Timothée Chalamet

Diễn viên người Mỹ

Timothée Hal Chalamet (/ˈtɪməθi ˈʃæləm/;[a] sinh ngày 27 tháng 12 năm 1995) là một nam diễn viên người Mỹ. Chalamet bắt đầu sự nghiệp diễn xuất của mình bằng những bộ phim ngắn, trước khi xuất hiện trong phim truyền hình Homeland (2012). Anh lần đầu ra mắt với vai trò diễn viên điện ảnh bằng vai phụ trong Men, Women & Children (2014) và trong phim khoa học viễn tưởng của Christopher NolanInterstellar (2014).

Timothée Chalamet
Timothée Chalamet in 2018 (cropped).jpg
SinhTimothée Hal Chalamet
27 tháng 12, 1995 (24 tuổi)
Thành phố New York, Hoa Kỳ
Tư cách công dân
Học vịFiorello H. LaGuardia High School
Nghề nghiệpDiễn viên
Đại lýUnited Talent Agency (UTA)[2]
Chiều cao178 cm (5 ft 10 in)[3]
Năm hoạt động2007–hiện tại
Cha mẹ
  • Marc Chalamet (cha)
  • Nicole Flender (mẹ)
Giải thưởngDanh sách đầy đủ

Năm 2017, Chalamet được công nhận rộng rãi với vai chính trong bộ phim điện ảnh lãng mạn của đạo diễn Luca Guadagnino Call Me by Your Name. Màn thể hiện trong Call Me by Your Name mang về cho anh một đề cử giải Oscar, giúp anh trở thành người trẻ tuổi thứ ba được Viện Hàn lâm đề cử cho hạng mục Nam diễn viên chính xuất sắc nhất, đồng thời cũng là người trẻ tuổi nhất kể từ năm 1939. Chalamet sau đó có một số vai phụ tiêu biểu như Kyle Scheible trong phim tuổi mới lớn Lady Bird: Tuổi nổi loạn (2017), Philippe DeJardin trong phim Viễn Tây Hostiles (2017) và đặc biệt là vai diễn thiếu niên nghiện ngập Nic Sheff trong Beautiful Boy (2018) giúp anh được đề cử giải BAFTA cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất. Năm 2019, Chalamet vào vai chính trong các phim chính kịch cổ trang Quốc vươngNhững người phụ nữ bé nhỏ. Năm 2020, anh sẽ góp mặt trong một số tác phẩm điện ảnh như Dune, The French Dispatch,...

Trên sân khấu, Chalamet đã đóng vai chính trong vở kịch tự truyện Prodigal Son (2016) và được đề cử Giải Liên đoàn kịch Hoa Kỳ cho Màn trình diễn xuất sắc, giành được Giải Lucille Lortel cho Nam diễn viên chính sân khấu xuất sắc nhất.

Cuộc đời và sự nghiệpSửa đổi

Chalamet sinh ra ở quận Manhattan, thành phố New York và lớn lên tại vùng ngoại ô Hell’s Kitchen.[7][8] Mẹ của anh, Nicole Flender, một nhà môi giới bất động sản, là cựu vũ công của nhà hát Broadway, còn cha anh, Marc Chalamet, là biên tập viên của UNICEF.[8][9] Chalamet có một người chị gái tên Pauline (sinh năm 1992), là diễn viên hiện đang sinh sống ở Paris.[8] Anh có người cậu là nhà làm phim Rodman Flender và người dì là biên kịch, nhà sản xuất truyền hình Amy Lippman. Ông ngoại của Chalamet, Harold Flender, từng là một biên kịch, còn bà ngoại anh, Enid Flender, cũng là cựu vũ công Broadway giống như mẹ anh.[8][10]

 
Trường Trung học Fiorello H. LaGuardia High School of Music & Art and Performing Arts nơi Chalamet từng theo học.

Chalamet thông thạo hai ngôn ngữ là tiếng Anh và tiếng Pháp,[b][12] đồng thời cũng mang hai quốc tịch Mỹ-Pháp[13] và có xuất thân đa quốc gia: mẹ anh là dân New York chính gốc đời thứ ba (có tổ tiên là người Nga và Áo) và theo đạo Do Thái; trong khi đó cha anh mang quốc tịch Pháp (ông nội anh là người Pháp còn bà nội vốn là người Canada di cư sang Pháp),[14] đến từ Nîmes và là một tín đồ đạo Tin Lành.[9][15][16][17][18] Thời thơ ấu, anh dành nhiều kì nghỉ hè với ông bà nội của mình ở Le Chambon-sur-Lignon, một ngôi làng nhỏ cách thành phố Lyon hai giờ đồng hồ di chuyển.[19] Chalamet nói rằng khoảng thời gian ở Pháp đã hình thành nên những bản sắc, sự giao thoa văn hóa trong con người anh.[20] Phỏng vấn với tờ La Presse, anh kể: "Khi tôi ở đó [Pháp], tôi trở thành phiên bản Pháp của chính mình. Tôi hoàn toàn thấm nhuần nền văn hóa [Pháp], thậm chí đã từng có giấc mơ bằng tiếng Pháp."[21] Mơ ước thuở nhỏ của Chalamet là trở thành cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp: "Tôi từng làm huấn luyện viên tại một trại hè bóng đá ở Pháp, huấn luyện cho mấy đứa nhỏ từ sáu đến mười tuổi khi tôi mới 13."[19]

