Thảo luận:Hôn nhân đồng giới

Thảo luận đang diễn ra
Dự án LGBT
Trang này được thực hiện với sự phối hợp của các thành viên thuộc dự án LGBT, một dự án hợp tác giữa các thành viên nhằm nâng cao chất lượng các bài viết về LGBT. Nếu bạn muốn tham gia, xin hãy đến thăm trang của dự án! Bạn cũng có thể ghé qua trang thảo luận để trao đổi hoặc đề xuất ý kiến.
CBài viết đạt chất lượng C.
Đặc biệtBài viết được đánh giá đặc biệt quan trọng.
Peace dove icon.svg Thảo luận về chủ đề này có khả năng làm bạn nổi nóng. Xin hãy giữ bình tĩnh và có một một cái đầu lạnh khi nêu ý kiến của mình tại đây.

Yêu cầu chỉnh sửaSửa đổi

@Kotankien: Xin lỗi nếu điều này là vô nghĩa - tôi không nói tiếng Việt.

Màu sắc của bản đồ đã thay đổi và cần được sửa chữa.

Kwamikagami (thảo luận) 04:08, ngày 25 tháng 7 năm 2019 (UTC)

Done. King of Xavier (thảo luận) 04:17, ngày 2 tháng 8 năm 2019 (UTC)

NguồnSửa đổi

Bài nào nguồn chết thì cần xóa ngay hoặc thay link khác nhé và cũng cần kiểm chứng

King of Xavier (thảo luận) 16:17, ngày 3 tháng 8 năm 2019 (UTC)

Bạn đã xóa quá nhiêu đoạn có nguồn trong bài rồi. Đề nghị bạn dẫn ra đây chỗ nào nguồn chết để người khác check thử xem nguồn đó có chết thật hay không nhé, chứ bạn xóa cả 1 đoạn lớn rồi quăng 1 câu "nguồn chết" thì ai mà kiểm chứng lại được. Tôi nghĩ bạn đang cố ý xóa nhiều đoạn thông tin mà bạn không thích trong bài thì đúng hơnKrachen (thảo luận) 08:54, ngày 4 tháng 8 năm 2019 (UTC)

Tôi xóa những bài vấn đề gây ảnh hưởng tới tâm lý của người khác, và nguồn chết là do bạn lười click, và dạng pdf là thông tin giả. - King of Xavier (thảo luận) 08:58, ngày 4 tháng 8 năm 2019 (UTC)
Wiki không công nhận lý do xóa thông tin là "ảnh hưởng tới tâm lý của người khác" bạn nhé, ở đây tuân theo nguyên tắc "thứ bạn viết có nguồn hay không" mà thôi. Nói như bạn thì mấy bài về chính trị, tôn giáo ở wiki chắc phải xóa sạch mất, vì rất là "ảnh hưởng tới tâm lý của người khác"Krachen (thảo luận) 09:00, ngày 4 tháng 8 năm 2019 (UTC)
Tôi không xóa bài chính trị, tôn giáo, tôi xóa đoạn bài tiêu cực không nên đưa vào hôn nhân đồng giới, bạn không có quyền lùi bài nhiều lần. - King of Xavier (thảo luận) 09:02, ngày 4 tháng 8 năm 2019 (UTC)
Wiki có ghi luật rõ ràng về tiêu chuẩn nguồn dẫn đó, bạn cứ tìm mà đọcKrachen (thảo luận) 09:06, ngày 4 tháng 8 năm 2019 (UTC)

Bài viết đã trở về bản ổn định. Mời bạn King of Xavier vào đây trao đổi, muốn xóa đoạn này bạn hãy post vào đây với 1 lý do hợp lý (dịch sai nguồn chẳng hạn), đừng chơi trò xóa đoạn lớn với những lý do trời ơi đất hỡi kiểu như "sợ trẻ em tự tử" như thế nữaKrachen (thảo luận) 09:25, ngày 4 tháng 8 năm 2019 (UTC)

Bạn xem nguồn ở "Nghiên cứu " -> "Phản đối" xem đi, những nguồn web đã chết có nghĩa là thông tin sai sự thật khiến web đó xóa, và "Ảnh hưởng tiêu cực trẻ em" nguồn dạng pdf giả mạo chả có web nào, bạn vô Wiki Tiếng Anh của họ xem có tốt hơn không? - King of Xavier (thảo luận) 09:35, ngày 4 tháng 8 năm 2019 (UTC)
Còn bài phát biểu của ông Putin trùng bài ở dưới rồi và còn bài phản đối quá nhiều so với ủng hộ quá ít, mà làm như "Hôn nhân đồng giới" dành cho người kì thị viết, không tiếp người ủng hộ vậy - King of Xavier (thảo luận) 09:39, ngày 4 tháng 8 năm 2019 (UTC)
Còn "Ngược lại, những người khác phản đối hôn nhân đồng giới vì họ cho rằng kiểu gia đình này có những khiếm khuyết (trẻ em được nuôi bởi cặp đồng tính sẽ dễ gặp tổn thương tâm lý và lệch lạc hành vi, hôn nhân đồng tính thường không bền vững, không có khả năng duy trì nòi giống, làm sụt giảm giá trị của hôn nhân trong văn hóa xã hội, thúc đẩy tình trạng làm cha/mẹ đơn thân...), do vậy nếu chấp thuận và để hôn nhân đồng tính nhân rộng thì sẽ gây tác hại cho xã hội và trẻ em." Nguồn đó chết rồi mà bạn tự thêm các kiểu "chống LGBT", làm như bạn viết của riêng bạn vậy - King of Xavier (thảo luận) 09:43, ngày 4 tháng 8 năm 2019 (UTC)

