Vi Lâm Đạo Bái

Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Không tông phái

Thiền sư ni

Cư sĩ


Thiền sư Vi Lâm Đạo Bái (zh: 爲霖道霈, ja: Irin Dōhai, 1615-1702), thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Động, từng sống vào cuối thời nhà Minh, đầu thời nhà Thanh. Sư là môn đệ nối pháp duy nhất của Thiền sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền và có đệ tử nối pháp là Thiền sư Hằng Đào Đại Tâm. Sư từng trụ trì và khai hóa tại các đạo tràng Thiền tông ở núi Cổ Sơn, Phúc Kiến, biên soạn nhiều tác phẩm Thiền học.

Sư sinh năm 1615, họ Đinh, hiệu là Lữ Bạc, Phi Gia Tẩu, quê ở Kiến An, Phúc Kiến. Năm 14 tuổi, sư xuất gia tại Bạch Vân Tự (白雲寺) và học về các kinh luận Phật pháp. Đến năm 18 tuổi, sư thọ giới cụ túc và tham học với đại sư Quảng Ấn tại Bảo Thiện Tự (寳善寺) ở Phần Thường.

Trên bước đường tham vấn Thiền, sư đến yết kiến và tham học với Thiền sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền tại núi Cổ Sơn và làm thị giả tại đây. Sau đó, sư đến yết kiến Thiền sư Mật Vân Viên Ngộ-tông Lâm Tế và tham Thiền dưới sự chỉ dạy của vị này và được đại ngộ. Tuy nhiên, thiền sư Mật Vân không chấp nhận sự ngộ của sư và không ấn khả. Sư quay trở lại và trình sở ngộ với Thiền sư Nguyên Hiền nhưng ngài cũng không công nhận. Vì vậy, sư giã từ thầy và lập am chuyên tu tại núi Bá Trượng (百丈山). Sau đó, sư đưa mẹ mình tới am và trọn nghĩa báo hiếu cho bà, dạy bà niệm Phật và cùng tu Tịnh Độ với bà trong 5 năm.

Đến năm thứ 7, niên hiệu Thuận Trị (1650), sư quay trở lại tham học với Thiền sư Nguyên Hiền và triệt ngộ sau khi nghe ngài Nguyên Hiền nêu câu thoại “ Ném hạt cải trúng đầu mũi kim” và cuối cùng được Thiền sư Nguyên Hiền ấn khả cho. Năm sau, sư lập am Quảng Phước tại Kiến Ninh và bảo nhậm công phu tại đây. Năm 1957, sư trở lại núi Cổ Sơn và làm chức thủ toạ- người đứng đầu trong chúng tăng. Năm ấy, Thiền sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền thị tịch, trước khi ngài tịch, ngài tập hợp tứ chúng lại và tuyên bố sư là người nối pháp của mình, tiếp tục thay ngài hoằng pháp và truyền bá Thiền tông tại núi Cổ Sơn. Thiền sư Vĩnh Giác có trao cho sư bài kệ:

Cầu Thọ Xương ta từng qua

Chớ theo dòng tục nhạt nhoà bể dâu

Nghìn mạch thánh sợi tóc thâu

Lòng này tri kỷ ngõ hầu mấy ai

Tám mươi lão thật buồn thay

Việc đời lớn nhỏ ông hay lo dùm

Ba mươi năm sống thong dong

Người xưa lời thật chẵng từng dối ai

Chèo thuyền ngược gió chớ nài

Mới mong tới bến từ nay an lành

Sau đó, sư tiếp nối và thăng tòa thuyết pháp, độ chúng tại đây hơn 14 năm. Sau đó, sư xuống núi và lang thang phiêu bạt khắp nơi, tích cực phát triển tinh thần nhập thế và phổ biến Phật pháp đến quần chúng, dân thường. Vì núi Cổ Sơn không có người lãnh đạo nên sư buộc phải quay trở lại và tiếp tục hoằng hóa, sư xây dựng bốn ngôi chùa Bảo Phúc, Bạch Vân, Quảng Phúc, Khai Nguyên tại đây. Ngoài ra, sư cũng là tác giả của nhiều tác phẩm luận:

  1. Vi Lâm Đạo Bái Thiền Sư Bình Phất Ngữ Lục, 爲霖道霈禪師秉拂語錄, 2 quyển.
  2. Xan Hương Lục, 餐香錄, 2 quyển.
  3. Hoàn Sơn Lục, 還山錄, 4 quyển.
  4. Pháp Hội Lục, 法會錄, 1 quyển.
  5. Lữ Bạc Am Cảo, 旅泊菴稿, 4 quyển.
  6. Thiền Hải Thập Trân, 禪海十珍, 1 quyển...

Vào ngày 7 tháng 9 năm Nhâm Ngọ (1702), niên hiệu Khang Hi thứ 41, sư tập hợp tứ chúng lại dặn dò rồi an nhiên kiết già thị tịch, hưởng thọ 88 tuổi. Đồ chúng xây tháp thờ tại núi Cổ Sơn.

Tham khảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Phật Tổ Đạo Ảnh, quyển 2, thiền Sư Hư Vân biên soạn, đệ tử đại sư Tuyên Hóa hiệu đính.