Chalamet theo học tại trường Tiểu học PS 87 William T. Sherman, sau đó học chương trình Delta tuyển chọn tại trường Trung học cơ sở MS 54 Booker T. Washington, theo như anh miêu tả là "ba năm khốn khổ" vì thiếu đi góc sáng tạo do môi trường học tập quá khắc nghiệt.[15] Việc Chalamet trúng tuyển vào trường Trung học phổ thông Âm nhạc & Nghệ thuật và Biểu diễn nghệ thuật Fiorello H. LaGuardia chính là bước ngoặt trong nhận thức của anh về niềm đam mê diễn xuất.[22] Harry Shifman, giáo viên dạy kịch của Chalamet khi anh học năm hai ở LaGuardia,[23] đặc biệt ấn tượng với màn thử vai của anh nên đã khăng khăng nhận Chalamet vào trường dù trước đó anh đã bị từ chối trong vòng phỏng vấn. Ông nói, "Tôi đã chấm cho cậu ấy [Chalamet] điểm cao nhất trong số tất cả những buổi thử vai trẻ mà tôi làm giám khảo."[24] Năm 2013, Chalamet tốt nghiệp trường Trung học LaGuardia. Anh đóng vai chính trong nhiều vở nhạc kịch tại trường học, như vai Emcee trong vở Cabaret và Oscar Lindquist trong Sweet Charity.[25][26] Anh cũng là cựu học viên của YoungArts, một tổ chức từ thiện của Mỹ giúp nuôi dưỡng các nghệ sĩ trung học mới nổi.[27]

Sau khi tốt nghiệp trung học, Chalamet theo học tại trường Đại học Columbia trong vòng một năm, chuyên ngành nhân văn học.[19][28] Anh sau đó chuyển đến trường Gallatin School of Individualized Study (một nhánh của trường Đại học New York), để tiện hơn cho việc theo đuổi nghiệp diễn,[29] cũng như thấy việc tiếp tục theo học ở Columbia là quá khó khăn ngay sau khi hoàn tất bộ phim Interstellar.[30] Rời Columbia, anh chuyển tới Concourse, Bronx sinh sống.[8][31]

2008–2016: Những vai diễn đầu tiênSửa đổi

Ngay từ khi còn nhỏ, Chalamet đã xuất hiện trong nhiều quảng cáo, bên cạnh đó là các vai diễn trong hai phim kinh dị ngắn Sweet ToothClown. Anh có lần ra mắt màn ảnh nhỏ đầu tiên với vai nạn nhân của một vụ giết người trong seri phim cảnh sát hình sự dài tập Law & Order (2009),[19] nối tiếp đó là vai phụ trong phim truyền hình Loving Leah (2009). Năm 2011 đánh dấu lần đầu tiên Chalamet ra mắt trên sân khấu trong một vở hài kịch tuổi mới lớn Off-Broadway mang tên The Talls, lấy bối cảnh những năm 70 của thế kỉ trước. Chalamet khi ấy 16 tuổi đảm nhiệm vai cậu nhóc Nicholas 12 tuổi luôn tò mò chuyện giới tính. Tổng biên tập mảng phê bình kịch nghệ sân khấu của tờ New York Daily News viết: "Chalamet đã khắc họa một cách rất vui nhộn sự hiếu kì về giới tính đang dần thức tỉnh trong một đứa trẻ tuổi dậy thì."[32][33] Năm 2012, anh trở lại với vai trò một diễn viên phim truyền hình trong seri Royal Pains, tiếp theo đó là vai người con ương ngạnh Finn Walden trong Homeland, seri phim gián điệp-giật gân được giới chuyên gia đánh giá rất cao. Chalamet cùng các bạn diễn trong Homeland đã nhận được một đề cử từ Nghiệp đoàn Diễn viên Màn ảnh Hoa Kỳ cho Màn trình diễn đột phá của một dàn diễn viên.[34]

Năm 2014 đánh dấu lần đầu tiên Chalamet xuất hiện trên màn ảnh rộng với vai phụ Danny Vance, trong tác phẩm bị giới phê bình chỉ trích Men, Women & Children của đạo diễn Jason Reitman.[35] Cũng trong năm 2014, anh vào vai Tom Cooper trong phim khoa học viễn tưởng Interstellar của đạo diễn Christopher Nolan.[36] Phim nhận được đánh giá rất tích cực của khán giả cũng như những khen ngợi từ giới chuyên gia về diễn xuất của các diễn viên, thu về tới 675 triệu USD trên toàn cầu.[37][38][39] Chalamet khép lại năm 2014 của mình với vai diễn Sam thời niên thiếu trong phim hài Worst Friends. Dù chỉ có số suất chiếu giới hạn nhưng tác phẩm cũng nhận được nhiều đánh giá tích cực.[40] Năm 2015, anh vào vai chính Zac trong bộ phim viễn tưởng-giật gân One & Two, đạo diễn bởi Andrew Droz Palermo. Tác phẩm kể về nhân vật Zac cùng với em gái của mình—Eva, sau khi người mẹ đổ bệnh, bắt đầu khám phá ra những siêu năng lực kì lạ và nhiều bí mật đen tối tồn tại trong gia đình. One & Two nhận được đánh giá trái chiều khi xuất hiện lần đầu tại Liên hoan phim quốc tế Berlin, sau đó ra rạp với số suất chiếu hạn chế.[41][42][43] Vai diễn kế tiếp của Chalamet là nhân vật Stephen Elliott thời niên thiếu trong bộ phim của đạo diễn Pamela Romanowsky, The Adderall Diaries.[44] Năm 2015 của anh kết thúc với vai diễn cậu cháu trai rầu rĩ Charlie Cooper của phim hài mùa Giáng sinh mang tên Giáng sinh nhớ đời, tiếc thay phim lại nhận được phản hồi tiêu cực.[45]