Đề nghị mọi người vui lòng không bút chiến bài này bằng cách lùi sửa đổi, xóa thêm thông tin vô tội vạ. Mọi giải quyết đều phải được thảo luận. Bài viết này phải đảm bảo đúng thông tin cũng như phải đảm bảo về tính trung lập của thông tin một cách khách quan, không thiên vị phản đối hay ủng hộ LGBT một cách quá mức, phải cân bằng điều đó. Và điều đặc biệt là đóng góp phải khách quan, quan trọng hướng đến trọng tâm vì kiến thức của người xem và nhân loại. Không nên vì các quan điểm, triết lí cá nhân mà bút chiến bài. Nếu còn tiếp tục bút chiến, có thể bài sẽ bị khóa thời gian lâu hơn (1 hay 2 tháng), thậm chí có thể khóa vĩnh viễn, chúng ta không muốn điều đó xảy ra. Nên hãy đóng góp một cách có tâm và công bằng. (Nếu còn bút chiến, tôi có thể báo BQV khóa bài). Lưu Nguyễn Thiện Hậu 11:01, ngày 4 tháng 8 năm 2019 (UTC)

Tôi không còn hứng thú sửa bài nữa, tôi sẽ viết ở web khác, tôi nhường trang "Hôn nhân đồng giới" cho người kì thị và quan điểm chống LGBT. Bài này đã quá nhiều phản đối so với ủng hộ quá ít. "Gửi tới các bạn có quan điểm chống LGBT" cứ hãy viết "phản đối" & "tiêu cực" nhiều lên nhé (chỉ biết nghĩ tới LGBT làm suy yếu dân số, hãy nghĩ đến "phá thai", "người nghèo không thể sinh con vì nghèo"), và tôi sẽ không can thiệp bài này. Love Always Wins ❤ - King of Xavier (thảo luận) 11:14, ngày 4 tháng 8 năm 2019 (UTC)

Cần nguồnSửa đổi

Tôi xóa 2 bài vì nguồn web không có Azer Cechoar (thảo luận) 12:58, ngày 18 tháng 8 năm 2019 (UTC)

Thành viên Karachen (Tk rối của Mig29VN) và King of Xavier xóa hàng loạt đoạn thông tin có nguồnSửa đổi

Kính đề nghị các Bảo quản viên quay lại phiên bản ngày 23/07/2019 của BQV Tuanminh01 do Tài khoản Karachen (Tài khoản rối của Mig29VN) và King of Xavier đã xóa hàng loạt các đoạn thông tin có nguồn quan trọng. Tôi là một thành viên lâu năm có đóng góp chính cho nội dung bài viết này nên nắm rõ. Sau đây là liệt kê một số hồi sửa xóa bỏ hàng loạt thông tin của 2 Thành viên này:


https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%B4n_nh%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%93ng_gi%E1%BB%9Bi&type=revision&diff=54752900&oldid=54751870

https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%B4n_nh%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%93ng_gi%E1%BB%9Bi&type=revision&diff=54751778&oldid=54751757

https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%B4n_nh%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%93ng_gi%E1%BB%9Bi&type=revision&diff=54753723&oldid=54752916

https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%B4n_nh%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%93ng_gi%E1%BB%9Bi&type=revision&diff=54749806&oldid=54749784

Phucuongdt (thảo luận) 01:55, ngày 5 tháng 9 năm 2019 (UTC)

  • Ví dụ, toàn bộ đoạn này đã bị tài khoản rối này lợi dụng xóa bỏ sạch tại phiên bản hiện tại:

Sự đồng thuậnSửa đổi

Các nghiên cứu khoa học đã so sánh trực tiếp kết quả đối với trẻ em của cha mẹ đồng tính với cha mẹ dị tính và đã thống nhất trong việc khẳng định cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam là phù hợp và có khả năng như các bậc cha mẹ khác giới, đồng thời con cái của họ phát triển tâm lý lành mạnh và tốt như con cái nuôi bởi cha mẹ dị tính[1][2][3]. Các nghiên cứu xã hội học chỉ ra rằng các yếu tố tài chính, tâm lý và thể chất hạnh phúc của cha mẹ được tăng cường bởi hôn nhân và rằng trẻ em được hưởng lợi từ việc nuôi dưỡng bởi cha mẹ khi hôn nhân được công nhận về mặt pháp lý.[4][2][3][5], mặc dù trên thực tế sự phân biệt pháp lý và bất bình đẳng vẫn là thách thức đáng kể đối với các gia đình đồng tính.[1] Các hiệp hội chủ yếu của các chuyên gia sức khỏe tâm thần ở Mỹ, Canada, và Australia cho biết chưa xác định được nghiên cứu thực nghiệm nào đáng tin cậy cho kết quả khác.[4][6][2][7][8] Kết quả các thống kê cho thấy việc chăm sóc trẻ em và những công việc khác trong các gia đình đồng tính được phân chia đồng đều hơn giữa hai người hơn[9], và rằng không có sự khác biệt về lợi ích và sở thích của trẻ em có cha mẹ đồng tính so với trẻ em có cha mẹ dị tính.[10]

