Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ

Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽: yòngmíng yánshòu; yōmyō enju; 904-975) cũng được gọi là Huệ Nhật Trí Giác (慧日智覺) là thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Pháp Nhãn, nối pháp Quốc sư Thiên Thai Ðức Thiều. Tông Pháp Nhãn rất phồn thịnh dưới sự hoằng hoá của sư. Học chúng đến rất đông – có lúc đến 2000 người để tham thiền. Sư có soạn bộ Tông kính lục (宗鏡錄) gồm một trăm quyển, được lưu truyền khá rộng trong giới thiền. Sư là tổ sư dời thứ ba của Tông Pháp Nhãn và cũng được tôn xưng là tổ thứ sáu của Tịnh Độ Tông tại Trung Quốc.

Cơ duyênSửa đổi

Thiền sư Trung Quốc

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Khác


họ Vương, người Dư Hàng, lúc tuổi còn bé đã qui tâm Phật thừa. Đến lúc trưởng thành không ăn thức ăn tanh mặn, ngày chỉ ăn một bửa, trì kinh Pháp Hoa thất hàng câu hạ, chỉ sáu tuần (tuần mười ngày) là đã đọc thuộc lòng. Sư tụng kinh cảm được bầy dê quỳ xuống nghe kinh.

Năm 28 tuổi, Sư được làm quan trấn ở Hoa Ðình nước Ngô Việt và có dịp tiếp xúc với Thiền sư Thuý Nham Lệnh Tham. Sư lễ Thuý Nham làm thầy, làm việc hằng ngày phục vụ chúng mà quên cả chức vụ quan tước của mình. mặc chẳng lụa là, ăn chẳng gia vị ngon ngọt, chỉ mặc vải thô, ăn rau rác qua ngày mà thôi.

Cơ duyên xuất gia của sư cũng rất thú vị và thường được nhắc đến. Vì thương dân nên sư trộm lấy tiền của vua mà phân phát cho người nghèo. Một vị quan khác biết được bèn tâu lại với vua. Nghe chuyện này vua rất ngạc nhiên vì ông cứ cho rằng sư là người thuần lương, thành thật. Ðể răn chúng dân, vua ra lệnh xử trảm nhưng lại căn dặn vị quan là nếu sư nhận lệnh mà an vui trầm tĩnh thì tha tội và đến trình vua. Quả thật như nhà vua tiên đoán, sư không tỏ vẻ sợ hãi khi nghe tin này. Ðược vua hỏi vì sao, Sư trả lời: Thần muốn từ quan, cống hiến cuộc đời cho tất cả chúng sinh, muốn xuất gia tu học Phật pháp với trọn tấm lòng. Nghe như vậy, sư được vua cho phép từ quan chức để xuất gia.

Về sau sư đến ngọn Thiên Trụ núi Thiên Thai tọa thiền trong chín tuần (90 ngày). Có chim xích án làm tổ trong áo của sư. Sau đến khi tham yết Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều, vừa thấy sư quốc sư liền nhận ngay, mật trao huyền chỉ, nhưng nói với sư rằng: Ông với nguyên soái có duyên, ngày sau sẽ đại hưng Phật sự.

Hành trạngSửa đổi

Ban đầu Sư đến núi Tuyết Ðậu, Minh Châu hoằng hoá, học chúng đến rất đông. Niên hiệu Kiến Long (950), Trung Hiến Vương thỉnh sư vào ở chùa mới xây ở núi Linh Ẩn làm trụ trì đời thứ nhất.

Qua năm sau, lại thỉnh sư đến ở tại đại đạo tràng lớn Vĩnh Minh, làm trụ trì đời thứ hai, tăng chúng có 2.000 người.

Sư trụ trì đạo tràng Vĩnh Minh 15 năm, độ đệ tử hơn 1.700 người. Năm Khai Bảo thứ bảy, sư vào núi Thiên Thai độ giới, khoảng hơn ngàn người, thường cùng 7 chúng thọ giới Bồ-tát, ban đêm thí thực cho quỷ thần, ngày phóng sanh các loại chẳng thể tính đếm nổi. Sáu thời tán huê, hành đạo, sức lực còn lại niệm kinh Pháp Hoa đến 13000 lần.

