Tào Động tông (zh. cáo-dòng-zōng 曹洞宗, ja. sōtō-shū) là một trong năm phái Thiền Phật giáo quan trọng trong Ngũ gia thất tông- tức là Thiền chính tông của lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Đây cũng là một trong hai phái Thiền tông, cùng với Lâm Tế tông, còn tồn tại và được truyền bá đến ngày nay.

Động Sơn Phổ Lợi Thiền tự, nơi phát tích tông Tào Động

Lịch sửSửa đổi

Tên gọiSửa đổi

Hai chữ Tào Động được ghép từ chữ đầu của hai vị thiền sư sáng lập là Động Sơn Lương GiớiTào Sơn Bản Tịch. Ban đầu được gọi là Động Tào tông. Nhưng sau này do âm vận nghe trắc trở hay một lý do khác, đã được gọi ngược lại là Tào Động. Tuy nhiên, chữ Tào có lẽ liên quan đến ngọn núi Tào Khê hơn, nơi Lục Tổ Huệ Năng từng hoằng pháp. Bởi vì chi Tào Sơn Bản Tịch pháp mạch truyền thừa chỉ 5 đời rồi dứt. Pháp mạch Tào Động tông còn truyền đến ngày nay là nhờ các thế hệ hệ truyền thừa của Thiền sư Vân Cư Đạo Ưng, một đệ tử đắc pháp xuất sắc khác của ngài Động Sơn Lương Giới.

Lịch sửSửa đổi

Tông Tào Động được sáng lập khoảng vào cuối thời Đường. Nơi khai sinh ra Tông Tào Động là Động Sơn Phổ Lợi Thiền tự, nơi Thiền sư Động Sơn Lương Giới trụ trì và Viện Hà Ngọc do Thiền sư Tào Sơn Bản Tịch sáng lập.

 
Khai Tổ Thiền sư Động Sơn Lương Giới

Vào thế kỷ 11, Tào Động tông gần như bị thất truyền, khi vị tổ đời thứ 6 là Thái Dương Cảnh Huyền không có đệ tử thừa kế. Sư đã đem cà sa cùng ấn tín của tông phái và nhờ một đệ tử từng tham học là Phù Sơn Pháp Viễn (nối pháp Lâm Tế tông) đại phó sau khi tìm được người thừa kế. Đầu Tử Nghĩa Thanh sau đó tham học với Pháp Viễn và được truyền lại tâm pháp của Tào Động tông. Sư được coi là người thừa kế chính thức của Thái Dương Cảnh Huyền và trở thành vị tổ thứ 7.

Thời Bắc Tống, dưới sự phát triển cực thịnh của Lâm Tế tông và Vân Môn tông, Thiền sư Phù Dung Đạo Khải, vị tổ thứ 8, đã hình thành và xây dựng thiền viện, các lối sinh hoạt tu hành tự viện riêng cho Tào Động, nhờ thế mà tông phái này chính thức trở nên độc lập và có chổ đứng, ảnh hưởng ngày càng sâu rộng trong xã hội Trung Quốc..

Trong thời kỳ nhà Tống, khi các Thiền phái bắt đầu có khuynh hướng đề xướng tông phong riêng, điển hình là Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo trong tông Lâm Tế đề cao Thiền Thoại Đầu và đưa nó trở thành một hệ thống tu tập chính trong truyền thống Lâm Tế. Các đệ tử của Thiền sư Đan Hà Tử Thuần như Hoằng Trí Chính Giác, Chân Yết Thanh Liễu đã đề ra lối Thiền Mặc Chiếu, chủ trương tọa thiền để khai ngộ. Tuy bị Thiền sư Đại Huệ phản đối, nhưng nhờ trí huệ và tài hoa văn chương của mình, Thiền sư Hoằng Trí đã khiến cho giới Thiền tông phải công nhận Thiền Mặc Chiếu thành một pháp tu chính thống của tông Tào Động và phát huy mạnh mẽ, truyền bá sang Nhật Bản qua Thiền sư Đạo Nguyên Hi Huyền và còn tồn tại đến ngày nay.

Đến thời nhà Minh, khi xu hướng hòa nhập giữa Thiền tôngTịnh độ, phương pháp tu tập "Thiền Tịnh song tu" ngày càng rõ rệt, Thiền tông dần yếu và bị pha tạp với tư tưởng của Tịnh độ qua chủ trương của nhiều vị thiền sư bấy giờ như: Vân Thê Chu Hoằng, Hám Sơn Đức Thanh... Các thiền sư trong Tào Động tại Trung Quốc như Trạm Nhiên Viên Trừng, Vô Minh Tuệ Kinh và các đệ tử như Bác Sơn Nguyên Lai, Thụy Bạch Minh Tuyết, Hối Đài Nguyên Cảnh... đã nỗ lực trong việc hoằng pháp và làm sống dậy tinh thần của Tông phái. Như Thiền sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền đã biên soạn bộ Động Thượng Cổ Triệt để nêu lên những lẽ huyền vi, tinh yếu của Tông môn và làm rõ các tông chỉ của tông Tào Động như Ngũ Vị Động Sơn, Bảo Cảnh Tam Muội Ca, Tham Đồng Khế... nhỏ|Thiền Tào Động ở Phương Tây

Ảnh hưởngSửa đổi

Tại Nhật BảnSửa đổi

Tông Tào Động được truyền vào Nhật Bản bởi Thiền sư Đạo Nguyên Hi Huyền trong khoảng thế kỷ XIII. Vào năm 1223, sư sang Trung Quốc tham Thiền tại Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự ở Ninh Ba, Triết Giang và khai ngộ, nối pháp của Thiền sư Thiên Đồng Như Tịnh. Năm 1227, sư trở lại Nhật Bản, sáng lập ngôi đại Vĩnh Bình Tự và bắt đầu xiển dương tông phong của mình.

Sau đó, vào thế kỷ XIV, tông Tào Động cũng được tiếp tục truyền sang Nhật qua một số vị Thiền sư thuộc phái Hoằng Trí. Thiền sư Đông Minh Huệ Nhật sang Nhật vào năm 1309 và kế đến có Thiền sư Đông Lăng Vĩnh Dư vào năm 1351. Thiền sư Đông Minh từng trụ trì tại ngôi đại danh sát Viên Giác Tự (ja: Enkaku-ji) ở Liêm Thương (zh: Kamakura) còn thiền sư Đông Lăng cũng từng trú trì tại một số đại danh sát như Thiên Long Tự (zh: Tenryū-ji), Nam Thiền Tự (zh: Nanzen-ji), Kiến Trường Tự (zh: Kenchō-ji), Viên Giác Tự (zh: Enkaku-ji). Cả hai vị này đều nương nhờ vào các thiền viện của Lâm Tế Tông để cử xướng Thiền phong Phái Hoằng Trí thuộc Tào Động Tông, tuy nhiên pháp hệ của họ sau đó bị thất truyền.