Từ những năm 1970, các kết quả đã ngày càng rõ ràng rằng phương pháp và quá trình phát triển của gia đình (chẳng hạn như "chất lượng" của cha mẹ, trạng thái tâm lý xã hội hạnh phúc của cha mẹ, chất lượng và sự hài lòng với các mối quan hệ trong gia đình, mức độ hợp tác và hòa hợp giữa cha mẹ) góp phần vào việc tạo nên hạnh phúc của trẻ em chứ không phải là cấu trúc gia đình (chẳng hạn như tình trạng số lượng, giới tính hay khuynh hướng tình dục của cha mẹ).[1][5].

Giáo sư Judith Stacey thuộc Đại học New York cho biết: "Hiếm khi có càng nhiều sự đồng thuận trong bất kỳ lĩnh vực khoa học xã hội như trong trường hợp của cha mẹ đồng tính, đó là lý do Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ và tất cả các tổ chức nghề nghiệp lớn có chuyên môn liên quan tới phúc lợi xã hội về trẻ em đã ban hành báo cáo và nghị quyết ủng hộ quyền làm cha mẹ của người đồng tính nam và đồng tính nữ ".[11] Các tổ chức này bao gồm Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Học viện nghiên cứu tâm lý trẻ em và vị thành niên, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, các hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ, các hiệp hội vì hôn nhân và gGia đình trị liệu Hoa Kỳ, các hiệp hội phân tâm học Hoa Kỳ, các hiệp hội quốc gia người lao động xã hội, các liên đoàn phúc lợi trẻ em Hoa Kỳ, các Hội đồng về nhận nuôi trẻ em Bắc Mỹ và Hiệp hội tâm lý học Canada. Năm 2006, giáo sư Gregory M. Herek viết trong tạp chí Tâm lý học Mỹ (của hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ): "Nếu đồng tính nam, đồng tính nữ có ít hơn khả năng nếu so sánh với các bậc cha mẹ khác giới thì chúng tôi sẽ phát hiện và chứng minh được vấn đề khi phân biệt các loại mẫu, tuy nhiên mô hình này rõ ràng đã không quan sát được. Các nghiên cứu thực nghiệm cho đến nay dù thực hiện trên các xác suất mẫu cần thiết đã liên tục thất bại trong việc tìm mối liên hệ giữa sự phát triển của trẻ em và định hướng tình dục của cha mẹ. Với sự thất bại nhất quán trong các kết quả nghiên cứu này đã bác bỏ các giả thuyết của những người tranh luận rằng con cái của cha mẹ tình dục thiểu số là tồi tệ hơn so với những con cái của cha mẹ khác giới.[12]

Các nghiên cứu và phân tích bao gồm các phân tích Bridget Fitzgerald năm 1999 về đồng tính và cha mẹ đồng tính nữ được công bố trong Tạp chí Hôn nhân và Gia đình đã chỉ ra rằng "Các nghiên cứu hiện có nói chung kết luận rằng: khuynh hướng tình dục của cha mẹ không phải là một yếu tố dự báo hiệu quả và quan trọng nhất tới sự phát triển thành công ở trẻ em" [13].

Trong tháng 6 năm 2010, kết quả của 25 năm nghiên cứu đang diễn ra theo chiều dọc của tiến sĩ, bác sĩ, nhà nghiên cứu Nanette Gartrell thuộc Đại học California và Phó giáo sư, tiến sĩ Henny Bos thuộc Đại học Amsterdam đã được phát hành. Gartrell và Bos đã nghiên cứu 78 trẻ em được sinh ra nhờ hỗ trợ thụ tinh nhân tạo và nuôi dưỡng bởi các bà mẹ đồng tính nữ. Các bà mẹ được phỏng vấn và đưa ra câu hỏi lâm sàng trong thời kỳ mang thai và khi con cái của họ được 2, 5, 10, và 17 tuổi. Trong bản tóm tắt của báo cáo, các tác giả cho biết: "Theo báo cáo, các cô con gái và người con trai của bà mẹ đồng tính nữ được đánh giá cao hơn đáng kể trong thành tích học tập ở trường học và trong xã hội cũng như tổng các năng lực nói chung, và thấp hơn đáng kể trong các vấn đề xã hội, sự phá bỏ các quy tắc, sự hung hăng, và biểu lộ các hành vi tiêu cực so với con cái các bà mẹ dị tính tương đương về tuổi." [14]

