Vân Canh (xã)

xã thuộc Hoài Đức
(đổi hướng từ Vân Canh, Hoài Đức)

Vân Canh là một thuộc huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Việt Nam.

Vân Canh

Hành chính
VùngĐồng bằng sông Hồng
Thành phốHà Nội
HuyệnHoài Đức
Địa lý
Diện tích4,49 km²[1]
Dân số (2018)
Tổng cộng9.642 người[2]
Mật độ2.147 người/km2
Dân tộcHầu hết là Kinh
Khác
Mã hành chính09862[3]

Vị trí địa lýSửa đổi

Xã Vân Canh nằm ở phía Đông huyện Hoài Đức, gồm 3 thôn: Kim Hoàng, An Trai và Hậu Ái.

Lịch sửSửa đổi

Xã Vân Canh đã được hình thành lâu đời, ít nhất là từ thời Lý và tên xã Vân Canh xuất hiện thời Lê sơ. Gồm 3 làng: Kim Hoàng (do 2 làng Kim Bảng và Hoàng Bảng gộp vào), An Trai và Hậu Ái (Nhân Ái).

Tổng Hương Canh xưa có hai xã là Hương Canh và Vân Canh, gồm tất cả bảy làng Canh. Đây là một vùng đất cổ, các làng Canh đều được gọi theo Nôm là kẻ Canh, cư dân đến sống ở đây ít nhất cũng từ đầu công nguyên. Theo bản Ngọc Phả do Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính soạn, từ đời Vua Hùng thứ XVIII, ông Phan Tây Nhạc đã từ Châu Ái (Thanh Hóa) ra vùng Canh cư ngụ. Sau ông có theo Tản Viên Sơn Thánh đi đánh quân Thục, nên được Vua Hùng gả cháu gái và cho phong ấp ở vùng Canh. Đây là một vùng quê cổ kính, văn hiến, đã được ghi nhận qua câu phương ngôn nổi tiếng: Mỗ, La, Canh, Cót tứ danh hương

Bảy làng Canh gồm: Ngọc Mạch, Hòe Thị, Thị Cấm, Hậu Ái, An Trai, Kim Bảng và Hoàng Bảng. Hai làng Kim Bảng và Hoàng Bảng đến cuối thế kỷ XVI đã nhập thành một làng Kim Hoàng và dựng ngôi đình lớn. Tấm biển Lưỡng bảng hội đình hiện còn lưu giữ ở đình Kim Hoàng.

Dân sốSửa đổi

Xã Vân Canh có dân số tương đối ít so với các xã trong huyện Hoài Đức.

Truyền thống văn hóaSửa đổi

Truyền thống hiếu họcSửa đổi

Năm 894 Cao Biền nhà Đường sang An Nam làm thứ sử đi ngang qua xã đã nói

"Tây Hồ thoát mạch

Lạc tại Vân Canh

Mạch trầm thủy để

Thế xuất khoa danh"

Quả đúng theo lời tiên đoán của Cao Biền, trong lịch sử khoa cử của chế độ phong kiến, Vân Canh có 15 vị tiến sĩ nho học (đỗ các khoa tiến sĩ, sĩ vọng, minh kinh bác học, hoành từ, chế khoa, ân khoa) và hàng trăm cụ đỗ Hương cống, Cử Nhân, Sinh đồ và Tú tài

Riêng làng Hậu Ái có chín người đỗ tiến sĩ, 21 hương cống, cử nhân, 15 sinh đồ, tú tài. Người đầu tiên đỗ đại khoa là Đỗ Kính Tu, đỗ Thái học sinh dưới triều Lý Anh Tông (1138 - 1175) phụ chính cho vua, được ban quốc tính. Năm 1182, ông được cử làm "Đế Sư" của vua Lý Cao Tông. Năm 1210, Lý Cao Tông ốm nặng, cho gọi Đỗ Kính Tu vào nhận mệnh ký thác lập hoàng tử Sảm lên ngôi vua tức Lý Huệ Tông.

Nguyễn Bá Đôn, người thôn Hậu Ái đỗ tiến sĩ khoa Tân Hợi (1851) đã làm đôi câu đối thờ ông ở đình làng:

Thánh địa đốc sinh hiền văn võ tài du vi quốc bảo.

Đăng sơn nan vãn nhật anh hùng phá giang lưu

Tức là:  “Nơi thánh địa ắt sinh ra người hiền. Mưu tài văn võ là của quí cho đất nước”

Sau Đỗ Kính Tu là Nguyễn Hành, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, làm đến Lại bộ tả thị lang. Con ông là Nguyễn Lang cũng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm 1550.

Về dòng họ Lê ở Hậu Ái, vốn là dòng dõi Lê Lợi từ đất Lam Sơn (Thanh Hóa) ra lập nghiệp có nhiều người khoa bảng. Từ đường của họ Lê còn có câu đối:

Tự tiền Lê Chí Quốc triều, khoa hoạn thiên liên lưu thế phả.