Chalamet nhấn mạnh rằng trong khoảng thời gian sau Interstellar—vai diễn anh đã trông đợi sẽ là một cú hích trong sự nghiệp—[8] anh tham gia nhiều buổi thử vai nhưng tiếc thay đều thất bại, chẳng hạn như Ác quỷ sàn catwalk, Thuyết yêu thương, Mái ấm lạ kỳ của cô PeregrineWhite Boy Rick.[31]

Tháng 2 năm 2016, Chalamet vào vai chính Jim Quinn trong vở kịch tự truyện Prodigal Son của nhà hát Manhattan Theatre Club.[46] Diễn xuất của anh trong Prodigal Son nhận được nhiều khen ngợi và mang về một đề cử của Liên đoàn kịch Hoa Kỳ cho Màn trình diễn xuất sắc, cùng với đó là một chiến thắng tại lễ trao giải Lucille Lortel cho hạng mục Nam diễn viên chính sân khấu xuất sắc nhất.[47][48][49][50] Chalamet tiếp tục tham gia vào phim điện ảnh Miss Stevens của đạo diễn Julia Hart, đảm nhiệm vai cậu học trò nghịch ngợm Billy Mitman. Nhận xét về vai diễn này, Stephen Farber của tờ The Hollywood Reporter viết: "Cậu ấy [Chalamet] vẫn luôn rất thu hút ngay cả khi chỉ yên lặng dõi theo các nhân vật khác và tương tác với họ. Còn khi cậu ấy bùng nổ với những xúc cảm giận dữ, điên cuồng, thì lại khiến cho tất cả chúng ta phải sửng sốt. [...]"[51]

2017–nay: Đột pháSửa đổi

 
Chalamet tại buổi họp báo phim Call Me by Your Name, Liên hoan phim quốc tế Berlin 2017

Mở đầu năm 2017 của Chalamet là vai chính mà anh đã được chỉ định trước đó ba năm, trong phim điện ảnh chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên năm 2007 của André Aciman, Call Me by Your Name, đạo diễn bởi Luca Guadagnino.[52][53] Lấy bối cảnh tại vùng nông thôn miền Bắc nước Ý năm 1983, bộ phim xoay quanh mối quan hệ lãng mạn giữa thiếu niên 17 tuổi Elio Perlman (Chalamet) và sinh viên 24 tuổi người Mỹ, Oliver (Armie Hammer), trợ lí thực tập cho cha của Elio. Để chuẩn bị cho phim, Chalamet đã học tiếng Ý và đàn ghita, đồng thời cũng luyện tập lại đàn piano.[30] Phim có buổi công chiếu đầu tiên tại Liên hoan phim Sundance tháng 1 năm 2017 và nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt, bên cạnh đó diễn xuất của Chalamet cũng được đánh giá cao.[54][55] Jon Frosch của tờ The Hollywood Reporter viết: "Không có màn trình diễn nào của năm nay có thể chân thực theo một cách vừa cảm động, vừa rất thể xác mà cũng rất tâm hồn như vậy", đồng thời anh liệt Chalamet vào danh sách những màn thể hiện tuyệt vời nhất năm 2017 của tạp chí.[56] Tương tự, The New York Times cũng đưa Chalamet vào danh sách của mình, tôn vinh anh là một trong những nam diễn viên xuất sắc nhất của năm.[57] Màn trình diễn của Chalamet trong Call Me by Your Name đã mang về cho anh một chiến thắng tại Lễ trao giải phim Độc lập Gotham hạng mục Nam diễn viên đột phá,[58] đồng thời cũng giúp anh nhận được đề cử cho hạng mục Nam diễn viên xuất sắc nhất tại các lễ trao giải lớn khác như Giải Quả cầu vàng lần thứ 75, Giải thưởng của Nghiệp đoàn Diễn viên Màn ảnh, Giải BAFTA lần thứ 71Giải Oscar lần thứ 90.[59] Chalamet là người trẻ thứ ba trong lịch sử lễ trao giải Oscar được đề cử tại hạng mục Nam diễn viên chính xuất sắc nhất, khi đó anh 22 tuổi, và là người trẻ nhất trong vòng 80 năm kể từ Mickey Rooney năm 1939.[60][61][62][63]

