Mở trình đơn chính
Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Dị Thiền Sư

Tào Động tông (zh. cáo-dòng-zōng 曹洞宗, ja. sōtō-shū) là một trong năm phái Thiền quan trọng tại Trung Quốc trong hệ thống Ngũ Gia Thất Tông được hai vị Thiền sư sáng lập là Động Sơn Lương Giới (洞山良价) và đệ tử là Tào Sơn Bản Tịch (曹山本寂). Người ta đã lấy hai chữ đầu trong pháp hiệu của hai vị tổ này để đặt tên cho tông phái là Tào Động. Tuy nhiên. chữ Tào có liên hệ đến ngọn núi Tào Khê. nơi hoằng pháp của Lục Tổ Huệ Năng hơn. Và hơn nữa. tuy Tào Sơn là đệ tử được phó pháp trực tiếp trở thành tổ thứ 2 của Tông phái này. nhưng pháp mạch chỉ truyền 5 đời rồi dứt. Hệ thống truyền thừa được truyền qua Vân cư Đạo Ưng Thiền Sư, một đệ tử đắc pháp nổi tiếng khác của Động Sơn Lương Giới và được truyền thừa cho đến ngày nay khắp Trung Quốc. Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và được các vị Thiền Sư Nhật Bản truyền sang các nước Châu Âu. Mỹ- Latinh

Nét đặc sắc trong phong cách giáo hóa của Tông Tào Động đó là sự viên dung , cẩn mật trong công phu tu tập hàng ngày, nhẹ nhàng,vi tế như người nông dân quanh năm chăm lo ruộng lúa, khác với phong cách đánh hét táo bạo của Tông Lâm Tế được ví như tướng quân chinh chiến nơi sa trường. Các thiền sư tông này thường hay chỉ dạy và mật phó pháp cho đệ tử ở trong thất kín, còn gọi là Độc tham.

Vào thế kỷ 11, Thiền phái Tào Động gần như bị thất truyền, khi vị tổ đời thứ 6 là Thái Dương Cảnh Huyền không có đệ tử thừa kế. Sư đã đem giày cỏ. y bát cùng ấn tín của Tông phái và nhờ một đệ tử từng tham học là Phù Sơn Pháp Viễn( nối pháp Lâm Tế Tông) đại phó sau khi tìm được người thừa kế . Thiền Sư Đầu Tử Nghĩa Thanh sau đó tham học với Pháp Viễn và được pháp viễn truyền lại Tâm Pháp của Tông Tào Động. Sư được coi là người thừa kế chính thức của Thiền Sư Thái Dương Cảnh Huyền và trở thành vị tổ thứ 7.

Trong thời Bắc Tông(960-1127) , Tông Tào Động không mấy phát triển trong xã hội bấy giờ, trái ngược với sự phát triển mạnh mẽ của Tông Lâm Tế và Vân Môn. Thiền Sư Phù Dung Đạo Khải là người đã vực dậy Tông Tào Động và xiển dương tông phái một cách rực rỡ.

Trước sự suy yếu của Thiền Tông. các thiền phái bắt đầu xác lập đường lối tu hành đặc trưng riêng của mình. Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo đề cao pháp khán thoại đầu, tham công án và tạo thành một hệ thống tu tập Thiền thoại đầu trong Tông Lâm Tế. Các đệ tử của Thiền Sư Phù Dung Đạo Khải như Hoằng Trí Chính Giác , Chân Yết Thanh Liễu đã đề ra lối Thiền Mặc Chiếu, chủ trương tọa thiền để khai ngộ. Tuy bị Thiền sư Đại Huệ cực lực phản đối, nhưng nhờ trí huệ và tài hoa văn chương của mình, Thiền Sư Hoằng Trí đã khiến cho giới thiền tông phải công nhận Thiền Mặc Chiếu thành một lối đi riêng của Tông Tào Động.

Đến thời nhà Minh, khi Thiền Tông yếu dần và nhường chổ cho Tịnh Độ Tông. Các Thiền Sư trong Tào Động tại Trung Quốc như Trạm Nhiên Viên Trừng, Vĩnh Giác Nguyên Hiền, Bác Sơn Nguyên Lai,... đã nỗ lực trong việc hoằng pháp và giữ vững Tông phái.