Thủy cố lý cập Thanh Hoa, bản chi phái dẫn du gia khương”:

Tức là: " Từ tiền Lê tới Quốc triều, khoa hoạn truyền đời lưu vào gia phả. Vốn từ đất Thanh Hóa, con cháu ngày càng phát đạt."

Người đầu tiên của dòng họ Lê, đỗ đạt cao là Lê Củ Phương, đỗ Hoàng giáp năm 1541, làm đến Hiến sát sứ. Cháu tằng tôn của ông là Lê Đức Vọng đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ năm 1637 làm đến Thừa chính sứ. Ngoài ra, theo gia phả và theo Từ Liêm đăng khoa lục, các con của Lê Củ Phương là Lê Địch Văn và Lê Địch Giáo; con của Lê Đức Vọng là Lê Đức Nghiệp cũng đỗ tiến sĩ.

Làng Kim Hoàng có 4 người đỗ tiến sĩ, 31 người đỗ Hương cống. Dòng họ Trần nổi tiếng ở thôn Kim Hoàng bốn đời nối nhau đỗ đạt. Người đầu tiên là cụ Trần Hiền (Hoè Hiên tiên sinh) đậu tiến sĩ khoa Quí Sửu 1733 dưới triều Lê, sung chức Hàn lâm viện thị giảng. Con Trần Hiền là Trần Huân, hiệu là Yên Lý tiên sinh đậu Cử nhân khoa Ất Dậu (1745) đời Lê được bổ nhiệm làm tri phủ Lâm Thao.

Trần Bá Lãm (1757-1815), con trưởng của Trần Huân, là học trò của tiến sĩ Nguyễn Quí Hiển. Ông đậu giải Nguyên khoa thi hương, năm Cảnh Hưng thứ 40 (1779) lúc tròn 22 tuổi. Năm Cảnh Hưng thư 44, ông phụng mệnh làm phúc khảo trường thi Nghệ An khoa Quí Mão (1783). Năm Nhâm Ngọ (1786), khi hoàng tự tôn của vua Lê Hiện Tông là Lê Duy Kỳ lên nắm chính sự, ông sung chức thị nội văn chức. Năm 1787 Lê Duy Kỳ chính thức lên ngôi, đặt niên hiệu Chiêu Thống. Để thu phục nhân tâm và theo đề nghị của Nguyễn Hữu Chỉnh, cho mở chế khoa để thu phục người tài. Số người vào điện thi có tới trên 200, chỉ có hai người được lấy đỗ. Trần Bá Lãm ở vị trí đậu đệ nhất giáp. Do sinh vào thời thác loạn nên ông chẳng được yên để yến vũ tu văn, bước hoạn đồ của ông chịu nhiều thăng trầm trôi nổi, phải trải qua ba triều đại và năm đời vua. Ông được giữ chức cấp sư trung rồi thăng hàn lâm viện hiệu uý, rồi được bổ giữ chức Hải Dương đốc đồng tham hiệp nhung vụ, được phong tước Canh nhạc bá dưới thời Lê Chiêu Thống. Con Trần Bá Lãm là Trần Bá Kiên đậu giải nguyên khoa Đinh Mão (1807) sung chức phó sứ như thanh cầu phong, nhưng vì chánh sứ không đi được, ông thay quyền đó là năm Minh Mạng nguyên niên.

Ở Kim Hoàng còn có dòng họ Lý Trần (gốc họ Đặng) có cụ Đặng Trần Diễm là thầy dạy cho 3 người con đều đỗ tiến sĩ, được nhận sắc phong của Vua “Giáo tử đăng khoa”. Các con của ông là:

  • Lý Trần Quán, đậu Cử nhân năm 19 tuổi, năm 32 tuổi đỗ tiến sĩ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ. Lý Trần Quán đã từng đảm nhiệm các chức vụ: hiến sát sứ Hải Dương, đốc đồng tỉnh Cao Bằng, hiệp trấn tỉnh Sơn Tây, sau cùng là đông các đại học sĩ Quốc tử Giám tu nghiệp. Ông đã tự chôn sống mình để trả giá cho sự sai lầm là quá tin học trò, đến nỗi trao chúa vào tay quân phản bội, đó là tháng 7 năm 1786, lúc đó ông đang ở làng Hạ Lôi (Yên Lãng). Sau này, khi vua Lê Chiêu Thống lên ngôi, năm Đinh Mùi (1787) đã truy tặng Lý Trần Quán làm Đại vương, phong phúc thần và ban cho đôi câu đối: “Khảng khái cần vương dị; Thung dung tựu nghĩa nan”.
  • Lý Trần Dự đỗ tiến sĩ năm 25 tuổi, cùng khoa thi với Lý Trần Thản năm 1769.
  • Lý Trần Thản (17211776, con của vợ thứ) cũng đậu tiến sĩ năm 1769, nhưng Lý Trần Thản theo về quê mẹ ở Lê Xá, xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam

Danh sách các vị tiến sĩSửa đổi

  1. Đỗ Kính Tu (1148 hoặc 1152? – 1216) thi đỗ Thái học sinh - đỗ đầu khoa thi Tam giáo đời vua Lý Anh Tông (1138 - 1175).
  2. Nguyễn Hành (? – ?) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa thi năm 1532, đời vua Mạc Đăng Doanh.
  3. Lê Củ Phương (1512 – 1560) thi đỗ Hoàng giáp khoa thi năm 1541, đời vua Mạc Phúc Hải.
  4. Ngô Tĩnh (1514 – ?) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ khoa Giáp Thìn 1544, đời vua Mạc Phúc Hải
  5. Nguyễn Lương (1519 – ?) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa thi năm 1550, đời vua Mạc Phúc Nguyên
  6. Lê Đức Vọng (1602 – 1667) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa thi năm 1637, đời vua Lê Thần Tông
  7. Trần Hiền (1684 – 1742) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ khoa Quý Sửu 1733, đời vua Lê Thuần Tông
  8. Lý Trần Quán (1735 – 1786) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ khoa Bính Tuất 1766, đời vua Lê Hiển Tông
  9. Lý Trần Dự (1746 – 1777) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ khoa Kỉ Sửu 1769, đời vua Lê Hiển Tông
  10. Trần Bá Lãm (1757 – 1815) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ khoa Đinh Mùi 1787, đời vua Lê Mẫn Đế
  11. Nguyễn Bá Đôn (1822 – ?) thi đỗ Đệ tam giáp đồng cát sĩ chế khoa Tân Hợi năm 1851, đời vua Tự Đức.
  12. Lê Địch Văn thi đỗ khoa Sĩ vọng
  13. Lê Địch Giáo thi đỗ khoa Sĩ vọng
  14. Lê Đức Nghiệp thi đỗ khoa Hoành từ
  15. Nguyễn Viết Nhân thi đỗ khoa Sĩ vọng

Truyền thống cách mạngSửa đổi

Truyền thống khoa bảng và văn hóa của người vùng Canh làm cơ sở cho truyền thống cách mạng. Tháng 10/1929, các tổ Nông hội đầu tiên của cả vùng ra đời tại làng Kim Hoàng, rồi dấy lên các cuộc đấu tranh lớn chống thực dân. Những chiến sỹ cách mạng ở địa phương đã mở trường Hứa Do, thu hút nhiều thanh thiếu niên vào trường cách mạng.

Năm 1943, Hội truyền bá quốc ngữ được thành lập do nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện là Hội trưởng, đặt tại trụ sở trường Hứa Do.

Đêm 18/8/2945, nhân dân làng Kim Hoàng cùng nhân dân xã Vân Canh và các xã lân cận đã tập trung tại đình Kim Hoàng và sáng sớm ngày 19/5/1945, hàng ngàn người giương cao cờ đỏ sao vàng, đội ngũ chỉnh tề, dưới sự lãnh đạo của Việt Minh - đứng đầu là đồng chí Trương Thị Mỹ - một cán bộ xứ ủy Bắc Kì, hùng dũng tiến quân tham gia mít tinh tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, phủ Hoài Đức, lật đổ chính quyền tay sai, lập chính quyền cách mạng lâm thời huyện Hoài Đức.

14h ngày 20/8/1945, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Hoài Đức chuyển trụ sở từ đình Đăm (Tây Tựu) về đình Kim Hoàng và ra mắt trước hàng ngàn quần chúng cách mạng ở Vân Canh và các xã lân cận.

Ngày 4 - 5.3.1946, tại dãy nhà ngang nhà cụ Nguyễn Thông Phúc ở xóm 14, thôn Hậu Ái, Hội nghị Trung ương Đảng đã họp, thông qua quyết định ký Hiệp định Sơ bộ ngày 3.3.1946, tạm hòa với Pháp.

Từ ngày 26/11-3/12/1946, tại một căn gác nhỏ của trường Hứa Do, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đã quyết định nhiều việc lớn, chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Tại căn phòng tầng 2 ngôi nhà chính của cụ Nguyễn Thông Phúc, trụ sở của trường Hứa Do cũ, trong thời gian từ ngày 26.11- 3.12.1946, Hồ Chủ tịch đã đã ký nhiều văn kiện quan trọng, như Quyết định thành lập Bộ Lao động, Lời kêu gọi đồng bào thành lập Nghĩa thương để chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài, và đặc biệt là Ấn định hình phạt về tội đưa và nhận hối lộ. Đến ngày 3.12.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Vân Canh, chuyển về ở và làm việc tại làng Vạn Phúc, thị xã Hà Đông...

