Vụ án Tống Văn Sơ

Vụ án Tống Văn Sơ còn được biết đến với tên Sự kiện Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931–1933 (tên tiếng Anh trong hồ sơ lưu trữ: Sung Man Cho Vs. The Superintendent of Prisons). Đây là vụ án liên quan đến Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) khi ông hoạt động và bị bắt giam ở Hồng Kông từ tháng 6 năm 1931 đến tháng 1 năm 1933.

Chân dung Nguyễn Ái Quốc năm 1921

Sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục ở lại Hồng Kông hoạt động với tên Tống Văn Sơ (tiếng Anh phiên âm từ tiếng Quảng Đông: Sung Man Cho, chữ Hán: 宋文初).[1] Tung tích ông bại lộ và bị cảnh sát Hồng Kông bắt giam từ ngày 6 tháng 6 năm 1931 đến ngày 22 tháng 1 năm 1933. Khi biết ông bị bắt, Quốc tế Cộng sản đã cử luật sư Francis Henry Loseby để tìm cách bào chữa và cứu ông tránh bị dẫn độ về Đông Dương thuộc Pháp. Vụ án cho thấy vai trò của Quốc tế Cộng sản, thông qua tổ chức Cứu tế Đỏ Quốc tế, trong việc hỗ trợ về mặt pháp lý và tuyên truyền để cứu Nguyễn Ái Quốc khỏi nhà tù Hồng Kông.

Bối cảnhSửa đổi

Trong giai đoạn từ 1928 đến 1930, Nguyễn Ái Quốc hoạt động cách mạng bí mật tại Thái Lan. Đầu năm 1930, theo yêu cầu của Quốc tế Cộng sản, ông rời Thái Lan đến Hồng Kông. Tại đây, với danh nghĩa Phái viên Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc cùng với 6 người gồm Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh, Châu Văn LiêmNguyễn Thiệu đã tiến hành Hội nghị hợp nhất 3 đảng: An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản ĐảngĐông Dương Cộng sản Liên đoàn (đại diện không kịp có mặt tại hội nghị) thành một đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy nhiên, Quốc tế Cộng sản chủ trương chỉ thành lập ở Đông Dương một đảng duy nhất, thay vì riêng rẽ từng nước. Do vậy, tại Hội nghị lần thứ nhất của Ban chấp hành Trung ương Đảng ở Hồng Kông tháng 10 năm 1930, tên của đảng được đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương, với Trần Phú làm Tổng bí thư đầu tiên.

Trong giai đoạn 1930-1931, những cuộc nổi dậy trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh do Đảng cộng sản lãnh đạo bị chính quyền thực dân Pháp đàn áp dữ dội. Những thành viên lãnh đạo như Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao… bị Pháp truy bắt và tử hình. Nguyễn Ái Quốc bị tuyên án tử hình vắng mặt tại Tòa đại hình Vinh trước đó vào tháng 10 năm 1929 và lần hai vào tháng 2 năm 1930.[2][3]

Tháng 4 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đến Thái Lan, Singapore, và Malaysia hoạt động thời gian ngắn. Trong thời gian ở Singapore, ông được Tổng lãnh sự Trung Quốc ở Singapore cấp hộ chiếu số B.98, mang tên Tống Văn Sơ, quốc tịch Trung Quốc.[4] Tháng 5 năm 1930, ông trở về Hồng Kông.[5]

Diễn biếnSửa đổi

Bị bắt tại Cửu LongSửa đổi

 
Hồng Kông vào thập niên 1930

Khoảng đầu thập niên 1930, mạng lưới tình báo Anh-Pháp tăng cường hoạt động tại Châu Á, đặc biệt khu vực Đông Nam Á, nhằm chống lại sự bành trướng của Quốc tế Cộng sản.[6][7] Một đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản, Serge Lefranc (còn có tên khác: Joseph Ducroux) đã bị Sở Liêm phóng Pháp đọc trộm thư từ liên lạc và thông báo cho cơ quan tình báo Anh tại xứ Mã Lay thuộc Anh. Ngày 1 tháng 6 năm 1931, Lefranc bị bắt cùng 16 thành viên khác khi đang hoạt động tại Singapore.[8]