Trong thế kỉ 13, Thiền sư Nhật là Đạo Nguyên Hi Huyền (道元希玄) (ja. dōgen kigen) đã sang Trung Quốc tu thiền, và đắc pháp với Thầy là Thiền Sư Thiên Đồng Như Tịnh. Sư đã truyền bá tông phái mạnh mẽ khắp Nhật Bản với nhiều thiền viện, chùa chiền cùng đông đảo chư tăng và tín đồ. Đến nay vẫn còn phát triển và truyền khắp nơi trên thế giới với các thiền đường, thiền viện và những phong trào tu thiền do các thiền sư nhật bản hướng dẫn.

Yếu ChỉSửa đổi

Tông chỉ của Tông Tào Động đã được vị Thủy Tổ là Thiền Sư Thạch Đầu Hy Thiên khái quát trong tác phẩm Tham Đồng Khế và qua tác phẩm Bảo Cảnh Tam Muội Ca mà Thiền Sư Vân Nham truyền cho Thiền Sư Động Sơn. Đến thời khai tổ Động Sơn đã hình thành thuyết Ngũ Vị Quân Thần, Ngũ vị Hiển Quyết dùng để tiếp dẫn hậu học, nêu lên cơ phong của Tông Phái.

  • Thuyết Ngũ Vị Động Sơn
  • Thuyết Ngũ Vị Hiển Quyết gồm 5 vị là Hướng, Phụng , Công, Cộng Công, Công Công.

Tăng hỏi: Thế nào là Hướng?

Sư đáp: Khi ăn cơm thì thế nào.

Nói kệ : Đắc lực nên quên no

Gạo hết lại chẳng đói

Tăng hỏi: Thế nào là Phụng?

Sư đáp: Khi trái phạm thì thế nào?

Nói kệ : Chỉ biết quý danh lợi

Cô phụ người xưa nay

Tăng hỏi: Thế nào là Công?

Sư đáp: Khi buông cày cuốc thì thế nào?

Nói kệ: Thõng Tay an nhiên ngồi

Mây trắng chốn thâm u

Tăng hỏi: Thế nào là Cộng Công?

Sư đáp: Chẳng dính sắc

Nói kệ: Phấn trắng, khó mất vết

Trương An chẳng ở lâu.

Tăng hỏi: Thế nào là Công Công?

Sư đáp: Bất cộng.

Nói kệ: Nơi dung thông không ngại.

Lại cần gì nơi khác.

Tông Tào Động tại Việt NamSửa đổi

Vào thế kỷ thứ 17, Thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt(通覺水月) sang Trung Quốc tham thiền với Tổ Sư đời thứ 30 Tông Tào Động là Thiền Sư Nhất Cú Tri Giáo(一 句 知 教) ở Nhân Vương Hộ Quốc Thiền Tự, núi Phụng Hoàng, Hồ Châu và được tổ ấn chứng truyền đăng Tào Động Chính Tông. Sau 6 năm tu hành ở đất Bắc, sư về nước và truyền bá Thiền phái Tào Động ở Miền Bắc vanh danh một thời. Sau sư truyền pháp cho đệ tử xuất sắc nhất là thiền sư Tông Diễn Chân Dung, sư không những là bậc thượng căn pháp khí, nối truyền đèn thiền của thầy là Thiền sư Thủy Nguyệt mà còn xiển dương chính pháp rộng khắp, độ hóa sự sai lầm vua Lê Hi Tông, giúp Phật Pháp Việt Nam lúc bấy giờ thoát khỏi nạn diệt vong khi nhà vua ra lệnh đuổi hết tất cả các tăng, ni về chốn rừng sâu để bài Phật tôn Nho . Ngài được vua tôn làm Đại Tuệ Quốc Sư, Nhục thân bồ tát.

Các Thiền Sư Tào Động Việt Nam chủ trương tham thiền, tọa thiền , giáo hóa người học, Thiền phái phát triển mạnh trong thế kỷ thứ 17, 18. Các thiền sư Tào Động Việt Nam đều là những vị quốc sư, tăng cương, tăng thống lãnh đạo Phật giáo. Đến giữa thế kỷ 19, thiền phái bị pha tạp với Tịnh Độ Tông. Các sư dần chuyển sang tu tịnh độ, về danh nghĩa là Tào Động.