Đến thời nhà Minh, năm 1677, Thiền sư Tâm Việt Hưng Thù thuộc phái Thọ Xương( do Vô Minh Huệ Kinh sáng lập), sang Nhật truyền bá Tông Tào Động, nhưng cũng không được bao lâu và bị thất truyền.

Dòng truyền chính đại biểu cho Tông Tào Động là Thiền sư Đạo Nguyên Hi Huyền- nhân vật có ảnh hưởng nhất và được coi là tổ khai sinh ra tông tào động tại Nhật Bản và cũng là người truyền bá dòng Thiền này thành công nhất. Với phong cách sống dản dị, xa hoa quyền thế, lối thiền này đã tạo sức hút với các tầng lớp bình dân và đã tạo được tiếng vang lớn trong xã hội Nhật Bản. Tuy nhiên, Thiền sư Đạo Nguyên Hi Huyền rất kỵ trong việc gọi tông chỉ của mình là Thiền tông hay Tào Động tông nên ban đầu dòng truyền này được gọi là Chính Pháp Tông hay Đạo Nguyên Tông.

Sau khi Đạo Nguyên thị tich, môn đệ là Cô Vân Hoài Trang kế thừa trụ trì chùa Vĩnh Bình và trở thành tổ thứ 2 của tông này. Sau đó, Cô Vân Hoài Trang truyền pháp cho đệ tử xuất sắc nhất là Triệt Thông Nghĩa Giới làm tổ thứ 3. Khi tiếp nhận trụ trì chùa Vĩnh Bình, Thiền sư Triệt Thông muốn thay đổi quy củ, kiến trúc của chùa theo hướng trái ngược với chủ trương của Thiền sư Đạo Nguyên ban đầu(lối tu tập thiền thuần túy) như dung hợp các yếu tố Mật Giáo, thực hiện các hình thức nghi lễ,... cũng như vấn đề chính thống về việc truyền pháp, tất cả những điều này đã gây ra cuộc tranh cãi kịch liệt giữa Triệt Thông Nghĩa Giới và các đồng môn khác dẫn đến việc Triệt Thông bị ép phải rời khỏi chùa tổ đình Vĩnh Bình tự, sau đó môn đệ khác của Cô Vân Hoài Trang là Thiền sư Nghĩa Diễn được đại đa số chúng ủng hộ và đưa lên làm trụ trì tại Chùa Vĩnh Bình, còn Triệt Thông đến trụ trì tại chùa Đại thừa(Daitokuji) và xây dựng hiện thực các ý tưởng về kiến trúc, quy chế mới của mình tại đây. Sau đó, Thiền sư Triệt Thông Nghĩa Giới truyền pháp cho Thiền sư Oánh Sơn Thiện Cẩn- tổ thứ 4, người đã triệt để hóa hiện thực tư tưởng của thầy Nghĩa Giới.

Dưới sự hoằng pháp của Oánh Sơn, Tông Tào Động phát triển mạnh nhanh chóng và thu hút được nhiều tín đồ tu tập. Sư ra sức chỉnh đốn thanh quy và đào tạo đồ chúng, xây dựng ngôi đại thiền tự chùa Tổng Trì(zh; Soji-ji) và đưa Tông Tào Động tiến xa trong xã hội Nhật Bản. Dưới Oánh Sơn Thiện Cẩn có nhiều vị đệ tử đắc pháp xuất sắc như Minh Phong Tố Triết, Nga Sơn Thiều Thạc... Dưới Nga Sơn có 21 vị anh tài làm trụ cột cho tông Tào Động, sư cũng là người đã đưa giáo lý quan trọng của tông Tào Động là Động Sơn Ngũ vị vào việc giảng dạy.

Từ đó, Tông Tào Động dòng Đạo Nguyên Hi Huyền có hai chi phái chính là dòng của Triệt Thông Nghĩa GiớiOánh Sơn Thiện Cẩn lấy ngôi chùa Tổng Trì làm tổ đình chính, và dòng của Thiền sư Nghĩa Vân, đệ tử đắc pháp của Thiền sư Tịch Viên ( Tịch Viên là thiền tăng Trung Quốc, người từng cùng tham học với Đạo Nguyên dưới Thiền sư Thiên Đồng Như Tịnh, và sau sang Nhật giúp sức Đạo Nguyên hoằng pháp), Nghĩa Vân tiếp tục lối tu Thiền thuần túy của Đạo Nguyên và lấy chùa Vĩnh Bình( Eihei-ji) làm tổ đình, nối tiếp sự truyền thừa, do sư Nghĩa Diễn không có người thừa kế nên sư Nghĩa Vân đến giúp sức hoằng hóa. Và sau này, cả hai ngôi tổ đình đều được Thiên Hoàng công nhận là Lưỡng Đại Bản Sơn của tông Tào Động Nhật. Năm 1895, hai ngôi tổ đình này đã bàn luận về vấn đề các bất đồng từ xưa và đi đến thỏa ước hòa hợp với nhau.

Trong các thiền viện tào động Nhật Bản đến nay vẫn duy trì lối tu tập tọa Thiền chỉ quán đả tọa- tức chỉ cần ngồi thiền là đủ, không cần đối tượng để quán chiếu,ngồi Thiền tức là làm Phật, trong tâm an định trí huệ tự tính thanh tịnh được sáng chiếu. Tư tưởng này do Thiền sư Đạo Nguyên kế thừa từ Thiền sư Thiên Đồng Như Tịnh và truyền bá, được mô tả đường lối thực hành rất chi tiết trong bộ Chính Pháp Nhãn Tạng(ja: Shobo Genzo). Công án Thiền cũng được coi trong và sử dụng để ứng dụng tu tập trong tông Tào Động Nhật. Đặc trung của Thiền Tông Nhật Bản chung và Tào Động Tông riêng là lối tu mật tham- tức là thực hành Thiền miên mật không gián đoạn. Cho tới thời cận đại, hình thức tu tập độc tham, tức là một đệ tử vào phòng gặp riêng thầy để nhận giáo huấn hoặc hỏi thắc mắc, trình kiến giải tu tập vẫn được duy trì, trong khi tại tông Lâm Tế Nhật hình thức này đã bị phai mờ từ sau thời Minh Trị.