Từ những sổ tay và thư từ của Lefranc, tình báo Anh lần ra thông tin những thành viên Quốc tế Cộng sản đang hoạt động tại Trung Quốc và Hồng Kông. Hilaire Noulens[a], Thư ký Chi nhánh Bộ Phương Đông (Bộ Liên lạc Quốc tế), cấp trên của Lefranc, bị bắt tại Thượng Hải (Trung Quốc) vào tháng 6 năm 1931.[10] Địa chỉ Nguyễn Ái Quốc đang ở Hồng Kông cũng bị tình báo Anh phát hiện. Vào lúc 2:00 sáng ngày 6 tháng 6 năm 1931, tại nhà số 186 phố Tam Kung, Cửu Long (Kowloon), một tốp cảnh sát ập vào bắt giữ Nguyễn Ái Quốc khi đó đang ở cùng Lý Phương Thuận (tên tiếng Anh: Ly Sam[11] hoặc Ly Ung Thuan[12], vợ của Hồ Tùng Mậu[12]). Thời điểm bị bắt, Nguyễn Ái Quốc mang giấy tờ tùy thân tên Tống Văn Sơ, quốc tịch Trung Quốc.[11] Nguyễn Ái Quốc bị bắt với nghi vấn tuyên truyền phản động chống chính quyền Anh quốc theo Sắc lệnh cấm xuất bản tài liệu phản động năm 1914 [b] của chính quyền thuộc địa Hồng Kông. Nguyễn Ái Quốc bị đưa về Nhà tù Victoria (Hồng Kông).[10]

Toàn Quyền Pháp René Robin tại Hà Nội nhận được tin báo về việc bắt được Nguyễn Ái Quốc và đề nghị chính quyền Anh tại Hồng Kông thực hiện dẫn độ về Việt Nam để xét xử. Đổi lại, Pháp hứa sẽ giao cho phía Anh số tù nhân là đảng viên cộng sản Ấn ĐộMiến Điện (Myanmar) bị bắt trên đất thuộc Pháp. Tuy nhiên, do Nguyễn Ái Quốc là nghi phạm chính trị, mà theo đạo luật Dẫn Độ năm 1870 [c] do Hạ viện Anh ban hành, không cho phép dẫn độ các nghi can phạm các tội chính trị ra khỏi lãnh thổ và thuộc địa Anh. Giữa Anh và Pháp lúc đó cũng không có hiệp ước dẫn độ riêng nào. Do vậy, phía chính quyền thuộc địa Anh ở Hồng Kông không thể làm theo yêu cầu dẫn độ của Pháp.

Lệnh trục xuất đầu tiênSửa đổi

Sau khi bắt giữ Tống Văn Sơ, chính quyền Hồng Kông lùng sục nơi ở của ông nhưng không tìm được tài liệu nào để chứng minh ông phạm tội dưới Sắc lệnh cấm xuất bản tài liệu phản động. Do vậy, sau 6 ngày tạm giam, Chính quyền Hồng Kông ra quyết định trục xuất Nguyễn Ái Quốc viện dẫn Sắc lệnh Trục xuất năm 1917[d]. Theo sắc lệnh này, người bị trục xuất sẽ phải bị áp giải với lính canh trên một chiếc tàu đến một điểm đến được định trước.[13] Do vậy, theo kế hoạch của chính quyền Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc sẽ phải rời Hồng Kông trên một chuyến tàu của Pháp với điểm đến là Việt Nam, nơi sinh của ông. Quyết định trục xuất này của chính quyền Hồng Kông là kết quả thỏa thuận ngầm giữa họ và Tổng lãnh sự Pháp tại Hồng Kông. Thống đốc Hồng Kông khi đó, Sir (Ngài) William Peel muốn thực hiện một cách kín đáo nhất, tránh để lọt tới chính quyền Anh tại London.[14]

 
Thống đốc Hồng Kông giai đoạn 1930-1935, William Peel

Tuy nhiên, ngày 19 tháng 6 năm 1931, tờ báo Nhân Đạo (L'Humanite) thuộc Đảng Cộng sản Pháp và các tờ báo thiên tả khác, dưới sự hậu thuẫn thông tin từ Quốc tế Cộng sản, đồng loạt đăng tin vụ bắt giữ Tống Văn Sơ ở Hồng Kông. Ngày 22 và 23 tháng 6, hai tờ báo lớn ở Hồng Kông là Hương Cảng Điện Báo (Hong Kong Telegraph) và Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (South China Morning Post) đưa tin vụ bắt giữ.[14][15] Ngày 23 tháng 6, báo The Times (Anh) cáo buộc Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Hồng Kông bắt theo yêu cầu của Pháp và phía Pháp đề nghị dẫn độ.[16] Bộ Thuộc Địa Anh[e] – cơ quan nhà nước có trách nhiệm xử lý các vấn đề thuộc địa – bày tỏ quan ngại và chống lại việc dẫn độ. Sắc lệnh Trục xuất năm 1917 quy định việc Thống đốc Hồng Kông phải báo cáo cho Bộ Thuộc Địa Anh về những vấn đề liên quan đến lệnh trục xuất.[16]