Vua Cao Ly Triều Tiên là Quang Tông(光宗) xem ngôn giáo của sư, khiển sứ giả đến thỉnh sách, giữ lệ đệ tử, phụng kim tuyến dệt thành áo ca-sa kết kèm theo rất nhiều châu ngọc tặng cho sư. Lại phái 36 vị tăng đến tham học nơi sư và tất cả đều được tông chỉ, sau về lại Triều Tiên mỗi người giáo hóa một nơi, khiến cho tông Pháp Nhãn mở mang, không bị thất truyền

Tháng chạp năm Ất Hợi nhằm năm Khai Bảo thứ tám sư nhuốm bệnh. Ngày 26 giờ Thìn đốt hương cáo chúng, ngồi kiết già mà qua đời. Qua năm sau, ngày mùng 6 tháng giêng xây tháp ở núi Đại Từ, thọ 72 tuổi, thọ lạp 42.

Tư tưởngSửa đổi

Thiền sư Vĩnh Minh chủ trương dung hợp giữa pháp tu Thiền TôngTịnh Độ tông, pháp tu này còn gọi gọi là Thiền-Tịnh song tu. Sau khi đã đạt được ý chỉ đốn ngộ nơi Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều, sau này sư tiếp tục thực hành thêm pháp môn niệm Phật cho đến khi viên tịch. Ngoài ra còn có truyền thuyết cho rằng đại sư Vĩnh Minh là hóa thân của phật a di đà thông qua tích truyện xưa,cho nên hàng năm các tín đồ Tịnh Độ tông thường tổ chức ngày vía của phật A-Di-Đà qua ngày mất của đại sư Vĩnh Minh.

Chủ trương tập hợp các tông phái Phật giáo về cùng một mối, gọi là Giáo Thiền hợp nhất. Trong quyển Tông Kính Lục, đại sư Vĩnh Minh tập hợp các học giả của các tông phái nổi trội thời bấy giờ như Pháp Tướng tông, Hoa Nghiêm tông, Thiên Thai Tông và nêu ra sự giống, khác trong tông chỉ, giáo nghĩa và từ đó giải quyết các nghi vấn. Cuối cùng thống nhất các tư tưởng qua Tâm Tông, mà trong đó Thiền Tông là khởi đầu, và sau đó nói về tư tưởng của các tông khác.

Pháp ngữSửa đổi

Có vị tăng ra hỏi: Thế nào là diệu chỉ của Vĩnh Minh? Sư đáp: Lại thêm hương đi. Tăng thưa: Tạ thầy chỉ dạy. Sư bảo: Hãy mừng chớ giao thiệp.

Sư làm bài kệ:

Biết diệu chỉ Vĩnh Minh

Trước cửa nước một hồ

Trời soi ánh sáng dậy

Gió sang sóng mòi sinh.

Tăng hỏi: Ðâu chẳng phải lìa thức tính riêng có chân tâm ư? Trường Sa (Cảnh Sầm) có kệ:Học đạo mà không hiểu lí chân, bởi tại lâu rồi nhận thức thần, gốc nguồn sinh tử vô thuỷ kiếp, người ngu lại gọi là chủ nhân.

Sư đáp: Như Lai Thế Tôn trên hội Thủ-lăng-nghiêm vì ngài A-nan-đà giản biệt rất rõ mà ngươi vẫn cố chẳng tin. Ngài A-nan lấy cái suy xét theo đuổi làm tâm, bị Phật quở đó. Cái suy xét theo đuổi ấy là Thức vậy. Nếu lấy cái biết pháp, theo tướng là Phiền não thì gọi thức, chẳng gọi tâm. Ý là nhớ, nhớ tưởng cảnh trước khởi vọng đều là vọng thức, chẳng can gì về việc của tâm. Tâm chẳng phải có không, có không chẳng nhiễm. Tâm chẳng phải cấu tịnh, cấu tịnh chẳng nhơ. Cho đến mê ngộ phàm thánh đi đứng ngồi nằm đều là vọng thức, chẳng phải tâm vậy. Tâm xưa nay chẳng sinh, nay cũng chẳng diệt. Nếu biết tâm mình như thế, đối chư Phật cũng vậy. Cho nên Duy-ma-cật nói:Trực tâm là đạo trường! vì không có hư giả vậy.

Tác phẩmSửa đổi

  • Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集) 3 quyển
  • Huệ Nhật Vĩnh Minh Tự Trí Giác Thiền Sư Tự Hành Lục (慧日永明寺智覺禪師自行錄)
  • Duy Tâm Quyết (唯心訣)
  • Tông Kính Lục (宗鏡錄), 100 quyển

Tham khảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.