Tóm tắt nghị quyết chung của các hiệp hội khoa học chuyên nghiệp lớn: Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu Hoa Kỳ, Hiệp hội bác sĩ gia đình Hoa Kỳ, Hiệp hội y khoa hoa kỳ, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm lý các bang Kentucky và Ohio, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu bang Michigan, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội các bang Tennessee, Michigan, Kentucky và Ohio đã nêu:[15]

"Nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng các chiều tâm lý và xã hội của mối quan hệ và cam kết giữa các đối tác đồng tính là giống với các đối tác dị tính. Các cặp vợ chồng đồng tính hình thành tình cảm sâu sắc và kèm theo là các mối quan hệ gắn kết, với mức độ hài lòng của mối quan hệ là tương đương hoặc cao hơn so với các cặp vợ chồng dị tính. Họ cũng trải qua các quá trình tương tự như sự thân mật, tình yêu, sự công bằng, và các vấn đề khác của mối quan hệ[15].

Các nghiên cứu về đồng tính, đồng tính nữ, lưỡng tính làm cha mẹ bao gồm hàng chục nghiên cứu thực nghiệm, các nghiên cứu trước kia sử dụng các mẫu đại diện nhỏ không xác định được, nhưng những nghiên cứu gần đây đã sử dụng các mẫu xác suất quốc gia. Phát hiện của họ được tóm tắt trong ý kiến của nghiên cứu thực nghiệm được công bố trong sự tôn trọng, được các tạp chí đồng đẳng xem xét và đăng tải tại các sách, ấn phẩm khoa học. Phần lớn nghiên cứu khoa học đã trực tiếp so sánh giữa các nhóm và đã phát hiện ra rằng các cặp cha mẹ đồng tính nam và đồng tính nữ cha mẹ là phù hợp và có khả năng giống như các bậc cha mẹ khác giới, và con cái của họ thể hiện sự phát triển tâm lý lành mạnh và cũng được nuôi dạy tương tự. Các công trình nghiên cứu gần đây bao gồm "Cha mẹ đồng tính nam nữ và con cái của họ" (Patterson, AE Goldberg năm 2010), "Cuộc sống gia đình của người đồng tính nam và nữ" của CJ Patterson, "Sổ tay hôn nhân và Gia đình" (GW Peterson & KR Bush eds, 2013), "Trẻ em của cha mẹ Lesbian và Gay" của CJ Patterson (tạp chí Nhà tâm lý học, 2009), "Báo cáo kỹ thuật: Nhận con nuôi của cha mẹ đồng tính" (CJ Patterson), "Mối quan hệ gia đình của người đồng tính nữ và đồng tính nam" (J. Hôn nhân & Fam năm 2000, N. Anderssen), "Kết quả cho trẻ em của các bậc cha mẹ đồng tính" (Scand. J. Psychol), "Viễn cảnh đương đại về Lesbian, Gay", Hội nghị chuyên đề về Động lực phát triển(Nebraska, 2009), "Trẻ vị thành niên của cha mẹ đồng tính nam và nữ" (CJ Telingator & CJ Patterson), "Trẻ em vị thành niên và tâm thần học" (J. Am. Acad, 2008), "Điều chỉnh tâm lý của xã hội, trường học, mối quan hệ của thanh thiếu niên với cha mẹ đồng tính(JL Wainright), "Thiên hướng tình dục ở trẻ em trong gia đình đồng tính và đồng tính nữ"(H. Bos & TGM Sandfort, 2010), "Lesbian & Tình dục khác giới" (H. Bos), "Nuôi dạy và phát triển trẻ em trong các gia đình nhận con nuôi" (J. Child. & Fam. Stud, 2014), "Trẻ em với cha mẹ đồng tính nữ" (S. Golombok, tạp chí Tâm lý học quá trình phá triển 2003), "Chức năng tâm lý xã hội Trong số trẻ em của các cặp vợ chồng đồng tính và dị tính ở Vương quốc Anh (JL Wainright & CJ Patterson, Tạp chí tâm lý học phát triển, 2008), "Tình trạng phạm tội và sử dụng chất cấm trong thanh thiếu niên liên hệ với gia đình đồng tính" (J. Fam. Psychol, 2006)... đã đều kết luận rằng con cái của các bậc cha mẹ đồng tính nam và nữ được điều chỉnh tốt và mặt phát triển tương tự như con cái của các bậc cha mẹ khác giới[15].