Theo thống kê Bộ văn hóa Nhật vào năm 1998, hiện tại Tông Tào Động tại Nhật có hơn 14,600 ngôi chùa với hơn 1,5 triệu tín đồ và có 3 hệ phái chính, là tông phái Phật giáo lớn nhất tại Nhật. Thiền pháp Tào Động được truyền sang phương tây với tên gọi phổ biến là Soto Zen, đầu tiên bởi Thiền sư Taisen Deshimaru( đệ tử đắc pháp của thiền sư nổi tiếng Kodo Sawaki), sư xây dựng cơ sở hoằng pháp Tào Động ở nước Pháp và lan rộng ra nhiều nước phương Tây, đến nay vẫn còn ảnh hưởng, hay cũng được đặt nền móng tại Mỹ quốc với các vị như Shunryū Suzuki, Taizan Maezumi. Các phong trào tu Thiền, hành Thiền, các Thiền đường Tào Động ở nước ngoài do các sư gốc Nhật hay người nước ngoài truyền bá ngày càng phát triển và thu hút sự quan tâm thực hành của nhiều người Phương tây.

Lưỡng đại bản sơn Tào Động tông Nhật Bản
 
Chùa Vĩnh Bình, Eihei-ij
 
Chùa Tổng Trì, Soij-ji

Tại Việt NamSửa đổi

Lịch sửSửa đổi

Vào thế kỷ thứ 17, Thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt(通覺水月) sang Trung Quốc tham thiền với Tổ Sư đời thứ 30 Tông Tào Động là Thiền Sư Nhất Cú Tri Giáo(一 句 知 教) ở Nhân Vương Hộ Quốc Thiền Tự, núi Phụng Hoàng, Hồ Châu . Sau 6 năm tu hành tham Thiền ở Trung Quốc, sư đã Kiến tính ( liễu ngộ) và được ấn khả, truyền pháp mạch của Tào Động Chính Tông và đem về truyền bá tại Việt Nam. Sư từng giáo hóa khắp Miền Bắc khiến giáo pháp được phát triển rực rỡ một thời. Sư được các môn đệ tôn xưng là sơ tổ tông tào động tại việt nam.

Sau khi sư viên tich, mạch pháp được truyền cho đệ tử là Thiền Sư Chân Dung Tông Diễn. Thiền sư Tông Diễn đã kế thừa và phát huy Thiền Tào Động một cách xuất sắc. Sư nổi danh trong lịch sử với kỳ tích giúp phật giáo bấy giờ thoát nạn bị diệt vong khi vua Lê Hi Tông ra lệnh phá bỏ chùa chiền, đuổi hết tăng ni về núi ở. Sư đã khuyên vua, giúp vua sám hối sai lầm và bãi bỏ lệnh cấm của mình. Thiền sư Tông Diễn được vua kính trọng phong hiệu là Đại Tuệ Quốc Sư, Nhục Thân Bồ Tát Đại Thừa và mời giảng pháp trong cung.

Các đời truyền Thừa của Tông Tào Động đều sản sinh ra nhiều vị thiền sư xuất sắc trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nhiều vị được phong làm Quốc Sư, Tăng Cương, Tăng Thống lãnh đạo Phật giáo.

Thời cận đại, Hòa Thượng Thiền gia Pháp Chủ Thích Mật Ứng và Hòa Thượng Đệ Nhất Pháp Chủ GHPGVN Thích Đức Nhuận đã làm rạng danh Phật giáo trong lòng dân tộc Việt Nam qua tư tưởng cứu nước, cứu đời, lợi ích an dân, phật giáo nhập thế.

Tu HànhSửa đổi

Kế thừa truyền thống tu hành của chư tổ, các thiền sư thiền phái này chú trọng hướng dẫn người học tham thiền, tọa thiền để minh tâm kiến tính, liễu thoát sinh tử.

Thiền Sư Thanh Đàm Minh Chính đã khái quát tư tưởng Thiền qua các tác phẩm Bát Nhã Trực chỉ và Đề Cương Kinh Pháp Hoa.

Thiền phái này tại Việt Nam về sau có xu hướng hòa nhập với Tư Tưởng Tịnh Độ, chú trọng cả tu thiền lẫn tu tịnh. Trong bài pháp của Thiền Sư Đạo Nguyên Thanh Lãng, sư khuyên người tu vừa chuyên tâm tu thiền định vừa niệm Phật để cầu vãn sinh.

Do thời chiến tranh loạn lạc, binh đao, đất nước bị xâm lược hơn 150 năm. Thiền phái này đã thất truyền về phương pháp tu ngộ của Thiền Tông.Tất cả những vị tăng, ni ngày nay nhận mình theo sơn môn Tông Tào Động đều chỉ là trên danh nghĩa, còn thực chất tu theo Pháp môn Tịnh Độ.

Các chùaSửa đổi

  • Chùa Hòe Nhai, Hồng Phúc Thiền tự ở Ba đình, Hà Nội: Nơi phát triển Tông Tào Động tại Việt Nam
  • Chùa Nhẫm Dương, Kinh Môn, Hải Dương: nơi phát tích của Thiền phái Tào Động. Thiền Sư Thông giác Thủy Nguyệt từng trụ trì nơi đây

Pháp KệSửa đổi

Pháp phái do Thiền Sư Tử Mai Tịnh Chu ở Núi An Kiết, Trung Quốc, pháp tử của Thiền sư Thụy Bạch Minh Tuyết sáng lập. Dùng để đặt pháp hiệu cho các thế hệ đệ tử:

Tịnh Trí Thông Tông

Từ Tính Hải Khoan

Giác Đạo Sinh Quang

Chính Tâm Mật Hạnh

Nhân Đức Vi Lương

Tuệ Đăng Phổ Chiếu

Hoằng Pháp Vĩnh Truyền

Đặc điểmSửa đổi

 
Thiền sư Kodo Sawaki thực hành pháp môn Chỉ Quán Đả Tọa.