Tác phẩm thứ hai trong năm 2017 mà Chalamet tham gia là Hot Summer Nights của đạo diễn Elijah Bynum. Anh vào vai Daniel Middleton, một thiếu niên vụng về bị cuốn vào công việc bán ma túy trong suốt mùa hè khi anh được mẹ gửi đến ở nhờ nhà họ hàng ở vùng Cape Cod. Phim có số suất chiếu giới hạn vào tháng 7 năm 2018 và nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ giới chuyên môn, dù màn thể hiện của Chalamet vẫn thường được đánh giá là nổi bật.[64][65][66] Cũng trong năm 2017, anh vào vai cậu ấm nhà giàu sành điệu Kyle Scheible, thành viên trong một ban nhạc và cũng là bạn trai của nữ chính do Saoirse Ronan đảm nhiệm trong phim điện ảnh Lady Bird: Tuổi nổi loạn, tác phẩm đầu tay trong vai trò đạo diễn của Greta Gerwig.[67] Dàn diễn viên nhận được nhiều lời khen ngợi, trong đó Ty Burr của tờ The Boston Globe đánh giá vai diễn của Chalamet là "rất thú vị".[68] Tháng 12 năm 2017 đánh dấu bộ phim cuối cùng của anh trong năm—phim Viễn Tây Hostiles, đạo diễn bởi Scott Cooper, trong đó Chalamet vào vai người quân nhân Philippe DeJardin.[20]

Năm 2018, Chalamet nhận được lời mời gia nhập Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ.[69] Vai diễn tiếp theo của anh là thiếu niên nghiện ngập Nic Sheff trong phim Beautiful Boy của đạo diễn Felix van Groeningen[70] giúp Chalamet nhận được đề cử cho hạng mục Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất trong lễ trao giải của Nghiệp đoàn Diễn viên Màn ảnh Hoa Kỳ, Quả cầu vàng và Viện Hàn lâm Anh.[71]

Năm 2019, Chalamet tham gia vào phim hài lãng mạn Chuyện ngày mưa ở New York,[72] tuy nhiên bộ phim chỉ được chiếu với số lượng rất ít do những cáo buộc tình dục chống lại đạo diễn của phim, Woody Allen. Cũng bởi lý do này mà Chalamet đã quyết định quyên góp toàn bộ tiền cát-xê anh nhận được từ bộ phim cho các tổ thức từ thiện Time’s Up, LGBT Center of New YorkRAINN.[73][74][75] Tiếp theo đó, anh vào vai hoàng tử trẻ tuổi của Vương quốc Anh Henry V, người bất đắc dĩ phải thừa kế ngai vàng sau khi vua cha qua đời, trong phim chính kịch dựa trên vở Henriad của Shakespeare, Quốc vương, đạo diễn bởi David Michôd và được chiếu trên nền tảng Netflix.[76][77] Phim thứ ba trong năm 2019 của Chalamet, đồng thời cũng là lần thứ hai anh cộng tác cùng bạn diễn Saoirse Ronan và đạo diễn Greta Gerwig,[78] Những người phụ nữ bé nhỏ, được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Louisa May Alcott. Anh vào vai Theodore "Laurie" Laurence, một chàng trai trẻ chìm đắm trong tình yêu.[79] Phim có phản hồi tích cực từ giới chuyên môn. Diễn xuất của Chalamet nhận được nhiều lời khen ngợi, trong đó có Peter Travers của tờ Rolling Stone và Ann Hornaday của The Washington Post; Travers nhận xét Chalamet đã khắc họa sinh động vai diễn với "sức hút bẩm sinh và vẻ u buồn đầy cảm động".[80][81]

Các dự án sắp ra mắtSửa đổi

Tính đến tháng 5 năm 2020, Chalamet có ít nhất bốn dự án sắp ra mắt. Anh sẽ xuất hiện trong phim điện ảnh hài-chính kịch The French Dispatch của đạo diễn Wes Anderson, đánh dấu lần thứ ba anh cộng tác cùng Saoirse Ronan.[82][83] Chalamet cũng sẽ vào vai chính Paul Atreides trong tác phẩm điện ảnh Dune chuyển thể từ tiểu thuyết khoa học viễn tưởng cùng tên, đạo diễn bởi Denis Villeneuve.[84][85] Tháng 4 năm 2020 là lần đầu tiên anh ra mắt tại các nhà hát London với vở kịch 4000 Miles của đạo diễn Amy Herzog,[86] tuy nhiên công đoạn chuẩn bị cho vở kịch phải hoãn lại do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19.[87] Chalamet sẽ xuất hiện trong bộ phim kể về cuộc đời của một người có thật—nam ca sĩ Bob Dylan, mang tên Going Electric, đạo diễn bởi James Mangold.[88]

Các tác phẩm đã tham giaSửa đổi

PhimSửa đổi

  Chưa ra mắt
Năm Tựa đề Vai diễn Đạo diễn Ghi chú
2008 Sweet Tooth Samuel Rory Kindersley, Jason Noto
2008 Clown Cậu bé Hề Tate Steinsiek
2014 Men, Women & Children Danny Vance Jason Reitman
2014 Spinner Jace Erik L. Barnes
2014 Interstellar Tom Cooper (trẻ) Christopher Nolan
2014 Worst Friends Sam (trẻ) Ralph Arend
2015 One & Two Zac Andrew Droz Palermo
2015 The Adderall Diaries Stephen Elliott Pamela Romanowsky
2015 Giáng sinh nhớ đời Charlie Cooper Jessie Nelson
2016 Miss Stevens Billy Mitman Julia Hart
2017 Call Me by Your Name Elio Perlman Luca Guadagnino
2017 Hot Summer Nights Daniel Middleton Elijah Bynum
2017 Lady Bird: Tuổi nổi loạn Kyle Scheible Greta Gerwig
2017 Hostiles Philippe DeJardin Scott Cooper
2018 Beautiful Boy Nic Sheff Felix van Groeningen
2018 Chuyện ngày mưa ở New York Gatsby Welles Woody Allen
2019 Quốc vương Vua Henry V David Michôd
2019 Những người phụ nữ bé nhỏ Theodore "Laurie" Laurence Greta Gerwig
2020 The French Dispatch  Zeffirelli Wes Anderson Hoàn thành[89]
2020 Dune   Paul Atreides Denis Villeneuve Hậu kì[90]

