit flohidric (HF) theo phương trình:

SiO2 + 4HF → SiF4 + 2H2O

SiO2 + 6HF(đặc) → H2SiF6 + 2H2O

Điều chế (Tổng hợp)Sửa đổi

Dù silica phổ biến trong tự nhiên nhưng người ta cũng có thể tổng hợp được theo nhiều cách khác nhau:

  • Bằng cách cho silic phản ứng với oxi ở nhiệt độ cao:(theo sgk hóa 9)
Si (r) + O2 (k) → SiO2 (r)

(phương pháp này thường được áp dụng để phủ lớp SiO2 trên bề mặt silic)

  • Phương pháp phun khói (thủy phân silic halogel ở nhiệt độ cao với oxy và hyđro)
2H2 + O2 + SiCl4 → SiO2 + 4HCl
  • Phương pháp kết tủa (Cho thủy tinh lỏng phản ứng với 1 axit (vô cơ).
Na2SiO3 + H+ → 2Na+ + SiO2 + H2O
  • Phương pháp sol-gel (Thủy phân một alkoxysilan với xúc tác bazơ hoặc axit)[5]
Si(OR)4 + 2H2O → SiO2 + 4ROH

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Lynn Townsend White, Jr. (Spring, 1961). "Eilmer of Malmesbury, an Eleventh Century Aviator: A Case Study of Technological Innovation, Its Context and Tradition", Technology and Culture 2 (2), tr. 97-111 [100].
  2. ^ Hoàng Nhâm (2000), Hóa học vô cơ tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, tr. 134
  3. ^ R.N. Rothon, Particulate-Filled Polymer Composites, Published by Rapra Technology Limited, Shrewsbury, UK (2003)
  4. ^ Lidong Wang,D Major, P Paga, D Zhang, M G Norton, D N McIlroy. “High yield synthesis and lithography of silica-based nanospring mats”. Nanotechnology 17: S298–S303. doi:10.1088/0957-4484/17/11/S12. 
  5. ^ Chruściel J., Ślusarski L. (2003), "Synthesis of nanosilica by the sol-gel method and its activity toward polymers", Materials Science, 21(4), 461-469

Đọc thêmSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

  Phương tiện liên quan tới Silicon dioxide tại Wikimedia Commons

Bản mẫu:Hợp chất silic