Tư tưởng Thiền Tông được vị tổ đời thứ 37 là Thiền Sư Thanh Đàm Minh Chính khái quát qua tác phẩm Bát Nhã Trực Chỉ, Pháp Hoa Đề Cương. Đây là những tác phẩm có giá trị thiền học minh chứng cho những thời kỳ phát triển của Thiền Tông Việt Nam.

Kệ truyền pháp Tào Động Tông Việt Nam, pháp phái do Thiền Tổ Thụy Bạch Minh Tuyết, đời pháp thứ 28 , đệ tử của Thiền Sư Trạm Nhiên Viên Trừng ở Trung Quốc sáng lập:

Tịnh Trí Thông Tông

Từ Tính Hải Khoan

Giác Đạo Sinh Quang

Chính Tâm Mật Hạnh

Nhân Đức Di Lương

Tuệ Đăng Phổ Chiếu

Hoằng Pháp Vĩnh Trường

Thời cận đại, Thiền Gia pháp Chủ Thích Mật Ứng và Đệ Nhất Pháp Chủ Thích Đức Nhuận là các thế hệ của Tông Tào Động Việt Nam đã làm rạng danh Phật Giáo qua những công hạnh tu hành và tư tưởng Hộ Quốc An Dân, Cứu nước giúp đời.

Các chùa như Hòe Nhai, Nhẫm Dương, Quảng Bá, Trấn Quốc, Ngọc Quán... đều thuộc tông Tào Động .

Truyền ThừaSửa đổi

Truyền Thừa Tại Trung QuốcSửa đổi

1/ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới 洞山良价 (807-869)

2/ Thiền Sư Tào Sơn Bản Tịch 曹山本寂 (840-901) -> 3/ Tào Sơn Huệ Hà

2/Thiền Sư Vân Cư Đạo Ưng 雲居道膺 (?-902)

3/ Thiền Sư Đồng An Đạo Phi 同安道丕

4/ Thiền Sư Đồng An Quán Chí 同安觀志

5/ Thiền Sư Lương Sơn Duyên Quán 梁山緣觀

6/ Thiền sư Thái Dương Cảnh Huyền 大陽警玄 (943-1027)

7/ Thiền Sư Đầu Tử Nghĩa Thanh 投子義青 (1032-1083)

8/ Thiền Sư Phù Dung Đạo Khải 芙蓉道楷 (1043-1118)

9/ Thiền Sư Đan Hà Tử Thuần -> 10 Hoằng Trí Chính Giác -> 11 Tự Đắc Huệ Huy

-> 10 Chân Yết Thanh Liễu -> 11 Thiên Đồng Tông Giác -> 12 Tuyết Đậu Trí Giám -> 13 Trường Ông Như

Tịnh -> Đạo Nguyên Hy Huyền -> Tào Động Tông Nhật Bản

9/ Thiền Sư Lộc Môn Tự Giác 鹿門自覺 (? - 1117) [1]

10) Thiền Sư Phổ Chiếu Nhất Biện 普照一辯 (1081-1149)

11) Thiền Sư Đại Minh Tăng Bảo 靈巖僧寶 (1114-1171)

12) Thiền Sư Vương Sơn Tăng Thế 玉山師體 (?-?)

13) Thiền Sư Tuyết Nham Như Mãn 雪巖慧滿 (?- 1206)

14) Thiền Sư Vạn Tùng Hành Tú 萬松行秀 (1166-1246)

15) Thiền Sư Tuyết Đình Phúc Dụ 雪庭福裕 (1203-1275)

16) Thiền Sư Linh Ản Văn Thái 靈隱文泰 (?-1289)

17) Thiền Sư Hoàn Nguyên Phúc Ngộ 還源福遇 (1245-1313)

18) Thiền Sư Thuần Chuyết Văn Tài 淳拙文才 (1273-1352)

19) Thiền Sư Tùng Đình Tử Nghiêm 松庭子嚴(1323-1392)

20) Thiền Sư Ngưng Nhiên Liễu Cải 凝然了改 (1335-1421)