Nét đặc sắc trong phong cách giáo hóa của tông Tào Động đó là sự viên dung, cẩn mật trong công phu tu tập hàng ngày, nhẹ nhàng, sâu lắng như người nông dân quanh năm chăm lo ruộng lúa, khác với phong cách đánh hét táo bạo của tông Lâm Tế được ví như tướng quân chinh chiến nơi sa trường, nên mới có câu Lâm Tế tướng quân, Tào Động nông dân. Trong Nhân Thiên Nhãn Mục, tông này được khái quát là Tào Động tế mật, ý nói Thiền phong vừa bí ẩn lại vi tế. Trong Pháp Nhãn Thiền qư Thập quy Tụng nói: “Tào Động là xướng họa làm dụng”, tức là cơ phong một hỏi một đáp, miên mật qua lại không gián đoạn.

Trong quá trình hình thành và truyền bá tông phái, đặc biệt là tại Nhật bản, đã sinh ra thêm những đặc điểm, tính chất sau:

  • Tìm ra một cách sâu sắc rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính bình đẳng thanh tịnh như chư Phật và đều có thể đạt được bản tâm thanh tịnh ấy.
  • Nhờ công phu tọa thiền quán chiếu ánh sáng trí tuệ của Phật tính sẽ được phát khởi.
  • Hành giả dung nhập thiền lý và công phu là một.
  • Hành trì nghiêm mật là tôn chỉ được cụ thể hóa trong sinh hoạt hằng ngày
  • Luôn giữ vững một lập trường phật pháp đúng đắn, không sa vào con đường tiêu cực, ti tiện.
  • Xả bỏ chấp ngã, ham cầu. Lấy ý chí cầu đạo giải thoát làm trọng.
  • Xa lánh không thân cận nơi quyền quý, giàu sang. Sống một cuộc đời chân thật chất phác.
  • Lấy tín tâm làm trọng, thực hành với thái độ vô sở cầu, vô sở đắc.
  • Tu với chứng ngộ là một, không hai không khác (Tu chứng nhất như). Sau khi đã ngộ vẫn tiếp tục tu hành (Hậu ngộ tu hành).
  • Bất cứ lúc nào cũng truyền pháp chính yếu của chư Phật. Giúp người thoát khỏi đau khổ, trầm luân.
  • Tọa thiền với tâm tinh tấn, nỗ lực công phu. Ngồi thiền mà không cần chủ đề, phương thức (chỉ quán đã tọa).
  • Hàng ngày thực hành công phu là chân thật báo ơn tổ Phật

Thiền lýSửa đổi

Tông chỉ của tông Tào Động đã được vị thủy tổ là Thiền sư Thạch Đầu Hi Thiên khái quát trong tác phẩm Tham Đồng Khế và qua tác phẩm Bảo Cảnh Tam Muội Ca mà Thiền sư Vân Nham truyền cho Thiền sư Động Sơn. Đến thời khai tổ Động Sơn đã hình thành thuyết Ngũ Vị Chính Thiên, Ngũ vị Hiển Quyết dùng để tiếp dẫn hậu học, nêu lên cơ phong của tông phái. Sau này, đệ tử là Thiền sư Tào Sơn Bản Tịch đã bổ sung thêm Ngũ vị Quân Thần để làm rõ thuyết Ngũ Vị của thầy.

Ngũ vị Chính Thiên:Sửa đổi

Thuyết Ngũ vị Động Sơn được sáng tác dựa trên tư tưởng Chính thiên hồi hổ trong tác phẩm Tham Đồng Khế của Thiền Sư Thạch Đầu để dựng lên.

Gồm có 5 vị là Chính Trung Thiên, Thiên Trung Chính, Chính trung lai. Kiêm trung đáo và Kiêm Trung Chí.

Trong đó, Chính thể hiện cho thể tính chân như, tuyệt đối, tịch lặng, còn Thiên chỉ cho sự sai biệt, sinh diệt trong các pháp.

Dùng lý chính thiên hồi hỗ để phát sinh sự sai biệt trong Ngũ vị, từ đó hiện bày rõ cái đức dụng của Pháp qua các quá trình khai ngộ.

Xem thêm: Động Sơn Ngũ Vị

Ngũ vị Hiển QuyếtSửa đổi

Dùng để bổ sung cho Ngũ Vị, gồm 5 giai đoạn tu hành tới chứng ngộ. Gồm Hướng, Phụng, Công, Cộng Công, Công công. Ngũ vị này nhằm nêu rõ thứ bậc công phu tu hành của người học, tức trước hết là qui hướng, kế đến là thừa phụng và cuối cùng là được công công bất cộng

- Hướng: Ngài Động sơn nói: '' Khi ăn cơm thì nghĩ gì?'' Sư lại nói: ''Đắc lực nên quên no, thôi ăn lại chẳng đói''. Bình luận ( bài luận của Thiền sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền trong cuốn Động Thượng Cổ Triệt ) :'' Hướng nghĩa là hướng tới. Nhưng trước hết phải biết có, nếu trước chẳng biết có, thì không biết hướng tới đâu, vả lại, trong động tĩnh hàng ngày không được quên giây phút nào. Nếu chân chính và chuyên nhất hướng tới, thì chẳng còn thì giờ rảnh rỗi để nghĩ tới đói''. Bài kệ tụng của ngài Động Sơn:

Minh quân theo phép nhà Nghiêu,

Hạ mình dùng lễ đãi chiêu lương hiền

Có khi vượt chốn não phiền

Văn minh khắp chốn tụng truyền Thánh ân.

-Phụng: Ngài Động sơn nói:'' Khi trái nghịch thì sao?'' Sư lại nói: ''Chỉ biết có giầu sang, cô phụ người bản lai (Phật tính)''. Bình luận: Phụng nghĩa là vâng thờ. Sau hướng tiếp đến dùng phụng, cũng như vâng thờ bậc trưởng thượng, thì trước hết phải qui kính rồi sau mới thừa phụng, nếu trái nghịch (tham đắm ngoại trần mà trái với việc hướng thượng) thì chẳng thể thừa phụng. Bài kệ tụng của Thiền sư Động Sơn:

Vì ai tẩy sạch phấn hồng

Người xưa trở lại Quốc đồng kêu vang

Trên cành hoa đã rụng tàn

Mà chim vẫn hót, non ngàn đều nghe

-Công: Ngài Động sơn nói: '' Khi buông cái bừa thì nghĩ gì?'' . Sư lại nói: '' Buông tay ngồi thanh thản, nhàn tản mây trắng bay'' . Bình luận: Cầm bừa là hướng tới thừa phụng; buông bừa là chẳng hướng tới thừa phụng. Nhờ có cái công hướng tới thừa phụng từ trước, nên đến đây bỗng quên đi, cho nên bảo là buông bỏ bừa xuống. Câu sau biểu thị khế nhập chính vị. Bài kệ tụng của Thiền sư Động Sơn:

Cưỡi ngược voi ngọc đuổi lân (kì lân)

Cây khô hoa nở vào xuân kiếp tiền.