Quan điểm rằng các cặp cha mẹ dị tính là tốt hơn hơn những cặp đồng tính, hoặc là con của cha mẹ đồng tính nữ hay đồng tính nam tồi tệ hơn so với trẻ em của cha mẹ khác giới, không được hỗ trợ bởi các bằng chứng khoa học thực nghiệm được tích lũy"[15]. Phucuongdt (thảo luận) 02:10, ngày 5 tháng 9 năm 2019 (UTC)

  • Hay toàn bộ đoạn về kết quả nghiên cứu của các tổ chức khoa học này cũng bị xóa:

Trong tóm tắt nghị quyết chung của các hiệp hội Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu Hoa Kỳ, Hiệp hội bác sĩ gia đình Hoa Kỳ, Hiệp hội y khoa hoa kỳ, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm lý các bang Kentucky và Ohio, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu bang Michigan, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội các bang Tennessee, Michigan, Kentucky và Ohio đã nêu:[15]

Có một số ít các nguồn gợi ý rằng cha mẹ đồng tính có thể có tác động tiêu cực đối với trẻ em thì các nguồn này đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ những sai sót về phương pháp luận và không phản ánh tình trạng của kiến thức khoa học hiện tại. Cụ thể, kết luận tiêu cực của ba nhà nghiên cứu thường được trích dẫn bởi các đối thủ của hôn nhân đồng giới là Sarantakos, Regnerus và Allen - đã tạo ra một chấn động lớn khi bị bác bỏ, từ chối bởi các cộng đồng khoa học chính thống. Những sai sót trong phương pháp luận nghiên cứu của Sarantakos, Regnerus và Allen đã làm cho công việc của họ "Không liên quan đến các cuộc thảo luận thực nghiệm về nuôi dạy con và khuynh hướng tình dục. Kiểm toán viên độc lập được bổ nhiệm bởi các tạp chí đó được đăng bài Regnerus của mô tả nó như là "một nghiên cứu không khoa học" và kết luận nó không nên đã được công bố. Những sai sót trong nghiên cứu của Regnerus đã được chỉ ra trong bản kiến nghị của 200 nhà nghiên cứu. MJ Rosenfeld trả lời Allen trong Dân số học năm 2012 rằng phát hiện tồi tệ của Allen về kết quả học tập là do sai sót về phương pháp luận, bao gồm không kiểm soát đối với tác động của ly hôn và các yếu tố khác. Các tài liệu công bố gần đây của Donald Paul Sullins cho thấy tất cả các báo cáo phân tích thứ cấp của dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn y tế quốc gia Khảo sát (NHIS) của Sullins - có sai sót về phương pháp luận tương tự...

Trong nghị quyết về "Định hướng tình dục, cha mẹ và trẻ em" thông qua năm 2004, Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ đã phân tích [16]:

"Nhiều người đồng tính nữ và đồng tính nam làm cha mẹ. Có ba mối quan tâm lớn về người đồng tính làm cha mẹ thường được nêu ra. Chúng bao gồm các mối quan ngại rằng đồng tính luyến ái là bị bệnh tâm thần, rằng đồng tính nữ có ít thiên chức làm mẹ hơn so với phụ nữ dị tính, và rằng các cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam có rất ít thời gian cho các mối quan hệ của họ với con cái của họ. Nói chung, các nghiên cứu đã không cung cấp một cơ sở nào cho bất kỳ các mối quan tâm trên. Đầu tiên, đồng tính luyến ái không phải là một bệnh hay rối loạn tâm lý, không có bằng chứng đáng tin cậy rằng khuynh hướng đồng tính luyến ái làm suy yếu chức các năng tâm lý. Thứ hai, niềm tin mà người đồng tính nữ và đồng tính nam không phải phù hợp làm cha mẹ phù hợp không có nền tảng nghiên cứu thực nghiệm. Các thành viên trong cặp vợ chồng đồng tính đã được phát hiện sự phân chia các công việc gia đình và chăm sóc con cái một cách đồng đều hơn, và sự hài lòng với mối quan hệ với đối tác của họ. Không có cơ sở khoa học để kết luận rằng các bà mẹ đồng tính nữ hay những người cha đồng tính làm cha mẹ là không thích hợp trên cơ sở định hướng tình dục của họ. Ngược lại, các kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam có đầy đủ khả năng làm cha mẹ như các cặp dôi khác giới để cung cấp môi trường hỗ trợ nuôi dưỡng lành mạnh cho con cái của họ.

Có ba mối quan tâm lớn về sự ảnh hưởng của cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính trên trẻ em đã được thường được nêu ra. Một là, con cái của cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính sẽ được trải nghiệm nhiều khó khăn trong lĩnh vực nhận dạng giới tính hơn so với trẻ em của cha mẹ khác giới. Ví dụ, trẻ em được của các cặp đồng tính sẽ hiển thị rối loạn nhận dạng giới tính và/hoặc hành vi-vai trò giới tính. Loại thứ hai của mối quan tâm liên quan đến các khía cạnh của phát triển của trẻ em với bản sắc tính dục bản thân. Ví dụ, một số nhà quan sát đã bày tỏ lo ngại rằng trẻ em dưới sự giám sát của cha mẹ đồng tính dễ bị suy sụp tinh thần, sẽ hiển thị nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh các vấn đề hành vi, hoặc sẽ không khỏe mạnh về tâm lý như những đứa trẻ khác. Một loại thứ ba của mối quan tâm là con cái của cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính sẽ gặp khó khăn trong các mối quan hệ xã hội. Ví dụ, một số nhà quan sát đã bày tỏ lo ngại rằng trẻ em sống với bà mẹ đồng tính nữ hay những người cha đồng tính sẽ bị kỳ thị, trêu chọc, hay nói cách khác là nạn nhân của các đồng nghiệp. Một nỗi sợ hãi phổ biến là trẻ em sống chung với cha mẹ đồng tính nam hoặc đồng tính nữ sẽ có nhiều khả năng bị lạm dụng tình dục bởi cha mẹ hoặc bạn bè của cha mẹ hoặc người quen. Kết quả của nghiên cứu khoa học xã hội đã không xác nhận bất kỳ mối quan tâm về con cái của cha mẹ đồng tính nào nêu trên.