21) Thiền Sư Câu Không Khế Bân 俱空契斌 (1383-1452)

22) Thiền Sư Vô Phương Khả Tùng 無方可從 (1420-1483)

23) Thiền Sư Nguyệt Chu Văn Tải 月舟文載 (1452-1524)

24) Thiền Sư Đại Chương Tông Thư 宗鏡宗書 (1500-1567)

25) Thiền Sư Uẩn Không Thường Trung (1514-1588) -> 26 Vô Minh Tuệ Kinh(1548-1618) -> Thọ Xương Pháp Phái

25) Thiền Sư Huyễn Hữu Thường Thuận 幻休常潤 (?-1585)

26) Thiền Sư Từ Chu Phương Niệm 慈舟方念 (?-1594)

27) Thiền Sư Trạm Nhiên Viên Trừng 雲門圓澄 (1561-1626)

28) Thiền Sư Thụy Bạch Minh Tuyết 瑞白明雪 (1584-1641)

29) Thiền Sư Tử Mai Tịnh Châu (?-?)

30) Thiền Sư Nhất Cú Tri Giáo 一 句 知 教 (?-?)

Truyền Thừa Tại Việt NamSửa đổi

Miền Bắc

31. Thiền Sư Thông Giác Thủy Nguyệt , Đạo Nam Quốc Sư [2] (1637 - 1704)

32. Thiền Sư Chân Dung Tông Diễn, Đại Tuệ Quốc Sư, Nhục Thân Bồ Tát Đại Thừa (1640 - 1711)

33. Thiền Sư Từ Sơn Hành Nhất (1681-1737)

34. Thiền Sư Tính Chúc Đạo Chu (1698- 1775)

35. Thiền Sư Hải Điện Mật Đa

36. Thiền Sư Khoan Dục Phổ Chiếu

37. Thiền Sư Thanh Đàm Minh Chính

38. Thiền Sư Giác Lâm Minh Liễu

39. Thiền Sư Đạo Minh Quang Lịch

40. Thiền Sư Quang Lư Thích Đường

41. Thiền Sư Vô Tướng Chính Bình

42. Thiền Sư Tâm Nghĩa Nhân Từ

43. Thiền Sư Huyền Cơ Mật Ứng, Thiền Gia pháp chủ (1889-1957)

44. Thiền Sư Đức Nhuận Thanh Thiệu, Đệ Nhất Pháp Chủ GHPGVN (1897-1993)

Miền Trung

29. Thiền Sư Thạch Liêm Đại Sán.

30. Quốc Sư Hưng Liên

Miền Nam

47. Thiền Sư Duy Lực Giác Khai( Thích Duy Lực)


Tham KhảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-guang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Tào Động Nam Truyền Tổ Sư Ngữ Lục- Thiền Sư Đạo Nguyên Thanh Lãng biên soạn, sa môn Thích Tiến Đạt dịch.
  • Thiền Uyển Kế Đăng Lục- Thiền Sư Như Sơn soạn, Thích Thiện Phước dịch
  • Lịch Sử Thiền Tông Trung Quốc
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán
  1. ^ Trong nhiều sách thiền phả hệ ở Trung Quốc như Phật Tổ Đạo Ảnh hay Kế Đăng Lục của Việt Nam đều ghi Lộc Môn Tự Giác là đệ tử đời thứ 5 của Đơn Hà Tử Thuần, nối pháp Thiên Đồng Như Tịnh. Nhưng Lộc Môn Tự Giác sống trước thời Thiên Đồng Như Tịnh hơn 100 năm thì sao có thể là đệ tử Như Tịnh được? Rất nhiều chùa Tào Động ở Ngoài Bắc Việt Nam vẫn còn nhầm lẫn về thế hệ tông phái, viết dư 5 đời từ Đan Hà Tử Thuần đến Thiên Đồng Như Tịnh mà không khảo cứu biên niên kỹ càng.
  2. ^ Những vị không có tư cách thiền sư sẽ không được ghi vào đây. 1) Phải là người tu theo tông chỉ, phương pháp đốn ngộ của Thiền Tông. 2) Đã minh tâm kiến tính , triệt ngộ 3) Được thầy đã kiến tính ấn chứng và truyền pháp(có thể bỏ qua)