Hôm nay cao ẩn non miền

Trăng trong gió mát thuận duyên đúng thời

-Cộng công: Ngài Động sơn nói:'' Chẳng được sắc'' . Lại nói:'' Phấn trắng khó giấu đường, Trường an chẳng ở lâu'' . Bình luận: Cộng công nghĩa là các pháp cùng khởi, cho nên gọi là cộng. Ngài Động sơn nói không được sắc, nghĩa là vị trước còn một sắc thì các pháp đều ẩn, vị này thì một sắc đã mất hết nên các pháp đều hiện, một sắc cũng không thể được lại nữa. Bài kệ tụng của Thiền sư Động Sơn:

Chúng sanh, chư Phật chẳng đồng

Non kia tự vút, đây dòng tự sâu

Việc lớn ngộ từ muôn đầu

Hoa khai chim hót sắc màu rực soi.

- Công Công: Ngài Động sơn nói:'' Chẳng cộng'' . Lại nói: '' Lẫn lộn chẳng kiêng kị, ngoài đây lại cầu gì?'' Bình luận: Công công nghĩa là công này sâu xa hơn công của vị trước, cho nên gọi là Công công. Do vị trước có cộng nên vị này chẳng cộng, pháp chẳng thể được mà phi pháp cũng chẳng thể được, lí sự hòa nhập tuyệt không dấu vết, đó là chỗ cùng tột của Phật đạo. Tuy nhiên, vẫn còn gọi Công là bởi vì việc hướng thượng cũng thuộc sức người tạo ra. Bài kệ tụng của Thiền sư Động Sơn :

Sừng vừa nhú đã chẳng kham

Đem tâm cầu Phật, đã mang lỗi lầm

Kiếp không vời vợi há tầm

Năm ba tri thức phương Nam, phỏng cầu.

Ngũ Vị Quân ThầnSửa đổi

Thiền Sư Tào Sơn Bản Tịch dùng nghĩa Quân(vua), Thần(bầy tôi) để thuyết minh Ngũ Vị của Thiền sư Động Sơn.

1. Quân(vua): Diệu đức tràn hoàn vũ, sáng tỏ khắp thái hư. Chỉ cho cõi hư không xưa nay vốn chẳng có một vật gì, dụ cho Chính vị, tương đương với Chính trung lai trong Chính thiên ngũ vị và với Công trong Công huân ngũ vị.

2. Thần(bầy tôi): Linh cơ hoằng đạo Thánh, chân trí lợi quần sinh. Vâng mệnh vua, mở mang Thánh đạo, hiển hiện tất cả muôn tượng sum la: Chỉ cho cõi sắc thiên hình vạn tượng, dụ cho Thiên vị, tương đương với Thiên trung chí trong Chính thiên ngũ vị và với Cộng công trong Công huân ngũ vị. Đây là nhị nguyên âm và dương, bản giác và bất giác đối lập nhau.

3. Thần hướng quân (bầy tôi hướng lên vua): Không rơi vào ngã khác, chú tâm trông Thánh dung. Bầy tôi chuyên vâng thờ vua, trung thành không phân giai cấp sai biệt; chỉ cho việc bỏ sự vào lí, tương đương với Chính trong thiên hướng thượng hoàn diệt và với Phụng trong Công huân ngũ vị. Chính trong thiên ở đây tức là Chính vị đem tất cả sự tướng sai biệt qui về thế giới bình đẳng vô sai biệt.

4. Quân thị thần(vua đối với bầy tôi): Vẻ mặt tuy không động, rạng rỡ vốn chẳng thiên. Vua đối với bầy tôi công bằng không thiên vị, thương quí tất cả, tức là từ trong lí đi vào sự, tương đương với Thiên trong chính hướng hạ duyên khởi và với Hướng trong Công huân ngũ vị.

5. Quân thần đạo hợp(đạo vua tôi hợp nhất): Dung nhập chẳng trong ngoài, hòa đồng không trên dưới. Đạo vua tôi hòa hợp thì thiên hạ thái bình, nghĩa là ngầm ứng hợp với mọi duyên mà không rơi vào các ngả, tương đương với Kiêm trung đáo trong Chính thiên ngũ vị và với Công công trong Công huân ngũ vị. Tức là động tĩnh hợp nhất, sự lí bất nhị, là vị của đạo Đại giác cùng tột, chẳng chính chẳng thiên vậy.

Ba loại sấm lậuSửa đổi

Là pháp dùng để phân biệt chân ngụy vào thời mạt pháp khi chúng sinh càn tuệ, cơ tính không hoạt bát, do Thiền sư Động Sơn Lương Giới trao truyền cho Ngài Tào Sơn Bản Tịch:

+ Kiến sấm lậu, tức căn cơ không lìa địa vị, đọa lạc tại biển độc. Giải thích: Nghĩa là còn ngã kiến, pháp kiến, chấp chặt vào pháp thì không thể thấu suốt được thực tướng của các pháp.

+Tình sấm lậu, tức bị kẹt tại thủ xả, chỗ thấy thiên khô. Giải thích: vẫn còn tình thức phân biệt, lấy cái này bỏ cái kia, còn trong vòng đối đãi.

+ Ngữ sấm lậu, tức chuyên nghiên cứu ngữ cú của Tổ sư mà đánh mất Tông chỉ, trước sau mờ mịt.

Giải thích: Sấm lậu nghĩa đen là chảy ra, rỉ ra, trong kinh điển chỉ cho phiền não. Ngữ sấm lậu nghĩa là cái thấy biết còn bị vướng mắc, chấp trước trong văn tự ngôn ngữ mà không biết rằng ngôn ngữ, văn tự chỉ là công cụ tạm thời được dùng để diễn đạt chân lý.

Thiền Sư Động Sơn lại nói: Trí ô trọc của người học lưu chuyển, tất cả chẳng ngoài ba loại này, ông cần phải biết rõ!