Sử gia William Duiker cho biết, theo luật trục xuất thời đó, chính quyền phải thực hiện thẩm vấn trục xuất để xác định nhân thân và nơi sinh nghi phạm trước khi chính thức trục xuất.[13] Cuộc thẩm vấn diễn ra ngày 10 tháng 7 năm 1931. Trong cuộc thẩm vấn bằng tiếng Anh, nghi phạm phủ nhận việc mình tên là Nguyễn Ái Quốc mà mang tên Tống Văn Sơ và là người Trung Quốc chứ không phải Việt Nam. Ông nói mình sinh ra ở một thị trấn nhỏ ở tỉnh Quảng Tây gần biên giới Việt Nam. Ông thừa nhận đã đến Pháp nhưng chưa từng đến Liên Xô cũng như chưa bao giờ liên hệ với nhóm Quốc tế Cộng sản. Ông phủ nhận việc quen biết Serge Lefranc, nhưng khi ban thẩm vấn đưa ra một tấm bưu thiếp tại nơi ở Lefranc thì ông thừa nhận đã ký tên trên tấm bưu thiếp đó. Ông liên tục phản đối việc bị trục xuất đến Đông Dương mà muốn được trục xuất đến Anh quốc.[17]

Để cứu Tống Văn Sơ không bị trục xuất khỏi Hồng Kông, tổ chức Cứu tế Đỏ Quốc tế[f], một cơ quan thuộc Quốc tế Cộng sản, đã thuê luật sư Francis Henry Loseby, một người xu hướng thiên tả, làm luật sư tư vấn (solicitor)[g], để hỗ trợ pháp lý vụ án Tống Văn Sơ.[18] Ngay sau khi tham gia vụ án Tống Văn Sơ và tìm hiểu thông tin, Loseby cảnh báo với chính quyền Hồng Kông rằng nếu Tống Văn Sơ bị trục xuất, Pháp sẽ bắt giữ ngay khi vừa rời khỏi đất Hồng Kông và bị đưa về Đông Dương để xét xử ngay. Ông yêu cầu chính quyền Hồng Kông phải thả Tống Văn Sơ ra và cho phép Tống tự do đến nơi mà anh muốn.

Thống đốc Hồng Kông William Peel có lẽ đã muốn chấp thuận yêu cầu của luật sư Loseby. Trong bức điện tín báo cáo với Bộ Thuộc địa Anh tại London, Thống đốc Peel đề nghị nên thả tự do Tống Văn Sơ với điều kiện Tống phải rời Hồng Kông trong vòng 7 ngày. Theo ông, nếu trục xuất Tống về Đông Dương sẽ giống như một vụ dẫn độ trá hình[h] và đi ngược lại những nguyên tắc công pháp của Anh quốc.[19] Lúc này, áp lực từ báo chí tuyên truyền bởi tổ chức Quốc tế Cộng sản về vụ án Tống Văn Sơ đang lan rộng trên thế giới, Bộ Thuộc địa Anh đã cân nhắc lời đề nghị của Thống đốc Hồng Kông.

Tuy nhiên, phía chính quyền Pháp cũng quyết tâm thực hiện kế hoạch dẫn độ Tống Văn Sơ. Đại sứ Pháp tại London, Jules Cambon, bày tỏ sự quan điểm với chính phủ Anh rằng: "Tống Văn Sơ (Nguyễn Ái Quốc) là một 'mối hiểm họa trên bình diện quốc tế'[i] và đề nghị không được thả tự do". Bộ Ngoại giao Anh quốc[j] muốn làm hài lòng phía chính phủ Pháp vì hai bên sẽ cùng hợp tác trong những hoạt động đàn áp nổi dậy trong khu vực Châu Á, nên đề nghị phải trục xuất Tống về Việt Nam như ý Pháp mong muốn. Do vậy, Thống đốc Hồng Kông đành phải tống đạt lệnh trục xuất thứ hai cho Tống Văn Sơ.[19]

Để ngăn cản lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông, ngày 31 tháng 7 năm 1931, luật sư Loseby nộp đơn xin lệnh đình quyền giam giữ (Habeas Corpus)[20] lên Toà án Tối cao Hồng Kông (hay còn gọi là Tòa Thượng thẩm Hồng Kông)–Tòa án cao nhất trong hệ thống tư pháp Hồng Kông– nhằm đưa vụ bắt giữ Tống Văn Sơ ra xét xử phiên tòa công khai.[21] Đồng thời, yêu cầu triệu tập bên bị gồm Tổng đốc các trại giam tại Hồng Kông[k] lên toà để giải thích lý do pháp lý của việc giam giữ Tống Văn Sơ mà không thông qua xét xử. Loseby thuê hai luật sư tranh tụng (barrister)[l] để tham gia vụ kiện.[22]

Tranh tụng tại Tòa án Tối cao Hồng KôngSửa đổi

Từ ngày 14 tháng 8 đến 11 tháng 9 năm 1931, Toà án Tối cao Hồng Kông tổ chức tổng cộng 9 phiên tranh tụng vụ án giữa Tống Văn Sơ (bên nguyên đơn) và Tổng đốc trại giam Hồng Kông và Thống đốc Hồng Kông (bên bị đơn).[23] Nhóm luật sư do Loseby dẫn đầu cùng với 2 luật sư tranh tụng F. C. Jenkin và A. M. L. Soares, đứng ra bảo vệ bên nguyên.