Truyền hìnhSửa đổi

Năm Tựa đề Vai diễn Ghi chú
2009 Law & Order Eric Foley Tập "Pledge"
2009 Loving Leah Jake Lever (trẻ)
2012 Royal Pains Luke 4 tập
2012 Homeland Finn Walden 8 tập
2013 Trooper Lee Flaxton
2020 Graduate Together: America Honors the High School Class of 2020[c] Chính mình Chương trình đặc biệt

Sân khấuSửa đổi

  Chưa ra mắt
Năm Tựa đề Vai diễn Sân khấu
2011 The Talls Nicholas Clarke McGinn/Cazale Theatre
2016 Prodigal Son Jim Quinn Manhattan Theatre Club
2020 4000 Miles   Leo Joseph-Connell The Old Vic

Giải thưởng và đề cửSửa đổi

Màn trình diễn của Chalamet trong Call Me by Your Name đã mang về cho anh một chiến thắng tại Lễ trao giải phim Độc lập Gotham hạng mục Nam diễn viên đột phá, đồng thời cũng giúp anh nhận được đề cử cho giải Nam diễn viên xuất sắc nhất tại các lễ trao giải lớn khác như Giải Quả cầu vàng lần thứ 75, Giải thưởng của Nghiệp đoàn Diễn viên Màn ảnh (SAG), Giải BAFTA lần thứ 71, Giải Critics' Choice lần thứ 23Giải Oscar lần thứ 90.[59][61][62][63][91] Vai phụ trong Lady Bird cũng giúp anh cùng dàn diễn viên của phim nhận được các đề cử cho Màn trình diễn đột phá tại lễ trao giải Critics' Choice lần thứ 23 và Giải SAG.[62][91] Với vai cậu thiếu niên nghiện ngập trong bộ phim Beautiful Boy của đạo diễn Felix van Groeningen, Chalamet được đề cử cho hạng mục Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất của Giải SAG, Quả Cầu VàngViện Hàn lâm Anh.[92][93][94]