Các nghiên cứu đều cho thấy rằng bản sắc tình dục (bao gồm cả bản sắc giới tính, hành vi giới tính, vai trò của xu hướng tình dục) phát triển giống nhau ở con cái các bậc cha mẹ đồng tính và con cái của các bậc cha mẹ khác giới. Các bằng chứng cũng cho thấy rằng trẻ em của cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam có mối quan hệ xã hội bình thường với các bạn bè và người lớn. Những lo ngại về con cái của cha mẹ đồng tính nữ hay đồng tính bị lạm dụng tình dục bởi người lớn, bị tẩy chay bởi các đồng nghiệp, hoặc bị cô lập trong cộng đồng... đã không nhận được sự hỗ trợ nào từ khoa học. Nhìn chung, kết quả các nghiên cứu cho thấy sự phát triển, điều chỉnh, và hạnh phúc của con cái của các bậc cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam không có sự khác biệt so với những trẻ em của cha mẹ khác giới."

 
Lễ kết hôn của một cặp đôi đồng tính nữ tại Cộng hòa Nam Phi năm 2007

Hiệp hội xã hội học Hoa Kỳ - tổ chức nghiên cứu chuyên nghiệp gồm hơn 13.000 thành viên, với một lịch sử lâu dài trong việc trình bày các kết quả nghiên cứu được sự đồng thuận của các nhà xã hội học để các tòa án ở Hoa Kỳ sử dụng trong việc đánh giá chứng cứ và các vấn đề pháp lý, trong Bản tóm tắt gửi Tòa án tối cao đã nói:[17]:

"Hiện nay, có hơn 200.000 trẻ em ở Mỹ sống với cha mẹ đồng tính, và gần 72% dân số Mỹ sống ở một nơi mà luật pháp đã bình đẳng hôn nhân. Kết quả các nghiên cứu khoa học xã hội trong nhiều thập kỷ, trong đó có nhiều nghiên cứu quy mô quốc gia và những bằng chứng chuyên gia giới thiệu tại các tòa án trên khắp đất nước, đã khẳng định rằng phúc lợi tích cực của trẻ em là sản phẩm của sự ổn định trong mối quan hệ giữa hai bố mẹmối quan hệ giữa cha mẹ với đứa trẻ, và các nguồn lực kinh tế xã hội của cha mẹ. Và các phúc lợi của trẻ em không phụ thuộc vào giới tính hoặc khuynh hướng tình dục của cha mẹ.

Các nhóm phản đối của hôn nhân đồng tính ở Mỹ và trên khắp thế giới thường xuyên hiểu sai hoặc xuyên tạc các nghiên cứu khoa học xã hội, nói rằng trẻ em có cha mẹ đồng tính có kết cục tồi tệ hơn so với trẻ có cha mẹ khác nhau tính. Đặc biệt, đối thủ của hôn nhân đồng tính thường xuyên trích dẫn nghiên cứu sai trái của Mark Regnerus, và gần đây đã bắt đầu hiểu sai công việc của Paul Sullins để thúc đẩy những lập luận chống lại hôn nhân đồng tính...

Chúng tôi đã rất tích cực trong vấn đề này bởi vì lương tâm của chúng ta không thể đứng nhìn và cho phép các đối thủ hôn nhân đồng giới tiến hành những chiến dịch nào đó nhằm bóp méo các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội trong một nỗ lực để từ chối quyền kết hôn của người đồng tính. Các bằng chứng khoa học rõ ràng cho thấy rằng cha mẹ đồng tính là bình đẳng cũng như có khả năng nuôi dạy con cái tốt như cha mẹ khác giới, và tòa án cũng như công chúng, nên được hiểu rõ ràng về thực tế này trước khi đưa ra phán quyết hay nhận định về hôn nhân đồng tính.

Những nỗ lực của ASA để làm nổi bật sự đồng thuận của giới khoa học liên quan đến con cái của cha mẹ đồng tính ở các tòa án đã bắt đầu từ tháng 2 năm 2013. Kể từ thời điểm đó, chúng tôi đã nộp tóm tắt của mình ở nhiều Toà án khác nhau của một số tiểu bang còn cấm đoán ở Mỹ để xem xét vấn đề luật pháp liên quan về hôn nhân đồng tính. Với những bằng chứng nghiên cứu khoa học xã hội đã được ASA thực hiện và kiểm tra triệt để, sự thật chứng minh rằng trẻ em chỉ nhận được kết quả tốt khi được nuôi bởi cha mẹ đồng tính giống như khi được nuôi bởi cha mẹ khác giới. Nỗi sợ hãi vô căn cứ về con cái của cha mẹ đồng tính không vượt qua được những kết quả nghiên cứu."