Truyền ThừaSửa đổi

Vấn đề tranh cãi về pháp hệ truyền thừaSửa đổi

Thời Minh, Thanh, có nhiều Thiền sư thuộc hai Tông Lâm TếTào Động quan tâm đến tính chính thống trong pháp hê truyền thừa và bắt đầu khảo cứu, xác định rõ sự truyên thừa các thế hệ của tông phái mình.

Vấn đề về thứ tự pháp hệ của Thiền sư Lộc Môn Tự Giác (?-1117) là vấn đề gây tranh cãi nhất trong pháp hệ của Tông Tào Động. Trong một số bản ghi pháp hệ truyền thừa, Thiền sư Trạm Nhiên Viên Trừng, thiền sư Tào Động thời Minh, thuộc đời pháp thứ 27, nhưng trong bản pháp hệ khác là đời thứ 32. Đối chiếu hai bản pháp hệ truyền thừa này, có thể thấy 5 đời pháp khác nhau, một bản ghi Lộc Môn là đệ tử nối pháp trực tiếp của Phù Dung Đạo Khải, một bản cho rằng Lộc Môn Tự Giác là đệ tử của Thiên Đồng Như Tịnh và đưa ra sự truyền thừa từ Đan Hà Tử Thuần (1064-1119) ( Môn đệ đắc pháp của Phù Dung Đạo Khải) -> Chân Yết Thanh Liễu(1090-1151) -> Đại Hưu Tông Giác(1091-1162) -> Túc Am Trí Giám(1105-1192) -> Thiên Đồng Như Tịnh (1162-1228) -> Lộc Môn Tự Giác (?-1117). Điều này đã tạo ra một cuộc tranh luận lớn về vấn đề pháp hệ Tào Động về 5 thế hệ này vào thế kỷ 17.

Ý kiến Lộc Môn Tự Giác là đệ tử Thiên Đồng Như Tịnh được một số Thiền sư như Vĩnh Giác Nguyên Hiền, Vi Lâm Đạo Bái dòng Tào Động, núi Cổ Sơn ủng hộ.

Phía lập trường khác như của Thiền sư Vị Trung Tịnh Phù, trong cuốn Phật Tổ Biên Thống thì cho rằng vốn có hai người cùng mang hiệu là Lộc Môn, một người là Lộc Môn Tịnh Nhân, đệ tử của Phù Dung Đạo Khải, một là Lộc Môn Tự Giác. , đệ tử nối pháp của Thiên Đồng Như Tịnh, cả hai từng trụ trì tại cùng một ngôi chùa nhưng sống vào thời gian khác nhau. Nhưng thực chất cả hai người vốn chỉ là một Lộc Môn Tự Giác và nối pháp Phù Dung Đạo Khải. Vị Trung cho rằng chính sử liệu về đệ tử đắc pháp của Lộc Môn Tự Giác là Phổ Chiếu Nhất Biện(1081-1149) đã làm sáng tỏ điều này:

Niên hiệu Trịnh Hòa (1111-1118), Phổ Chiếu Nhất Biện tham học với Lộc Môn Tự Giác tại Hương Châu, Lộc Môn Tự Giác khuyến khích sư đến tham vấn với thầy của Lộc Môn là Phù Dung Đạo Giai, Qua thành phố Đặng Châu, Phổ Chiếu đã có cơ hội đến yết kiến Đan Hà Tử Thuần. Từ 1119-1126, Phổ Chiếu trụ trì tại chùa Thiên Ninh, Thanh Châu, sau đó đến trụ trì tại Hoa Nghiêm tự.....Niên hiệu Hoàng Thống (1141 – 1149), Phổ Chiếu soạn hành trạng cuộc đời và viết phó chúc cho môn đệ và đến ngày thứ 20 thì viên tịch.

Suy luận từ sử liệu này, nếu như Lộc Môn Tự Giác là môn đệ của Thiên Đồng Như Tịnh, thì pháp tử của Lộc Môn là Phổ Chiếu phải sống vào khoảng giữa hoặc cuối thế kỷ 13. Vì Thiên Đồng Như Tịnh sống cuối thế kỷ 12 và đầu thế kỷ 13. Theo sử liệu cuộc đời của mình do Phổ Chiếu soạn cho môn đệ trước khi viên tịch, thì Phổ Chiếu từng sống vào đầu hoặc giữa thế kỷ 12, theo như dòng đầu của bản tiểu sử này đề cập. Thì Lộc Môn Tự Giác từng khuyến khích Phổ Chiếu Nhất Biện đến tham học với Phù Dung Đạo Khải, nghĩa là lúc đó Phù Dung vẫn còn sống. Điều này cho thấy rằng Lộc Môn Tự Giác, Phổ Chiếu Nhất Biện, Phù Dung Đạo Khải sống khoảng cùng thời gian này. Vì vậy Vị Trung Tịnh Phù cho rằng Lộc Môn là pháp tử của Phù Dung vì sống cùng một thời gian. Và nếu khảo cứu thêm thời gian của các thế hệ truyền thừa của Phổ Chiếu Nhất Biện-> Đại Minh Tăng Bảo(1114-1171) -> Vương Sơn Tăng Thế -> Tuyết Nham Như Mãn (?-1206)-> Vạn Tùng Hành Tú (1166-1246) ( tác giả Thung Dung Lục, từng là thầy của chính khách đế chế Mông Cổ, Gia Luật Sở Tài) 1190-1243) -> Tuyết Đình Phúc Dụ (1203-1275, từng làm lãnh đạo Phật Giáo, Đạo giáo dưới thời nhà Nguyên) thì càng chứng minh được việc nhận định Lộc Môn Tự Giác là đệ tử của Thiên Đồng Như Tịnh là sai về thời gian, và nếu Lộc Môn là đệ tử của Như Tịnh thì sẽ không xuất hiện các thế hệ sau như Phổ Chiếu Nhất Biện, Đại Minh Tăng Bảo, Vạn Tùng Hành Tú... Nên 5 đời pháp hệ từ Đan Hà Tử Thuần đến Thiên Đồng Như Tịnh là bị thừa và sai, nên được loại bỏ khỏi pháp hệ của Lộc Môn Tự Giác. Lộc Môn Tự Giác là đời thứ 9 Tông Tào Động chứ không phải đời thứ 14. Và nếu sửa chữa sự sai lầm này đối với sự truyền thừa Tào Động tại Việt Nam, thì Thiền sư Thông Giác Thủy NguyệtChân Dung Tông Diễn là đời pháp thứ 31 và 32 chứ không phải đời thứ 36, 37 như Thiền sư Việt Nam của HT Thanh Từ, Kế Đăng Lục của Từ Sơn... nhận định.