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Tên của Chalamet phát âm trong tiếng Anh là /ˈtɪməθi ˈʃæləm/,[4][5] nhưng trong tiếng Pháp lại là [timɔte ʃalamɛ], theo như anh giới thiệu mới thực sự là phát âm đúng. Tuy nhiên Chalamet quyết định sử dụng phiên bản tiếng Anh hóa mỗi khi trò chuyện bằng tiếng Anh vì cảm thấy việc yêu cầu mọi người phải đọc đúng cái tên Pháp là quá "phô trương và khiên cưỡng".[6]
  2. ^ Trong một số của chương trình The Graham Norton Show, Chalamet tự đánh giá độ lưu loát của anh khi sử dụng tiếng Pháp là khoảng 97%.[11]
  3. ^ Một chương trình đặc biệt chiếu trên các kênh truyền hình lớn của Mỹ vào ngày 16 tháng 5 năm 2020, được tổ chức nhằm vinh danh các học sinh cuối cấp ba khóa 2020 không thể tổ chức lễ tốt nghiệp do trường học đóng cửa bởi ảnh hưởng của đại dịch COVID-19.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Nhiều nguồn:
  2. ^ “Sundance Breakout Timothee Chalamet Joining Steve Carell in 'Beautiful Boy' (Exclusive)”. The Hollywood Reporter. 6 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2020. 
  3. ^ “Timothée Chalamet Biography” (bằng tiếng Anh). IMDb. Bản gốc lưu trữ 24 tháng 6 năm 2018. Truy cập 22 tháng 4 năm 2020. 
  4. ^ “Don't Talk | Armie Hammer and Timothée Chalamet from CALL ME BY YOUR NAME”. YouTube. Alamo Drafthouse. Ngày 27 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  5. ^ “Timothée Chalamet on His Dream Roles and 'Homeland'. Teen Vogue. Ngày 1 tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2019. 
  6. ^ Barrett, Devin (ngày 6 tháng 2 năm 2018). “Timothée Chalamet by Frank Ocean”. V Man. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2019. 
  7. ^ “Timothée Chalamet”. Giải Quả cầu vàng. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2017. 
  8. ^ a ă â b c d Riley, Daniel (ngày 14 tháng 2 năm 2018). “The Arrival of Timothée Chalamet”. GQ. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2018. 
  9. ^ a ă Piette, Jérémy (ngày 26 tháng 2 năm 2018). “Timothée Chalamet, appelez-le par son nom” [Timothée Chalamet, call him by his name]. Libération (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2018. 
  10. ^ Nepales, Ruben V. (ngày 9 tháng 2 năm 2018). “Will Timothée Chalamet be the youngest Oscar best actor winner at 22?”. Philippine Daily Inquirer. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2018. 
  11. ^ “You're Probably Pronouncing Timothée Chalamet's Name Wrong”. ScreenRant.com. Ngày 6 tháng 10 năm 2019. 
  12. ^ Boudsocq, Stéphane (ngày 28 tháng 2 năm 2018). "La Ch'tite famille" et "Call Me By Your Name" dans les sorties de la semaine”. RTL (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  13. ^ Goldberg, Jacky (ngày 6 tháng 2 năm 2018). “Rencontre avec Timothée Chalamet, "the next big thing" du cinéma hollywoodien”. Les Inrockuptibles (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018. 
  14. ^ Demars, Céline (ngày 3 tháng 3 năm 2018). “Les racines auvergnates de Timothée Chalamet, nouveau chouchou d'Hollywood à 22 ans”. La Montagne (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  15. ^ a ă Josh Horowitz (ngày 8 tháng 12 năm 2017). "Happy Sad Confused". Stitcher. MTV. Bản gốc từ bản gốc lưu ngày ngày 26 tháng 4 năm 2018. https://web.archive.org/web/20180426144632/https://www.stitcher.com/podcast/panoply/happy-sad-confused/e/52486078. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2018. 
  16. ^ Kellaway, Kate (ngày 15 tháng 10 năm 2017). “Call Me By Your Name's Oscar-tipped double act on their summer of love”. The Guardian. London. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2018. 
  17. ^ Bloom, Nate (ngày 29 tháng 3 năm 2018). “Celebrity Jews: Timothée Chalamet & TV Catch-Up”. The Jewish News. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2018. son of an American Jewish mother and a French Protestant father. 
  18. ^ “Oscars: Hollywood s'arrache Timothée Chalamet, un Franco-Américain de 22 ans”. LExpress.fr (bằng tiếng Pháp). Ngày 4 tháng 3 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2019. 
  19. ^ a ă â b Herman, James Patrick (ngày 6 tháng 2 năm 2015). “Timothée Chalamet – Takes off in Interstellar”. Verge Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2015. 
  20. ^ a ă Marotta, Jenna (ngày 17 tháng 11 năm 2017). 'Call Me by Your Name': Timothée Chalamet is Learning How to Be a Man, Onscreen and Off”. IndieWire. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2018. 
  21. ^ Lussier, Marc-André (ngày 15 tháng 12 năm 2017). “Timothée Chalamet, nouvelle étoile du cinéma mondial”. La Presse (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2018. 
  22. ^ “PeopleHop: Timothée Chalamet”. Bwog. Ngày 19 tháng 9 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2017. 
  23. '^ Scott Feinberg (ngày 19 tháng 2 năm 2018). Awards Chatter' Podcast — Timothee Chalamet ('Call Me by Your Name'). "The Hollywood Reporter". The Hollywood Reporter: Event occurs at 34:04-34:17. Bản gốc từ bản gốc lưu ngày ngày 19 tháng 9 năm 2018. https://web.archive.org/web/20180919104013/https://www.hollywoodreporter.com/race/awards-chatter-podcast-timothee-chalamet-call-me-by-your-name-1082776. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018. 
  24. ^ Duboff, Josh (ngày 19 tháng 1 năm 2018). “Meet Timothée Chalamet and Ansel Elgort's High-School Drama Teacher, Mr. Shifman”. Vanity Fair. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018. 
  25. ^ Freedman, Adrianna Chaviva (ngày 5 tháng 2 năm 2018). “Timothee Chalamet Is The Youngest In 80 Years To Be Nominated For Best Actor”. The Forward. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2018. 
  26. ^ Bell, Crystal (ngày 27 tháng 2 năm 2018). “Timothée Chalamet Is Still Learning How To Be A Leading Man”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2018. Chalamet learned the craft, while trying out for school productions of Cabaret and Sweet Charity 
  27. ^ “2013 YoungArts Winners” (PDF). YoungArts. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2017. 