Học viện trẻ vị thành niên và tâm thần học Hoa Kỳ (AACAP), đại diện cho hơn 8.500 bác sĩ tâm thần về trẻ em và thanh thiếu niên đã khẳng định năm 2013[18]:

"Đôi khi mọi người đang lo ngại rằng trẻ em được nuôi dưỡng bởi cha mẹ đồng tính sẽ cần hỗ trợ tinh thần thêm hoặc phải đối mặt với những căng thẳng xã hội. Các nghiên cứu hiện tại cho thấy trẻ em của các cha mẹ đồng tính không khác với trẻ em của cha mẹ khác giới trong việc phát triển tâm lý, tình cảm của họ hoặc các mối quan hệ của họ với những bạn bè đồng lứa và người lớn xung quanh. Nó là quan trọng cho các cha mẹ hiểu rằng, đó là các yếu tố như chất lượng cặp cha mẹcác mối quan hệ của cha mẹ với con cái chứ không phải thiên hướng tình dục của cha mẹ có ảnh hưởng đến sự phát triển của đứa trẻ. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trái ngược với niềm tin phổ biến thì con cái của các cha mẹ đồng tính nam, đồng tính nữ và người chuyển giới:

Không có khả năng trở thành đồng tính hơn trẻ em của cha mẹ khác giới.
Không có nhiều khả năng bị lạm dụng tình dục.
Không thấy sự khác biệt trong việc họ tự cho rằng mình là nam hay nữ (đồng giới).
Không thấy sự khác biệt ở các hành vi, vai trò đặc trưng của các giới tính nam và nữ."

Theo Hiệp hội tâm lý học Canada (CPA)[8]:

"Vào mùa thu năm 2003, CPA đã ban hành một thông cáo báo chí bác bỏ các tuyên bố về năng lực làm cha mẹ thấp của người đồng tính và những tác động của hôn nhân đồng giới trên trẻ em đã được thực hiện bởi các cá nhân và các nhóm chống đối hôn nhân đồng tính. Các bằng chứng khoa học có sẵn đã chỉ ra rằng trẻ em của cha mẹ đồng tính nam và nữ không có sự khác biệt đáng kể so với con của cha mẹ khác giới đối với sự phát triển tâm lý xã hội cũng như hình thành bản sắc giới tính. Các nghiên cứu đã cho thấy:

Người đồng tính nam và đồng tính nữ coi trọng mối quan hệ gắn kết.
Các cặp vợ chồng đồng tính tương đương các cặp khác giới về chất lượng mối quan hệ.
Cha mẹ đồng tinh nam và nữ có khả năng như cha mẹ khác giới để cung cấp môi trường nuôi dưỡng tốt, hỗ trợ lành mạnh cho con cái của họ.
Khuynh hướng tình dục, tính cách và các mối quan hệ xã hội ở trẻ em ở các vợ chồng đồng tính phát triển tương tự như trẻ em của các cha mẹ khác giới.

Niềm tin rằng người đồng tính nam và đồng tính nữ người lớn không phù hợp với các bậc cha mẹ, hoặc sự phát triển tâm lý xã hội của trẻ em của các bậc cha mẹ đồng tính bị tổn thương là không có căn cứ khoa học. Tuyên bố của chúng tôi dựa trên việc xem xét đại diện cho khoảng 50 nghiên cứu thực nghiệm và ít nhất thêm 50 bài báo và chương sách và đã thực hiện không ngừng nghỉ trên các kết quả của bất kỳ một nghiên cứu. Những bài viết này xuất hiện trên các tạp chí như: Tạp chí Tâm lý học phát triển, Tạp chí Tâm lý trẻ em và tâm thần học, Tạp chí tâm lý học Mỹ, Tạp chí Hôn nhân và Gia đình, Tạp chí tâm thần học hành vi và các tạp chí về quan hệ gia đình, vai trò giới tính - tình dục và công tác xã hội đã khẳng định:

Không có bằng chứng trong các tài liệu tâm lý học hỗ trợ rằng người đồng tính nam và đồng tính nữ là ít phù hợp làm cha mẹ hơn các cặp khác giới.
Không có bằng chứng trong các tài liệu tâm lý học hỗ trợ quan điểm sự phát triển tâm lý xã hội, bản sắc giới của trẻ em bị tổn hại bởi khuynh hướng tình dục của cha mẹ."