Truyền Thừa Tại Trung QuốcSửa đổi

1/ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới 洞山良价 (807-869)

2/ Thiền Sư Tào Sơn Bản Tịch 曹山本寂 (840-901)

3/ Thiền Sư Tào Sơn Huệ Hà
4/ Thiền Sư Lộc Môn Xử Chân
3/ Thiền Sư Việt Châu Kiều Phong

2/ Thiền sư Long Nha Cư Độn

2/ Thiền Sư Vân Cư Đạo Ưng 雲居道膺 (?-902)

2/ Thiền Sư Khuôn Nhân Sơ Sơn 疎山匡仁 (837-909)

3/ Thiền Sư Đồng An Đạo Phi 同安道丕

4/ Thiền Sư Đồng An Quán Chí 同安觀志

5/ Thiền Sư Lương Sơn Duyên Quán 梁山緣觀

6/ Thiền sư Thái Dương Cảnh Huyền 大陽警玄 (943-1027)

7/ Thiền Sư Đầu Tử Nghĩa Thanh 投子義青 (1032-1083)

8/ Thiền Sư Phù Dung Đạo Khải 芙蓉道楷 (1043-1118)

9/ Thiền Sư Đan Hà Tử Thuần 丹霞子淳 (1064-1119)

10/ Thiền Sư Hoằng Trí Chính Giác 宏智正覺 (1091-1157)
11/ Thiền Sư Tự Đắc Huệ Huy 自得慧暉 (1097-1183)
12/ Thiền Sư Minh Cực Huệ Tộ
13/ Thiền Sư Đông Cốc Minh Quang
14/ Thiền Sư Trực Ông Đức Cử
15/ Thiền Sư Đông Minh Huệ Nhật --> Truyền Tào Động Tông-Phái Hoằng Trí sang Nhật
15/ Thiền Sư Vân Ngoại Vân Tụ
16/ Thiền Sư Đông Lăng Vĩnh Dư --> Truyền Tào Động Tông-Phái Hoằng Trí sang Nhật
10/ Thiền Sư Chân Yết Thanh Liễu 真歇清了 (1090-1151)
11/ Thiền Sư Thiên Đồng Tông Giác 天童宗珏 (1091-1162)
12/ Thiền Sư Tuyết Đậu Trí Giám 雪竇智鑑 (1105-1192)
13/ Thiền Sư Thiên Đồng Như Tịnh 天童如淨 (1162-1228)
14/ Thiền Sư Đạo Nguyên Hi Huyền 日本道元 (1200-1253)-> Truyền Tào Động Tông Nhật Bản

9/ Thiền Sư Lộc Môn Tự Giác 鹿門自覺 (? - 1117) [1]

10) Thiền Sư Phổ Chiếu Nhất Biện 普照一辯 (1081-1149)

11) Thiền Sư Đại Minh Tăng Bảo 靈巖僧寶 (1114-1171)

12) Thiền Sư Vương Sơn Tăng Thế 玉山師體 (?-?)

13) Thiền Sư Tuyết Nham Như Mãn 雪巖慧滿 (?- 1206)

14) Thiền Sư Vạn Tùng Hành Tú 萬松行秀 (1166-1246)

15) Thiền Sư Tuyết Đình Phúc Dụ 雪庭福裕 (1203-1275)

16) Thiền Sư Linh Ản Văn Thái 靈隱文泰 (?-1289)

17) Thiền Sư Hoàn Nguyên Phúc Ngộ 還源福遇 (1245-1313)

18) Thiền Sư Thuần Chuyết Văn Tài 淳拙文才 (1273-1352)

19) Thiền Sư Tùng Đình Tử Nghiêm 松庭子嚴(1323-1392)

20) Thiền Sư Ngưng Nhiên Liễu Cải 凝然了改 (1335-1421)

21) Thiền Sư Diện Tông Bản --> Tào Động Tông Hàn Quốc

21) Thiền Sư Câu Không Khế Bân 俱空契斌 (1383-1452)

22) Thiền Sư Vô Phương Khả Tùng 無方可從 (1420-1483)

23) Thiền Sư Nguyệt Chu Văn Tải 月舟文載 (1452-1524)

24) Thiền Sư Đại Chương Tông Thư 宗鏡宗書 (1500-1567)

25) Thiền Sư Uẩn Không Thường Trung 蘊空常忠 (1514-1588)

26/ Thiền Sư Vô Minh Tuệ Kinh 無明慧經(1548-1618) -> Thọ Xương Pháp Phái
27/ Thiền Sư Bác Sơn Nguyên Lai (dòng Bác Sơn) 博山元來 (博山糸) (1575-1630)
28/ Thiền Sư Tuyết Quang Đạo Ngân (1585-1637)
28/ Thiền Sư Tung Ngũ Đạo Mật (1588- 1658)
29/ Thiền Sư Nam Am Đại y (1617- 1683)
30/ Thiền Sư Tử Thành Truyền Toại (1632- 1660)
30/ Thiền Sư Nghĩa Vân Hưng Triệt (1635- ?)
30/ Thiền Sư Cổ Nham Hưng Hoàn
30/ Thiền Sư Đồng Truyền Cầu Dục (1638- 1685)
29/ Thiền Sư Linh Thụy Hoằng Đàm (1602- 1671)
29/ Thiền Sư Sơn Dữu Hoằng Năng
29/ Thiền Sư Linh Diễm Hoằng Chúc (1610- 1683)
29/ Thiền Sư Phá Nham Hoằng Kế (1605- 1688)
30/ Thiền Sư Từ Hiền Hưng Kỳ
28/ Thiền Sư Không Ẩn Tông Bảo (1600- 1661)
27/ Thiền Sư Hối Đài Nguyên Cảnh (1577-1630)
28/ Thiền Sư Giác Lãng Đạo Thịnh
29/ Thiền Sư Khoát Đường Đại Văn
30/ Thiền Sư Tâm Việt Hưng Thù --> Truyền Tào Động Tông sang Nhật
29/ Thiền Sư Trúc Am Đại Thành.
27/ Thiền Sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền(dòng Cổ Sơn) 鼓山元賢 (鼓山糸) (1578-1657)
28/ Thiền Sư Duy Tĩnh Đạo An (1617- 1688)
28/ Thiền Sư Vi Lâm Đạo Bái
29/ Thiền Sư Hằng Đào Đại Tâm (1652- 1728)
30/ Thiền Sư Biến Chiếu Hưng Long
31/ Thiền Sư Thanh Thuần Pháp Hậu
32/ Thiền Sư Đông Sơn Giới Sơ
33/ Thiền Sư Đạo Nguyên Nhất Tín
34/ Thiền Sư Liễu Đường Đỉnh Triệt