Sau hai phiên tranh tụng đầu tiên (ngày 14 và 15 tháng 8), Thẩm phán tối cao[m] Sir Joseph Kemp cảnh báo với bên bị đơn (chính quyền Hồng Kông) rằng có thể tòa sẽ bác lệnh trục xuất ban đầu của Thống đốc Hồng Kông. Ngay trong hôm đó (15/8/1931), Thống đốc Hồng Kông tống đạt lệnh trục xuất mới dành cho Tống Văn Sơ ngay tại tòa, viện dẫn một điều khoản khác trong Sắc lệnh Trục xuất năm 1917.[21] Luật sư Jenkin phản đối lệnh trục xuất thứ hai này của Thống đốc Hồng Kông. Jenkin gọi lệnh trục xuất này là một “sự yếm trá”[10][18] và là “một sự lạm dụng quyền hành pháp”[24] của chính quyền Hồng Kông.

Ngày 11 tháng 9 năm 1931, Toà án Tối cao Hồng Kông bác đơn Tống Văn Sơ và xác nhận tính hợp pháp cho lệnh trục xuất thứ hai của chính quyền Hồng Kông. Tòa cho rằng, tuy lệnh trục xuất này có thể liên quan đến việc dẫn độ nếu xét trên phương diện chính trị, nhưng hoàn toàn không vi phạm luật Anh quốc.[21] Tống Văn Sơ một lần nữa đứng trước nguy cơ bị trục xuất đến Đông Dương.

Kháng án lên Cơ Mật Viện Hoàng gia AnhSửa đổi

 
Ủy ban Tư pháp Cơ Mật Viện Anh quốc tại London (Anh)

Phía luật sư của Tống Văn Sơ ngay lập tức kháng án đến Ủy ban Tư pháp thuộc Viện Cơ mật Hoàng gia Anh (Privy Council)[n], nơi có thẩm quyền tối cao đối với các vụ án xảy ra tại các xứ thuộc địa của Anh. Họ cho rằng lệnh trục xuất Tống Văn Sơ không có giá trị dưới luật pháp Hồng Kông.

 
Luật sư Denis Nowell Pritt

Vì lịch làm việc của Viện Cơ mật chỉ có thể xử vụ việc của Tống Văn Sơ sớm nhất ít nhất một năm sau đó[18], nên Tống Văn Sơ vẫn phải bị giam tại Hồng Kông. Tuy nhiên, do ông không phạm tội hình sự nào, nên chính quyền Hồng Kông chuyển ông từ Nhà tù Victoria về bệnh xá nhà tù Bowen Road (sau này là Bệnh viện Quân y Anh quốc). Thời điểm đó, sức khỏe ông suy nhược, thể trạng tiều tụy. Trong lá thư gửi đồng chí của ông là Lâm Đức Thụ, vào tháng 11 năm 1931, Tống Văn Sơ nói sức khỏe ông đang rất yếu và thường nôn ra máu.[25] Hoàng thân Cường Để đã gửi thư cho Tống Văn Sơ khi biết ông bệnh nặng và còn gửi 300 yên để hỗ trợ viện phí.[26][27]

 
Richard Stafford Cripps

Đến đầu năm 1932, đơn kháng cáo của Tống Văn Sơ được đưa ra xét xử tại Ủy ban Luật pháp thuộc Viện Cơ mật Hoàng gia Anh. Lần này, luật sư đại diện Tống Văn Sơ là Denis Nowell Pritt – một luật sư danh tiếng người Anh, thành viên Công Đảng Anh, quan điểm thiên tả cực đoan và có xu hướng ủng hộ Liên Xô.[o] Còn đại diện Cơ Mật Viện là Sir Richard Stafford Cripps – đang giữ cương vị Phó Chưởng lý (Solicitor General) tại Anh, cũng thuộc Công Đảng Anh, quan điểm thiên tả, sau này trở thành Đại sứ Anh tại Liên Xô.[22]