  28. ^ West, James (ngày 31 tháng 3 năm 2018). “Back in the day with Timothée Chalamet”. HERO Magazine (13) (xuất bản ngày 30 tháng 4 năm 2015). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2018. I'm at Columbia University in New York, majoring in cultural anthropology. 
  29. ^ Kaufman, Amy (ngày 17 tháng 11 năm 2017). “Timothée Chalamet is Hollywood's next big thing with 'Call Me by Your Name' and 'Lady Bird'. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2018. 
  30. ^ a ă McConaughey, Matthew (ngày 2 tháng 6 năm 2017). “Timothée Chalamet”. Interview. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2017. Anyway, I did a year at Columbia, and I just kind of floundered. Maybe it wasn’t the right place for me. [...] Columbia takes a wholehearted academic commitment that I think I have in me, but it was just not where my mind was at the time. I’d just left working a month and a half in Canada with my favorite director and you, one of my favorite actors, and had to go back into a structured environment. It was just hard. 
  31. ^ a ă Rothkopf, Joshua (ngày 5 tháng 10 năm 2018). “Timothée Chalamet: ‘I don’t know how the f**k any of this happened’”. TimeOut London. TimeOut Group Plc. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2020. 
  32. ^ Isherwood, Charles (ngày 16 tháng 8 năm 2011). “A 17-Year-Old Beanstalk From a Wholesome '70s Family Is Eager to Go Far Out”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2017. 
  33. ^ Dziemianowicz, Joe (ngày 16 tháng 8 năm 2011). 'The Talls' review: Family drama is familiar story, but excellent acting gives play extra boost”. New York Daily News. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2017. 
  34. ^ Blake, Meredith (ngày 12 tháng 12 năm 2012). “SAG award nominations: Cable dramas and network sitcoms dominate”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2017. 
  35. ^ “Men, Women & Children Reviews”. Metacritic. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2018. 
  36. ^ Sneider, Jeff (ngày 15 tháng 7 năm 2013). “Christopher Nolan Casting Young 'Homeland' Actor in 'Interstellar' (Exclusive)”. TheWrap. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2017. 
  37. ^ Greene, Andy (ngày 8 tháng 4 năm 2015). “Readers' Poll: The 20 Best Movies of the 2010s So Far”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2017. 
  38. ^ Anand, Gautam (ngày 6 tháng 11 năm 2014). “Review: 'Interstellar' is Awe-Inspiring”. The Cinemaholic. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2017. 
  39. ^ Travers, Peter (ngày 4 tháng 12 năm 2014). “10 Best Movies of 2014”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2017. 
  40. ^ “Worst Friends (2014)”. Rotten Tomatoes. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017. 
  41. ^ Debruge, Peter (ngày 12 tháng 2 năm 2015). “Berlin Film Review: 'One & Two'. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2018. 
  42. ^ Gold, Daniel M. (ngày 13 tháng 8 năm 2015). “Review: 'One & Two' Exposes Dangers of Trying to Control Teenagers”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2018. 
  43. ^ “One & Two (2015)”. Rotten Tomatoes. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2015. 
  44. ^ “The Adderall Diaries (2016)”. Rotten Tomatoes. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2016. 
  45. ^ “Love the Coopers (2015)”. Rotten Tomatoes. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016. 
  46. ^ “Timothee Chalamet”. Alumni and Friends of LaGuardia High School. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2017. 
  47. ^ Rooney, David (ngày 1 tháng 5 năm 2016). “Lucille Lortel Awards: The Complete Winners List”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2017. 
  48. ^ Cox, Gordon (ngày 20 tháng 4 năm 2016). “Drama League Awards Nominations: Jessica Lange, Lupita Nyong'o, Jesse Tyler Ferguson and Lots More (FULL LIST)”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017. 
  49. ^ Brantley, Ben (ngày 9 tháng 2 năm 2016). “Review: 'Prodigal Son,' John Patrick Shanley's Exploration of the Student He Once Was”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2017. 
  50. ^ Rooney, David (ngày 9 tháng 2 năm 2016). 'Prodigal Son': Theater Review”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2017. 
  51. ^ Farber, Stephen (ngày 14 tháng 3 năm 2016). 'Miss Stevens': SXSW Review”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2017. 
  52. ^ Raup, Jordan (ngày 23 tháng 5 năm 2016). “Michael Stuhlbarg, Armie Hammer & More Leading Luca Guadagnino's 'Call Me By Your Name'. The Film Stage. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016. 
  53. ^ Vivarelli, Nick (ngày 13 tháng 2 năm 2017). “Berlinale: Luca Guadagnino on Why 'Call Me by Your Name' Strikes Such Deep Chords”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2017. 
  54. ^ “Call Me By Your Name Reviews”. Metacritic. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2017. 
  55. ^ Greene, Steve (ngày 21 tháng 1 năm 2017). “Sundance 2017 IndieWire Critics Poll Results: Best Lead Performance”. IndieWire. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017. 
  56. ^ “Hollywood Reporter Film Critics Pick the 13 Best Performances of the Year”. The Hollywood Reporter. Ngày 13 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  57. ^ Scott, A.O.; Morris, Wesley (ngày 7 tháng 12 năm 2017). “The 10 Best Actors of the Year”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2017. 
  58. ^ Gettell, Oliver (ngày 27 tháng 11 năm 2017). Call Me By Your Name takes top prize at 2017 Gotham Awards”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2017. 
  59. ^ a ă “The 90th Academy Awards (2018) Nominees and Winners”. Academy of Motion Picture Arts and Sciences (AMPAS). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2018. 
  60. ^ Haylock, Zoe (ngày 23 tháng 2 năm 2018). “Timothee Chalamet - Oscars: 11 of 2018's Historic Nominees”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2018. 
  61. ^ a ă Merry, Stephanie; Yahr, Emily (ngày 11 tháng 12 năm 2017). “Golden Globes nominations 2018: Complete list of nominations”. The Washington Post. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2017. 