Trong một tuyên bố năm 2006, Hiệp hội Tâm lý học Canada phát hành một báo cáo cập nhật về kết luận năm 2003 và 2005 và nói rằng: "Các CPA công nhận và đánh giá cao việc các cá nhân và tổ chức được quyền ý kiến và nêu quan điểm về vấn đề này. Tuy nhiên, CPA lo ngại rằng một số người và các tổ chức là chống đối tiêu cực, đã giải thích sai lệch những phát hiện của nghiên cứu tâm lý để hỗ trợ cho địa vị - vị trí của họ, khi vị trí của họ chính xác hơn là dựa trên hệ thống khác của niềm tin - tín ngưỡng và các giá trị[19]. Các tổ chức khoa học chuyên nghiệp đã lưu ý rằng những nghiên cứu mà các tổ chức chống đối đã sử dụng như bằng chứng rằng các cặp vợ chồng đồng tính làm cha mẹ không thích hợp đã không tiếp cận chính xác vào các cặp cha mẹ đồng tính, và do đó không cho phép bất kỳ kết luận nào được rút ra về những ảnh hưởng của giới tính hoặc khuynh hướng tình dục của cha mẹ lên con cái. Thay vào đó, những nghiên cứu này chỉ lấy mẫu cha mẹ khác giới, thấy rằng nó là tốt hơn cho trẻ em được nuôi dưỡng bởi hai cha mẹ thay vì một, và/hoặc ảnh hưởng của ly hôn hoặc cái chết của cha mẹ có ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ em.[20][21]

KÍNH ĐỀ NGHỊ CÁC BẢO QUẢN VIÊN CHO KHÔI PHỤC LẠI HÀNG LOẠT NỘI DUNG LỚN QUAN TRỌNG NHẤT CỦA BÀI VIẾT BỊ PHÁ HOẠI.

Phucuongdt (thảo luận) 02:24, ngày 5 tháng 9 năm 2019 (UTC)

  1. ^ a ă â “Elizabeth Short, Damien W. Riggs, Amaryll Perlesz, Rhonda Brown, Graeme Kane: Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender (LGBT) Parented Families – A Literature Review prepared for The Australian Psychological Society” (PDF). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “apsp” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “apsp” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ a ă â Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, The American Psychiatric Association, and the American Association for Marriage and Family Therapy as Amici Curiae in support of plaintiff-appellees Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “amici2010” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “amici2010” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  3. ^ a ă Canadian Psychological Association: Marriage of Same-Sex Couples – 2006 Position Statement Canadian Psychological Association Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “cpa” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  4. ^ a ă Pawelski JG, Perrin EC, Foy JM và đồng nghiệp (tháng 7 năm 2006). “The effects of marriage, civil union, and domestic partnership laws on the health and well-being of children”. Pediatrics 118 (1): 349–64. PMID 16818585. doi:10.1542/peds.2006-1279.  available online: http://pediatrics.aappublications.org/cgi/content/full/118/1/349 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “pediatrics” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  5. ^ a ă Michael Lamb, Affidavit – United States District Court for the District of Massachusetts (2009)
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên herek2006
  7. ^ How Does the Gender of Parents Matter
  8. ^ a ă Brief presented to the Legislative House of Commons Committee on Bill C38 yb the Canadian Psychological Association – ngày 2 tháng 6 năm 2005. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “cpa2005” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  9. ^ Escobar, Samantha (ngày 27 tháng 7 năm 2013). “Children of Gay Couples Impacted By Parents' Relationship But Not Sexual Orientation: Study”. Huffington Post. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013. 
  10. ^ “Gay and Lesbian Parents”. American Academy Of Pediatrics. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013. 
  11. ^ cited in Cooper & Cates, 2006, p. 36; citation available on http://www.psychology.org.au/Assets/Files/LGBT-Families-Lit-Review.pdf
  12. ^ Legal Recognition of Same-Sex Relationships in the United States: A Social Science Perspective
  13. ^ Bridget Fitzgerald, "Children of lesbian and gay parents: A review of the literature," Marriage and Family Review, 1999, Volume 29, Number 1.
  14. ^ Gartrell N, Bos H (2010). “US National Longitudinal Lesbian Family Study: Psychological Adjustment of 17-Year-Old Adolescents”. Pediatrics 126 (1): 28–36. doi:10.1542/peds.2009-3153. 
  15. ^ a ă â b c [1]
  16. ^ Adopted by the APA Council of Representatives July 28 & 30, 2004.
  17. ^ ASA Files Amicus Brief With Supreme Court in Support of Marriage Equality
  18. ^ American Academy of Child & Adolescent Psychiatry (tháng 8 năm 2013). “Children with Lesbian, Gay, Bisexual, and Transgender Parents” (PDF). Facts For Families. No. 92. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013. 
  19. ^ Marriage of Same-Sex Couples– 2006 Position StatementCanadian Psychological Association
  20. ^ “Marriage of Same-Sex Couples  – 2006 Position Statement” (PDF). Canadian Psychological Association. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012. 
  21. ^ Case No. S147999 in the Supreme Court of the State of California, In re Marriage Cases Judicial Council Coordination Proceeding No. 4365, Application for leave to file brief amici curiae in support of the parties challenging the marriage exclusion, and brief amici curiae of the American Psychological Association, California Psychological Association, American Psychiatric Association, National Association of Social Workers, and National Association of Social Workers, California Chapter in support of the parties challenging the marriage exclusion
Quay lại trang “Hôn nhân đồng giới”.