Sau khi tìm hiểu vụ kiện, Cripps cho rằng lệnh trục xuất của chính quyền Hồng Kông là trái pháp luật. Ông cho rằng lệnh trục xuất của chính quyền Hồng Kông sẽ bị bác tại tòa Cơ Mật Viện và Tống Văn Sơ sẽ được thả tự do. Ông lo ngại rằng nếu thả Tống Văn Sơ ra, vừa làm phật lòng chính phủ Pháp, mà còn gây ảnh hưởng đến uy tín của chính quyền Hồng Kông cũng như chính phủ Anh, tạo án lệ không tốt sau này. Theo nhà nghiên cứu Dennis Duncanson, chuyên viên pháp lý Harold Bushe cáo buộc Cripps đồng tình với quan điểm chính trị của bên nguyên (Tống Văn Sơ), do vậy tìm cớ từ chối tranh tụng trước Viện Cơ mật.[31]

Ngày 27 tháng 6 năm 1932, Cripps thay mặt Bộ Thuộc địa và chính quyền Hồng Kông, dàn xếp ngoài tòa (out-of-court) với Luật sư Pritt.[32] Sau đó, phía nguyên đơn của Luật sư Pritt chủ động rút đơn kháng án với điều kiện kết quả phải có lợi cho Tống Văn Sơ. Phiên tranh tụng giữa hai bên, do vậy, chưa bao giờ diễn ra trước tòa Cơ Mật Viện.

Ngày 21 tháng 7 năm 1932, vì bên nguyên đã rút kháng án, Cơ Mật Viện đưa ra phán quyết với 4 điều khoản. Thứ nhất, Tống Văn Sơ phải bị trục xuất khỏi Hồng Kông và không được trở lại trong vòng 10 năm. Thứ hai, nơi đến sau khi trục xuất không phải lãnh thổ Pháp, thuộc địa bảo hộ của Pháp, và không rời khỏi Hồng Kông bằng tàu Pháp. Thứ ba, Thống đốc Hồng Kông sẽ nỗ lực tối đa đảm bảo nguyên đơn (Tống Văn Sơ) được trục xuất đến nơi mà nguyên đơn mong muốn. Cuối cùng, chính quyền Hồng Kông sẽ góp 250 bảng Anh vào chi phí tố tụng cho bên nguyên đơn.[33]

Thoát khỏi nhà tù Hồng KôngSửa đổi

Sau phiên kháng cáo tại Cơ Mật Viện, Nguyễn Ái Quốc có thể được thả tự do. Nhưng ông lo sợ sẽ bị chính quyền Pháp bắt khi đang trên đường đến London. Do tàu Liên Xô không cập cảng Hồng Kông được, Luật sư Loseby yêu cầu chính quyền Anh quốc hỗ trợ một địa điểm tị nạn tạm thời thuộc lãnh thổ Anh cho Nguyễn Ái Quốc. Vì lo sợ sẽ bị chính quyền Pháp bắt khi đi ngang kênh đào Suez và thành phố Port Said (Ai Cập), Nguyễn Ái Quốc yêu cầu được tị nạn tại Úc hoặc Nam Phi trước khi đến Châu Âu. Hai nước này đều từ chối lời yêu cầu.[32] Đứng trước tình thế này, ông đành phải từ bỏ ý định đến Anh, và chọn Moskva làm điểm đến sau khi được thả.

Ngày 28 tháng 12 năm 1932, Nguyễn Ái Quốc được rời khỏi bệnh viện nhà tù Bowden Road, chính thức được tự do sau 18 tháng bị giam giữ. Chính quyền Hồng Kông ra lệnh ông phải rời khỏi Hồng Kông trong vòng 21 ngày. Gia đình Luật sư Loseby đón ông và giúp ông thu xếp để rời Hồng Kông. Nguyễn Ái Quốc cải trang thành một nhà Nho Trung Hoa với bộ râu giả, tạm trú bí mật tại Hiệp hội Thanh niên Cơ Đốc (YMCA) tại bán đảo Cửu Long chờ ngày rời Hồng Kông.[34]

Nguyễn Ái Quốc quyết định sẽ đến Moskva. Tuy nhiên, nếu muốn đến Moskva từ Hồng Kông, phải chuyển tàu tại Thượng Hải hoặc Singapore, rồi cập cảng Vladivostok, thành phố biển phía Đông nước Nga. Nguyễn Ái Quốc chọn đi Singapore.