25) Thiền Sư Huyễn Hữu Thường Thuận 幻休常潤 (?-1585)

26) Thiền Sư Từ Chu Phương Niệm 慈舟方念 (?-1594)

27) Thiền Sư Trạm Nhiên Viên Trừng 雲門圓澄 (1561-1626)

28) Thiền Sư Thạch Vũ Minh Phương (1593-1648)

29) Thiền Sư Thiên Ngu Tịnh Bảo (1609- 1675)
29) Thiền Sư Viễn Môn Tịnh Trụ (1601- 1654)
29) Thiền Sư Vị Trung Tịnh Phù

28) Thiền Sư Tam Nghi Minh Vu (1599-1665)

29) Thiền Sư Đa Phúc Tịnh Khải (?- 1674)
29) Thiền Sư Tam Tật Tịnh Phủ (?- 1660)

28) Thiền Sư Nhĩ Mật Minh Phục (1591-1642)

28) Thiền Sư Thụy Bạch Minh Tuyết 瑞白明雪 (1584-1641)

29) Thiền Sư Phan Quang Tịnh Xán (1600-1658)

29) Thiền SƯ Cửu Mặc Đại Âm (1593- 1642)

29) Thiền Sư Cô Nhai Tịnh Thông (1591- 1647)

29) Thiền Sư Nguyên Khiết Tịnh Oánh (1612- 1672)

29) Thiền Sư Vân Tông Tịnh Nột (1610- 1673)

29) Thiền Sư Ban Nhã Tịnh Lữ (1607-1669)

29) Thiền Sư Phá Ám Tịnh Đăng

30) Thiền Sư Cổ Tiều Trí Tiên

29) Thiền Sư An Kiết Tử Mai Tịnh Chu (?-?)

30) Thiền Sư Phượng Hoàng Nhất Cú Trí Giáo 一句智教 (?-?)

Truyền Thừa Tại Việt NamSửa đổi

Miền Bắc

31. Thiền Sư Thông Giác Thủy Nguyệt, Đạo Nam Quốc Sư [2] (1637 - 1704)

32. Thiền Sư Chân Dung Tông Diễn, Đại Tuệ Quốc Sư, Nhục Thân Bồ Tát Đại Thừa (1640 - 1711)

33. Thiền Sư Từ Sơn Hành Nhất (1681-1737)

34. Thiền Sư Tính Chúc Đạo Chu (1698- 1775)

35. Thiền Sư Hải Điện Mật Đa

36. Thiền Sư Khoan Dục Phổ Chiếu

37. Thiền Sư Thanh Đàm Minh Chính

Miền Trung

29. Thiền Sư Thạch Liêm Đại Sán.

Miền Nam

47. Thiền Sư Duy Lực Giác Khai(Thích Duy Lực)

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Trong nhiều sách thiền phả hệ ở Trung Quốc như Phật Tổ Đạo Ảnh hay Kế Đăng Lục của Việt Nam đều ghi Lộc Môn Tự Giác là đệ tử đời thứ năm của Đơn Hà Tử Thuần, nối pháp Thiên Đồng Như Tịnh. Nhưng Lộc Môn Tự Giác sống trước thời Thiên Đồng Như Tịnh hơn 100 năm thì sao có thể là đệ tử Như Tịnh được? Rất nhiều chùa Tào Động ở Ngoài Bắc Việt Nam vẫn còn nhầm lẫn về thế hệ tông phái, viết dư 5 đời từ Đan Hà Tử Thuần đến Thiên Đồng Như Tịnh mà không khảo cứu biên niên kỹ càng.
  2. ^ Những vị không có tư cách thiền sư sẽ không được ghi vào đây. 1) Phải là người tu theo tông chỉ, phương pháp đốn ngộ của Thiền Tông. 2) Đã minh tâm kiến tính, triệt ngộ 3) Được thầy đã kiến tính ấn chứng và truyền pháp(có thể bỏ qua)

Tham khảoSửa đổi

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-guang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Động Thượng Cổ Triệt, Quyển Thượng: Thiền Sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền sáng tác, đệ tử Thiền Sư Vi Lâm Đạo Bái biên soạn
  • Tào Động Nam Truyền Tổ Sư Ngữ Lục- Thiền Sư Đạo Nguyên Thanh Lãng biên soạn, sa môn Thích Tiến Đạt dịch.
  • Thiền Uyển Kế Đăng Lục- Thiền Sư Như Sơn soạn, Thích Thiện Phước dịch
  • Pháp Nhãn Thiền Sư Thập Quy Tụng, Pháp Nhãn Văn Ích Thiền Sư soan.
  • Động Sơn Thiền Sư Ngữ Lục, môn đệ Thiền Sư Động Sơn soạn.
  • Lịch sử Thiền Tông Trung Quốc
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán


  1. ^ Trong nhiều sách thiền phả hệ ở Trung Quốc như Phật Tổ Đạo Ảnh hay Kế Đăng Lục của Việt Nam đều ghi Lộc Môn Tự Giác là đệ tử đời thứ năm của Đơn Hà Tử Thuần, nối pháp Thiên Đồng Như Tịnh. Nhưng Lộc Môn Tự Giác sống trước thời Thiên Đồng Như Tịnh hơn 100 năm thì sao có thể là đệ tử Như Tịnh được? Rất nhiều chùa Tào Động ở Ngoài Bắc Việt Nam vẫn còn nhầm lẫn về thế hệ tông phái, viết dư 5 đời từ Đan Hà Tử Thuần đến Thiên Đồng Như Tịnh mà không khảo cứu biên niên kỹ càng.
  2. ^ Những vị không có tư cách thiền sư sẽ không được ghi vào đây. 1) Phải là người tu theo tông chỉ, phương pháp đốn ngộ của Thiền Tông. 2) Đã minh tâm kiến tính, triệt ngộ 3) Được thầy đã kiến tính ấn chứng và truyền pháp(có thể bỏ qua)