  62. ^ a ă â Nordyke, Kimberly (ngày 21 tháng 1 năm 2018). “SAG Awards: Complete List of Winners”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2018. 
  63. ^ a ă “BAFTA Awards: 2018 Complete Winners List”. Variety. Ngày 18 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2018. 
  64. ^ Evans, Greg (ngày 12 tháng 4 năm 2018). 'Hot Summer Nights' Trailer: Timothée Chalamet Gets Tangled Up In Weed”. Deadline Hollywood. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2018. 
  65. ^ “Hot Summer Nights Reviews”. Metacritic. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2018. 
  66. ^ Collins, K. Austin (ngày 26 tháng 7 năm 2018). “Timothée Chalamet Makes the Overwrought Hot Summer Nights Worthwhile”. Vanity Fair. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2018. 
  67. ^ Kohn, Eric (ngày 2 tháng 9 năm 2017). “Saoirse Ronan Scores Her Greatest Role In Greta Gerwig's Winning Directorial Debut 'Lady Bird' — Review”. IndieWire. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2017. 
  68. ^ Burr, Ty (ngày 8 tháng 11 năm 2017). 'Lady Bird' a wise, funny, empathetic tale from Greta Gerwig”. The Boston Globe. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2017. 
  69. ^ Pedersen, Erik (ngày 25 tháng 6 năm 2018). “Movie Academy Invites Record 928 For Membership”. Deadline Hollywood. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018. 
  70. ^ Ford, Rebecca (ngày 6 tháng 2 năm 2017). “Sundance Breakout Timothee Chalamet Joining Steve Carell in 'Beautiful Boy' (Exclusive)”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2017. 
  71. ^ “Golden Globe Nominations: Complete List”. Variety. Ngày 6 tháng 12 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2018. 
  72. ^ Vivarelli, Nick (ngày 5 tháng 5 năm 2019). “Woody Allen's 'A Rainy Day in New York' to be Released in Italy (EXCLUSIVE)”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2019. 
  73. ^ Harmon, Steph (ngày 8 tháng 8 năm 2017). “Timothée Chalamet: 'I don't want to profit from my work on Woody Allen's film'. The Guardian. London. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2017. 
  74. ^ Ng, David (ngày 16 tháng 9 năm 2018). “A year into #MeToo, some movies, including four Weinstein titles, are still stuck in distribution limbo”. The Los Angeles Times. Los Angeles, California: Tronc. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2018. 
  75. ^ Pulver, Andrew (ngày 20 tháng 11 năm 2018). 'A terrible shame': Jude Law defends Woody Allen film after Amazon shelves it”. The Guardian. London, England: Guardian Media Group. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2018. 
  76. ^ Wiseman, Andreas (ngày 31 tháng 5 năm 2018). “Robert Pattinson, Lily-Rose Depp, Among Cast Joining Timothée Chalamet In Netflix Pic 'The King', Cameras Roll This Week”. Deadline Hollywood. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018. 
  77. ^ Sharf, Zack (ngày 25 tháng 7 năm 2019). 'The King' First Look: All Hail Timothée Chalamet in Netflix's Shakespearean Drama”. IndieWire. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2019. 
  78. ^ Rich, Katey (ngày 8 tháng 9 năm 2018). “Timothée Chalamet Lost 20 Pounds for His Latest Role, but That Wasn't the Hard Part”. Vanity Fair. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2018. 
  79. ^ Kaufman, Amy (ngày 24 tháng 12 năm 2019). “In the snow with Greta Gerwig at the places that inspired 'Little Women'. The Los Angeles Times. 
  80. ^ Travers, Peter (ngày 23 tháng 12 năm 2019). “Greta Gerwig Delivers a 'Little Women' for a New Generation”. Rolling Stone. 
  81. ^ Hornaday, Ann (ngày 17 tháng 12 năm 2019). “Part Alcott, part Gerwig, 'Little Women' is a very nearly perfect film”. The Washington Post. 
  82. ^ Kroll, Justin (ngày 6 tháng 12 năm 2018). “Timothee Chalamet Joins Tilda Swinton, Bill Murray in Wes Anderson's "The French Dispatch". Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2018. 
  83. ^ Stolworthy, Jacob (ngày 1 tháng 2 năm 2019). “The French Dispatch: Every actor who will star in Wes Anderson's new film”. The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2019. 
  84. ^ Sharf, Zack (ngày 27 tháng 9 năm 2018). “Timothée Chalamet Raves About 'Dune' and Denis Villeneuve: 'If You Do a Big Movie, Make Sure It's With a Great Director'. IndieWire. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2018. 
  85. ^ D'Alessandro, Anthony (ngày 16 tháng 2 năm 2019). “Warner Bros. Dates Dune For November 2020 & More”. Deadline Hollywood. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2019. 
  86. ^ “Timothée Chalamet to make London stage debut”. The Guardian. Ngày 20 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2019. 
  87. ^ “A NOTE FROM OUR ARTISTIC DIRECTOR”. Old Vic Theatre. Ngày 18 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2020. 
  88. ^ Stedman, Alex (ngày 6 tháng 1 năm 2020). “Timothee Chalamet to Play Bob Dylan in Film Directed by James Mangold”. Variety. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2020. 
  89. ^ “The French Dispatch (2020)”. IMDb. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 5 năm 2020. Truy cập 6 tháng 5 năm 2020. 
  90. ^ “Dune (2020)”. IMDb. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 3 năm 2020. Truy cập 6 tháng 5 năm 2020. 
  91. ^ a ă Kilday, Gregg (ngày 6 tháng 12 năm 2017). “Critics' Choice Awards: 'The Shape of Water' Leads With 14 Nominations”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2018. 
  92. ^ “Winners & Nominees 2019”. www.goldenglobes.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2019. 
  93. ^ “EE British Academy Film Awards Nominees in 2019”. www.bafta.org (bằng tiếng Anh). Ngày 9 tháng 1 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2019. 
  94. ^ “Announcing the Nominees for the 24th Annual Critics' Choice Awards”. Critics' Choice Awards (bằng tiếng Anh Mĩ). Ngày 10 tháng 12 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2019. 

Liên kết ngoàiSửa đổi