Ngày 6 tháng 1 năm 1933, với sự hỗ trợ của Luật sư Loseby, Nguyễn Ái Quốc đến Singapore. Cảnh sát bán đảo Malay (Singapore ngày nay), khi đó đã được báo tin, đã từ chối cho Nguyễn Ái Quốc cập cảng, lấy lý do ông chưa nộp đơn xin nhập cảnh. Đến ngày 15 tháng 1, Nguyễn Ái Quốc buộc phải đi tàu trở lại Hồng Kông trên chiếc tàu Ho Sang.[35] Khi tàu cập cảng Hồng Kông ngày 19 tháng 1 năm 1933, cảnh sát Hồng Kông bắt Nguyễn Ái Quốc lần hai vì vi phạm lệnh của tòa (cấm trở lại Hồng Kông trong vòng 10 năm).[36]

 
Bến tàu Hồng Kông thập niên 1930

Khi nghe tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt lần hai, Loseby khẩn cầu Thống đốc Hồng Kông William Peel can thiệp và đứng ra bảo đảm cho Nguyễn Ái Quốc. Thống đốc Peel ra lệnh thả Nguyễn Ái Quốc và yêu cầu ông phải rời khỏi Hồng Kông trong vòng 3 ngày. Để tránh tai mắt của mật thám Pháp, lần này Loseby cho ông ở tại một địa điểm bí mật tại Tân Giới (New Territories), đồng thời tìm một hướng khác để thoát khỏi Hồng Kông. Một thư ký của luật sư Loseby, Lung Ting-chang, được sắp xếp đi cùng Nguyễn Ái Quốc.[7] Họ biết một chiếc tàu sẽ đến Hạ Môn (tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc)[p] vài ngày tới. Lần này, họ bí mật sắp xếp cho Nguyễn Ái Quốc chạy trốn trong đêm.

Ngày 22 tháng 1 năm 1933, cải trang thành một thương nhân giàu có[37] Nguyễn Ái Quốc rời Hồng Kông bí mật trên một chiếc thuyền nhỏ, được thuê bởi chính quyền Hồng Kông, vượt ra eo biển Lý Ngư Môn (Lei Yue Mun) để đến chiếc tàu lớn An Huy đang chờ sẵn ngoài khơi.[35][38] Sau đó, Nguyễn Ái Quốc đã chính thức rời Hồng Kông trên tàu An Huy để đến Hạ Môn, từ đó đi Thượng Hải, Vladivostok và Moskva.

Tranh cãiSửa đổi

Phát biểu của luật sư LosebySửa đổi

Theo nguồn từ Đảng Cộng sản Việt Nam, ấn tượng của luật sư Loseby khi gặp Nguyễn Ái Quốc là "một người thanh niên Việt Nam gầy, xanh, song vẻ cương nghị, sự thông minh trong từng câu nói bằng tiếng Anh và đôi mắt sáng".[39] Luật sư Loseby được cho rằng đã nói với Nguyễn Ái Quốc: "Tôi nhận giúp anh vì danh dự chứ không phải vì tiền".[10][39][40]

Tuy nhiên, không có học giả phương Tây nào xác nhận việc luật sư Loseby nói như vậy với Nguyễn Ái Quốc. Theo các sử gia phương Tây, tổ chức Cứu tế Đỏ Quốc tế (MOPR) đã sắp xếp và trả thù lao cho luật sư Loseby.[13][16][18] Tổ chức Cứu tế Đỏ Quốc tế, với nguồn vốn dồi dào từ Quốc tế Cộng sản, là tổ chức chuyên hỗ trợ giúp đỡ các thành viên cộng sản. Họ "duy trì một lực lượng luật sư trên nhiều quốc gia để tham gia tranh tụng bảo vệ những đồng chí cộng sản của họ khi bị bắt.[16][41][42]

Người liên hệ luật sư LosebySửa đổi

Theo nguồn của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Tùng Mậu là người đã đến gặp luật sư Loseby nhờ giúp đỡ.[39][40] Nhưng theo nhà nghiên cứu Dennis Duncanson, tổ chức Cứu tế Đỏ Quốc tế đã chủ động liên lạc với luật sư Loseby.[16] Cũng theo Duncanson, có giả thiết cho rằng, một thư ký gốc Việt, tên Ngô Kim Chung (Goh Kim-chiong) làm việc trong văn phòng luật sư của Loseby khi đó đã nói về vụ Tống Văn Sơ này cho ông, nên Loseby quyết định tham gia. Tuy nhiên, theo ông Lung Ting-chang, cũng là thư ký trong văn phòng luật sư Loseby, thì nói rằng ông Ngô là người Phúc Kiến và không có gì liên quan đến Việt Nam.[17] Theo sử gia William Duiker, trong hồi ký, Hồ Chí Minh kể rằng ông và Loseby có một người bạn trung gian (không tiết lộ tên) ở Hồng Kông.[13]

Cái chết của Nguyễn Ái Quốc tại Hồng KôngSửa đổi

Trong giai đoạn 1930–1932, Nguyễn Ái Quốc bị lao phổi rất nặng, cơ thể suy nhược.[27][43] Vào mùa hè 1932, tin tức báo chí về "một người Việt Nam nhỏ bé, có thân thể bị suy nhược vì lao lực và tinh thần của một lãnh tụ" bắt đầu xuất hiện. Hoàng thân Cường Để đã gửi thư cho Tống Văn Sơ khi biết ông bệnh nặng và còn gửi 300 yên để hỗ trợ viện phí. Theo Hồ Tuấn Hùng, tác giả cuốn “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” xuất bản năm 2008 tại Đài Loan, Nguyễn Ái Quốc đã thực sự chết vì bệnh lao phổi trong nhà tù Hồng Kông từ tháng 8 năm 1932.[44][45]

Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu khác, thông tin về cái chết của Nguyễn Ái Quốc chỉ là tin giả. Theo các nhà nghiên cứu như Duiker[34] và Quinn-Judge[27], nguồn tin này xuất phát từ Quốc tế Cộng sản. Từ tháng 8 năm 1932, Quốc tế Cộng sản đã chủ động loan truyền tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong bệnh viện nhà tù Hồng Kông. Báo The Daily Worker (Anh), xuất bản số ngày 11 tháng 8 năm 1932, đã thông báo tin Nguyễn Ái Quốc chết dưới "sự tàn bạo của chính quyền thực dân" trong nhà tù Hồng Kông.[35] Báo L’Humanité (Nhân Đạo, Pháp) số 12292, ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 với tựa: “Nguyễn Ái Quốc, sáng lập viên kiên cường của Đảng cộng sản Đông Dương đã chết trong tù”.[46] Sau khi được thả ra ngày 28 tháng 12 năm 1932, để tránh sự theo dõi của mật thám Pháp, Loseby cũng loan tin rằng Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong bệnh viện. Một số sinh viên người Việt ở Moskva thời điểm đó còn tổ chức lễ tưởng niệm khi nghe tin ông Nguyễn qua đời.[47] Tuy nhiên, tất cả những tin này chỉ nhằm tránh sự chú ý của quốc tế, đặc biệt chính quyền Pháp, đối với Nguyễn Ái Quốc.

Tình trạng đối xử Tống Văn Sơ khi ở nhà tù Hồng KôngSửa đổi

Theo sử gia William Duiker, trong hồi ký của mình[q], Hồ Chí Minh than phiền rằng ở Hồng Kông, ông bị giam giữ trong điều kiện rất tệ.[43] Trong tác phẩm "Vừa đi đường vừa kể chuyện" tác giả T.Lan có thuật lại hoàn cảnh khi bị giam tại nhà tù Victoria (Hồng Kông)[48]:

 
Nhà tù Victoria (Hồng Kông) ngày nay

Đôi lúc ông rơi vào tuyệt vọng rằng ông sẽ không bao giờ được thả. Ông cho biết, thú tiêu khiển của ông khi trong tù là bắt rệp hoặc đọc kinh thánh Cơ Đốc.[48] Nhưng ngoài tác phẩm của T.Lan, chưa có tài liệu nào khác nói về tình trạng đối xử tệ đối với Nguyễn Ái Quốc ở nhà tù Victoria.

Tuy nhiên, theo Duiker, khi ở bệnh xá nhà tù Bowen Road (sau này là Bệnh viện Quân y Anh quốc), ông được ở trong điều kiện thoải mái và thường có khách viếng thăm gồm chính khách và rất nhiều người Châu Âu. Luật sư Frank Loseby thậm chí còn đặt thêm bữa ăn từ một nhà hàng địa phương gần đó mang vô cho ông Hồ.[43]

Chuyển thể điện ảnhSửa đổi

Vụ án Tống Văn Sơ đã được thể hiện trong phim truyện “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, do Hãng phim Hội Nhà văn Việt Nam và Hãng phim Châu Giang (Trung Quốc) hợp tác sản xuất năm 2003. Diễn viên NSƯT Trần Lực vào vai Nguyễn Ái Quốc.