Ngày nay, truyền thống tài hoa và văn hiến của vùng quê này lại được tiếp nối với nhiều trí thức, văn nghệ sỹ tài năng, danh tiếng như nhà sử học Văn Tân, Giáo sư y khoa Nguyễn Tài Thu, họa sỹ Bùi Xuân Phái

Dòng tranh Kim HoàngSửa đổi

Vân Canh còn là quê hương của dòng Tranh Kim Hoàng cùng với dòng tranh điệp Đông Hồ, dòng tranh Hàng Trống được xem là ba dòng tranh dân gian lâu đời ở Việt Nam. Tranh của làng Kim Hoàng có đủ loại tranh thờ cúng, tranh chúc tụng như một số dòng tranh khác cùng thời (Đông Hồ, Hàng Trống) nhưng tranh Kim Hoàng lại biết kết hợp nhiều ưu điểm của hai dòng tranh đó. Tranh Kim Hoàng có nét khắc thanh mảnh, tỉ mỉ hơn tranh Đông Hồ; màu sắc lại tươi như tranh Hàng Trống. Vì thế nó tạo cho dòng tranh này những giá trị riêng. Nghề làm tranh thịnh nhất trong thế ký 19. Đến trận lụt vỡ đê Liên Mạc năm 1913 tràn vào đình đã cuốn trôi bản khắc cộng với kinh tế khó khăn nên dòng tranh Kim Hoàng dần bị thất truyền.

Những năm gần đây bà Nguyễn Thị Thu Hòa - Giám đốc bảo làng gốm sứ Hà Nội bằng sự đam mê và nhiệt huyết của mình đã cố gắng khôi phục lại dòng tranh độc đáo của làng Kim Hoàng. Dự án đã đạt được những thành công bước đầu khi công chúng đã biết đến dòng tranh và sắm các bức tranh về trang trí trong gia đình và ra thế giới.

Vân Canh lao động sản xuấtSửa đổi

Từ ngàn xưa, người dân xã Vân Canh chủ yếu là nông dân thuần túy. Công việc của người dân là canh tác lúa, làm rau thơm và đi chợ, trồng cây ăn quả (chủ yếu là bưởi và cam Canh), làm VAC (Vườn ao chuồng).

Xưa kia xã có nghề dệt vải, thêu ren nhưng nghề đã mai một dần.

Người Vân Canh cũng có truyền thống làm thầy thuốc, với nhiều thầy lang, bác sĩ nổi tiếng.

Nghề nổi tiếng khắp bốn phương là in tranh đỏ

Khoảng năm 2008, để thực hiện 3 dự án đô thị hóa trên địa bàn xã. Diện tích đất canh tác đã được thu hồi, nên hàng ngàn nông dân ở xã kiếm các công việc mới như trông trẻ, đi làm lau dọn vệ sinh hoặc mở hàng quán,...

Vân Canh đang đô thị hóaSửa đổi

Từ khoảng năm 2007-2008 trước khi sáp nhập vào Hà Nội UBND tỉnh Hà Tây đã ra quyết định thu hồi đất ruộng đồng trên địa bàn xã để quy hoạch thực hiện 3 dự án khu đô thị mới ở 3 thôn

  • Khu đô thị mới Vân Canh tại thôn Hậu Ái
  • Khu đô thi Vườn Cam tại thôn Kim Hoàng
  • Khu đô thị đại học Vân Canh tại thôn An Trai

Sau khi trở thành xã thuộc thủ đô Hà Nội 1/8/2008, tuyến đường liên tỉnh 442B đã được sửa chữa và nâng cấp trở nên rộng rãi và đẹp đẽ như hiện nay.

Các công trình trong xã cũng được tu sửa và xây mới như nhà văn hóa 3 thôn, nhà văn hóa xã, Đài tưởng niệm liệt sĩ và UBND xã Vân Canh.

Trên địa bàn xã có 1 tuyến xe buýt ngang qua tỉnh lộ 422B số 97 đi từ UBND huyện đến Công viên Nghĩa Đô - Cầu Giấy.

Năm 2017 Nhà nước thu hồi đất hoa màu trên địa bàn xã để thực hiện dự án Đường vành đai 3,5 nối Đại lộ Thăng Long với quốc lộ 32.

Trong năm 2018-2019 công an huyện và xã cũng thực hiện việc cắm biển đường, ngõ, ngách và làm số nhà trên địa bàn xã khiến hoạt động sản xuất, kinh doanh trở nên dễ dàng hơn.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ.
  2. ^ Tổng điều tra dân số năm 1999, dẫn theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT.
  3. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam

Liên kết ngoàiSửa đổi