Ghi chúSửa đổi

Chú giảiSửa đổi

  1. ^ Tên thật: Yakov Rudnik hay Jakob Rudnik. Còn có bí danh hoạt động khác: Paul Ruegg[9]
  2. ^ Seditious Publications Ordinance 1914
  3. ^ Tạm dịch từ tiếng Anh: Extradition Act 1870
  4. ^ Tạm dịch từ tiếng Anh: Deportation Ordinance 1917
  5. ^ Tạm dịch từ tiếng Anh: Colonial Office - CO
  6. ^ Tạm dịch từ tiếng Anh: International Red Aid
  7. ^ Trong hệ thống thông luật kiểu Anh, solicitor là luật sư tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho thân chủ nhưng không thể tranh tụng trước tòa, khác với barrister là luật sư tranh tụng.
  8. ^ Nguyên văn tiếng Anh: a disguised form of extradition
  9. ^ Nguyên văn: an international danger.
  10. ^ Tạm dịch từ: Foreign Office - FO
  11. ^ Tạm dịch từ tiếng Anh: The Superintendent of Prisons
  12. ^ Trong hệ thống thông luật kiểu Anh, barrister là luật sư chuyên tranh tụng trước tòa đại diện cho thân chủ, hay còn gọi là "trạng sư", khác với solicitor là luật sư tư vấn.
  13. ^ Tạm dịch từ tiếng Anh: Chief Justice
  14. ^ Tạm dịch từ tiếng Anh: Judicial Committee of the Privy Council
  15. ^ Theo nhà văn George Orwell, Denis Nowell Pritt là người ủng hộ Liên Xô hiệu quả nhất trong số những chính trị gia tại Anh[28] và là "đảng viên Cộng sản chìm".[29] Năm 1940, D.N. Pritt bị khai trừ khỏi Công Đảng vì tuyên bố ủng hộ cuộc xâm lược Phần Lan của Hồng quân Liên Xô).[30]
  16. ^ Tên phiên âm tiếng Anh hiện nay của Hạ MônXiemen. Trong các văn bản về vụ án Tống Văn Sơ cũng như tài liệu của các sử gia phương Tây, Hạ Môn có tên tiếng Anh là Amoy.
  17. ^ Duiker muốn nhắc đến tác phẩm "Vừa đi đường vừa kể chuyện".

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “共产主义者阮爱国在香港期间的革命本领”. cn-cdn.qdnd.vn (bằng tiếng Trung). Báo Quân đội nhân dân. 18 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2020. 
  2. ^ Duiker 2000, tr. 207
  3. ^ Lacouture 1968, tr. 62
  4. ^ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2016, tr. 16
  5. ^ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2016, tr. 17
  6. ^ Ban 2003, tr. 119
  7. ^ a ă Duncanson 1974, tr. 85
  8. ^ Duncanson 1974, tr. 85-88
  9. ^ Duncanson 1974, tr. 88
  10. ^ a ă â b Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2016, tr. 32
  11. ^ a ă Duncanson 1974, tr. 89
  12. ^ a ă Quinn-Judge 2002, tr. 191
  13. ^ a ă â b Duiker 2000, tr. 202
  14. ^ a ă “Deporting Ho Chi Minh”. History Today. 16 tháng 1 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2020. 
  15. ^ Guo Jian’an (2019). “The First Prison in Hong Kong (3)”. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2020. 
  16. ^ a ă â b c Duncanson 1974, tr. 92
  17. ^ a ă Duncanson 1974, tr. 91
  18. ^ a ă â b Quinn-Judge 2002, tr. 193
  19. ^ a ă Duiker 2000, tr. 203
  20. ^ Duncanson 1974, tr. 92–94
  21. ^ a ă â Duiker 2000, tr. 204
  22. ^ a ă “Bộ trưởng Anh từng thả Hồ Chí Minh”. BBC Vietnamese. 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2015. 
  23. ^ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2016, tr. 35-40
  24. ^ Nguyên văn: "abuse of executive power". Duncanson 1974, tr. 96
  25. ^ Duiker 2000, tr. 206
  26. ^ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2016, tr. 42-43
  27. ^ a ă â Quinn-Judge 2002, tr. 194
  28. ^ Ward 2015
  29. ^ Wheatcroft, Geoffrey (1998). “Big Brother with a high moral sense”. The Indepedent. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2020. 
  30. ^ Morgan 2009
  31. ^ Duncanson 1974, tr. 97
  32. ^ a ă Duiker 2000, tr. 208
  33. ^ Borton 2006
  34. ^ a ă Duiker 2000, tr. 209
  35. ^ a ă â Duncanson 1974, tr. 99
  36. ^ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2016, tr. 47
  37. ^ Neumann-Hoditz 1972, tr. 120
  38. ^ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2016, tr. 48
  39. ^ a ă â “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông và tình bạn thuỷ chung Hồ Chí Minh - Lôdơbi”. Tạp chí Ban Tuyên giáo Trung ương. 25 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2020. 
  40. ^ a ă T.Lan 2008, tr. 50
  41. ^ Ryle 1970
  42. ^ Lacouture 1968, tr. 63-64
  43. ^ a ă â Duiker 2000, tr. 205
  44. ^ “Việt Nam - Nhận xét về cuốn Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo”. BBC News Tiếng Việt. 8 tháng 12 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2020. 
  45. ^ “Thật giả khi nghiên cứu Hồ Chí Minh”. BBC News Tiếng Việt. 24 tháng 9 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2020. 
  46. ^ Bài báo L’Humanité ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 “L'Humanité : journal socialiste quotidien”. Gallica (bằng tiếng Pháp). 9 tháng 8 năm 1932. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2020. 
  47. ^ Sainteny 1972, tr. 27
  48. ^ a ă T.Lan 2008, tr. 58

Tham khảoSửa đổi

SáchSửa đổi

Tạp chíSửa đổi

KhácSửa đổi